phần Mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, phần nội dung của luận văn bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận – Trình bày các vấn đề lý thuyết có liên quan đến đề tài. Chƣơng 2: Đặc điểm củađịa danh trong tác phẩm Thượng Kinh ký sự - Trong chƣơng này, luận văn chủ yếu phân tích các đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của các địa danh có trong tác phẩm Thượng Kinh ký sự. Chƣơng 3:Sự biến đổi của địa danh trong tác phẩm Thượng Kinh ký sự- Nội dung của chƣơng này tập trung vào việc so sánh và phân tích sự biến đổi của các địa danh, từ đó góp phần chỉ ra các đặc điểm văn hóa, lịch sử của phản ánh thông qua các địa danh ấy. 10 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.
Cơ sở lý luận về địa danh 1. Định nghĩa về địa danh Địa danh học là một ngành khoa học đã và đang nhận đƣợc nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu thuộc các khu vực khác nhau, thuộc các lĩnh vực khác nhau. Mỗi tác giả, từ các cách tiếp cận khác nhau đã đƣa ra các khái niệm, các quan điểm của từng tác giả về địa danh. Địa danh theo quan điểm của nhóm chuyên gia Liên hợp quốc (United Nations Group of Experts on Geographical Names – UNGEGN) đƣợc hiểu nhƣ sau: “Địa danh là tên gọi của một đối tượng trên mặt đất.
Về mặt nguyên tắc, địa danh là tên riêng (gồm 1 từ, nhiều từ hoặc ngữ) được dùng một cách nhất quán trong ngôn ngữ để chỉ một địa điểm, một đối tượng hoặc một vùng cụ thể có vị trí có thể nhận biết được trên trái đất. Các đối tượng có thể là các điểm dân cư (ví dụ thành phố, thị trấn, làng), các đơn vị hành chính lãnh thổ (ví dụ bang, tỉnh, huyện), các đối tượng tự nhiên (ví dụ sông, núi, mũi đất, hồ, biển), các đối tượng xây dựng (ví dụ đập, sân bay, đường xá), các địa điểm hay vùng có ranh giới không xác định (ví dụ cánh rừng, ngư trường)” [5, tr. Theo tác giả Nga A. Superanskyja “Địa danh là tên gọi các đặc điểm được biểu thị bằng những tên riêng.
Đó là các tên gọi địa lý, địa danh hay toponimia”(Dẫn theo [24, tr.Kert (2002) thì “địa danh là tên gọi được đặt cho các đối tượng địa lý, ra đời trong một khu vực có người sinh sống, được tạo ra bởi một cộng đồng dân cư, một tộc người. Chúng là một phần không thể thiếu được trong cuộc sống hàng ngày và các hoạt động chính trị, xã hội ở nơi đó” (Dẫn theo [45, tr. 11 z Đó là quan niệm của các nhà địa danh học trên thế giới, còn ở Việt Nam, mối quan tâm về địa danh học cũng có những hƣớng đi khác nhau. Mỗi hƣớng tiếp cận đó lại mang lại những quan điểm khác nhau về địa danh.
Trên quan điểm tiếp cận nghiên cứu địa danh theo hƣớng tiếp cận của các nhà văn học học – địa lý học, thì “Địa danh là một phạm trù văn hóa. Nó xuất hiện và tồn tại hàng trăm, hàng nghìn năm. Đó là những tấm bia lịch sử bằng ngôn ngữ. Nó góp phần soi sáng một mảng lịch sử của một vùng đất, một khu vực hay một quốc gia” [33, tr.
Theo quan niệm này, địa danh là một bộ phận của văn hóa. Theo tác giả Nguyễn Văn Âu, “Địa danh là tên đất, gồm tên sông, núi, làng, hay tên các địa phương, các dân tộc… [2, tr. Đồng thời, vào năm 2008 trong cuốn sách Một số vấn đề về địa danh học Việt Nam, tác giả cũng đã cho biết thuật ngữ “địa danh” xuất phát từ tiếng Hy Lạp: Topos (là địa phƣơng) và Onoma (là tên gọi). Dó đó có thể định nghĩa chung hơn là: “Địa danh học (Toponymie) là một bộ môn khoa học chuyên nghiên cứu về tên địa lý các địa phương” [3,tr.
Đó là cách tiếp cận nghiên cứu địa địa danh theo hƣớng địa lý – văn hóa. Trong các cuốn từ điển, các tác giả cũng đã đƣa ra những quan niệm của mình về địa danh. Trong cuốn Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh cho rằng địa danh là “tên các miền đất” [1,tr. Từ điển Bách khoa Việt Nam giải thích “Địa danh là tên gọi các lãnh thổ, các điểm quần cư (làng, xã, huyện, tỉnh, thành phố), các điểm kinh tế (vùng nông thôn, khu công nghiệp, các quốc gia, các châu lục, các núi, đèo, cao nguyên, thung lũng, đồng bằng, châu thổ, sông, hồ, vũng, vịnh, biển, eo biển, đại dương có tọa độ địa lý nhất định ghi lại trên bản đồ.
Địa danh có thể phản ánh các quá trình hình thành, đặc điểm của các yếu tố tự nhiên, lịch sử với những nét đặc sắc về kinh tế, xã hội của các lãnh thổ” [43, tr. Tác giả Hoàng Thị Châu (2007), cho rằng “Địa danh hay là tên địa lý (topponym, geographical names), là tên vùng hay tên sông, tên núi, tên gọi 12 z các đối tượng địa hình khác nhau, tên nơi cư trú, tên hành chính… do con người đặt ra. Qua những thông tin đó có thể nhận ra được những thông tin về tinh thần, văn hóa, xã hội, lịch sử, ngôn ngữ và chính trị”.10] Với tác giả Hoàng Tất Thắng, “Địa danh là tên gọi của địa hình thiên nhiên, các công trình xây dựng, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ nào đó”, có nghĩa là “xét về bản chất cấu tạo, là một đơn vị từ ngữ, có chức năng định danh sự vật, do đó, địa danh là một bộ phận của từ vựng” và “Địa danh không chỉ là đối tượng của từ vựng học mà còn là tài liệu nghiên cứu của ngữ âm học. Bởi địa danh được cấu tạo bởi những đơn vị ngữ âm, chịu sự tác động của các quy luật ngữ âm” [28].
Với quan niệm này thì tác giả quan tâm đến tính chất định danh của đối tƣợng mà mình gọi tên. Cũng đi theo hƣớng tiếp cận nghiên cứu địa danh của ngôn ngữ học, Lê Trung Hoa đã căn cứ vào tiêu chí tự nhiên và không tự nhiên đƣa ra định nghĩa “Địa danh là từ hoặc ngữ cố định, được dùng làm tên riêng của địa hình tự nhiên, các công trình xây dựng, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ” [16, tr. Ngoài các sách, tạp chí cũng nhƣ từ điển, trong các luận án, luận văn nghiên cứu ngôn ngữ học, các tác giả cũng đã đƣa ra đƣợc những quan niệm cho riêng mình về địa danh.Với tác giả Nguyễn Phƣơng Thảo (1985) thì địa danh “là những từ ngữ, những mẩu ngôn ngữ nhất định của một dân tộc để chỉ đất đai, sông núi, làng xóm nơi con người cư trú” [tr. Ở đây, tác giả quan niệm, địa danh là cách đặt tên của một dân tộc, một vùng đất nào đó nơi có con ngƣời đang sinh sống.
Theo tác giả Nguyễn Kiên Trƣờng (1996), “Địa danh là tên riêng chỉ các đối tượng địa lý tự nhiên và nhân văn có vị trí xác định trên bề mặt trái đất” [34, tr. Trong luận văn Khảo sát địa danh tỉnh Lào Cai trên bản đồ Bone (so sánh với bản đồ quốc gia cùng tỉ lệ 1/100000 của tác giả Đặng Văn 13 z Thịnh(2017) thì địa danh đƣợc định nghĩa là “là tên riêng được dùng để ghi trên bản đồ theo nguyên tắc nhất định, dùng để chỉ địa hình tự nhiên và các đơn vị dân cư khác nhau. Trước địa danh là một thành tố chung chỉ loại địa danh ấy”. Nhƣ vậy, qua kết quả tổng hợp để hiểu về khái niệm địa danh, có thể thấy đƣợc với mỗi một khu vực, mỗi tác giả, mỗi cách tiếp cận khác nhau lại mang đến một cách hiểu, cách lý giải khác nhau về địa danh.
Và để làm cơ sở căn cứ xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu luận văn, theo quan điểm của tôi, khái niệm địa danh có thể hiểu là tên riêng, tên gọi đƣợc đặt cho các đối tƣợng địa lý có thể là từ hoặc ngữ cố định. Các đối tƣợng đó gồm các địa hình tự nhiên, các công trình xây dựng, các đơn vị hành chính và các vùng lãnh thổ. Địa danh ngoài chức năng định danh còn có hàm chứa các thông tin liên quan đặc điểm văn hóa, lịch sử của đối tƣợng địa lý đó. Phân loại địa danh Từ các quan niệm khác nhau về địa danh, mỗi nhà nghiên cứu lại có cách phân loại địa danh khác nhau.
Sự khác nhau dựa trên cách tiếp cận cũng nhƣ mục đích nghiên cứu khác nhau, từ đó các tác giả đã đƣa ra các cách phân loại địa danh nhƣ sau: 1. Phân loại địa danh trên thế giới Trên thế giới, các nhà nghiên cứu địa danh chủ yếu phân loại dựa trên tiêu chí nguồn gốc và đối tƣợng của địa danh. Trƣớc tiên, phải kể đến cách phân loại của tác giả ngƣời Pháp A. Dauzat trong La toponymie Francaise (1948) đã dựa vào nguồn gốc của địa danh và chia làm bốn phần: (1) Vấn đề những cơ sở tiền Ấn – Âu (2) Các danh từ tiền La tinh về nƣớc trong thủy danh học (3) Các từ nguyên Gô Loa – La Mã (4) Địa danh học Gô Loa – La Mã của vùng Auvergne 14 z (Dẫn theo[13, tr.
17]) Tiếp đến là cách phân loại của tác giả CH. Rostaing, tác giả cũng đã phân loại dựa theo nguồn gốc và đối tƣợng của địa danh và đã chia ra thành mƣời một chƣơng: (1) Những cơ sở tiền Ấn – Âu (2) Các lớp tiền Xêntich (3) Lớp Gô – Loa (4) Những phạm vi Gô Loa – La Mã (5) Các sự hình thành La Mã (6) Những đóng góp của tiếng Giéc – Manh (7) Các hình thức của thời phong kiến (8) Những danh từ có nguồn gốc tôn giáo (9) Những hình thái hiện đại (10) Các địa danh và tên đƣờng phố (11) Tên sông và núi (Dẫn theo[13,tr.17]) Thêm một cách phân loại chuyên sâu hơn, đó là cách phân loại dựa vào nội dung của địa danh, có nghĩa là phân loại địa danh theo đối tƣợng mà địa danh biểu thị. Superanskaija chia địa danh thành tám loại: (1) Phƣơng danh (5) Lộ danh (2) Thủy danh (6) Viên danh (3) Sơn danh (7) Đạo danh (4) Phố danh (8) Nơi cƣ dân ít Hay nhƣ tác giả G. Gorbanheski trong tác phẩm Địa danh Matxcơva đã chia địa danh thành bốn loại: (1) Phƣơng danh (tên gọi các điểm dân cƣ) (2) Thủy danh (3) Sơn danh (4) Phố danh (tên gọi các đối tƣợng trong thành phố).
15 z (Dẫn theo [37, tr. Phân loại địa danh ở Việt Nam Ở Việt Nam, ngƣời đầu tiên đặt nền móng đề cập đến vấn đề này một cách chính thức vào năm 1967 của các giả Hoàng Thị Châu trong tác phẩm Nghiên cứu lịch sử.