CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ CHÙA HỘI KHÁNH 1. QUÁ TRÌNH DU NHẬP PHẬT GIÁO VÀO BÌNH DƯƠNG Phật giáo du nhập vào Việt Nam vào những năm đầu công nguyên và phát triển cực thịnh trong các triều đại Lý – Trần và đặc biệt trở thành văn hóa Phật giáo bản địa cùng đồng hành với dân tộc Việt Nam qua từng giai đoạn lịch sử. “Dân Việt tiến tới đâu thì Phật giáo xuất hiện theo đó, nơi đâu có dân Việt thì có chùa đình, đền miếu, có tăng sĩ theo hoằng dương pháp Phật, giúp đỡ tinh thần cho lớp người di dân gặp nhiều khốn khổ, khó khăn”1. Trong lịch sử Việt Nam giai đoạn Trịnh – Nguyễn phân tranh, nhà Nguyễn bắt đầu công cuộc mở mang vùng đất phía Nam của Tổ quốc (năm 1611) là mốc quan trọng ảnh hưởng đến lịch sử của Phật giáo đồng thời đây cũng là sự kiện làm tiền đề cho sự phát triển Phật giáo mang đậm nét đặc trưng riêng của Nam Bộ.
Trong quá trình khai hoang vùng đất mới, vùng đất được mệnh danh là “rừng thiêng nước độc”, Phật giáo đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của người dân nơi đây, đồng thời Phật giáo được nhà Nguyễn quan tâm và tạo điều kiện phát triển. Minh chứng là vào thời “Chúa Nguyễn Phước Trăn (1678 – 1691) đã nhờ thiền sư Nguyên Thiều sang Trung Hoa cung thịnh các danh tăng và các đệ tự của tổ, cung thịnh pháp khí, pháp tượng… Về truyền dạy cho nhân dân”2. Do đó, Phật giáo xứ Đàng Trong ngày càng phát triển được thể hiện qua tín đồ theo đạo Phật ngày càng đông. Bên cạnh đó, vào thế kỷ XVII, tại Trung Quốc nhà Thanh được xác lập.
Làn sóng “phản Thanh, phục Minh” dẫn đến sự di dân của Trung Hoa theo đường thủy đến vùng đất Nam Bộ, có nhiều thành phần di cư đến vùng đất này trong đó có cả danh tăng theo dòng Lâm Tế, Tào Động… Họ đến để tìm nơi cư trú, đồng thời để đáp ứng nhu cầu về mặt tâm linh và chỗ dựa tinh thần cho việc lập nghiệp vùng đất mới của người dân ở đây, từ đó các danh tăng bắt đầu hoằng pháp và truyền giáo. Điều đó cho thấy tín đồ Phật giáo phái Lâm Tế, Tào Động ngày càng đông ở vùng đất Nam Bộ. Như vậy, Phật giáo có mặt ở vùng đất Nam Bộ từ những năm đầu của thế kỷ XVII, do các tăng sĩ người Việt từ miền Trung theo con đường Nam tiến của nhà Nguyễn cũng như các danh tăng Trung Hoa trong những năm loạn lạc đã di cư đến vùng đất này, gặp những điều kiện thuận lợi “đặc biệt là chúa Nguyễn Phước Chu, vị 1 Nguyễn Hiền Đức (CB), (2002), Lịch sử Phật giáo Đàng Trong, Nxb TP HCM, trang 1. 2 UBND tỉnh Bình Dương, (2010) Địa chí Bình Dương (tập 4), NXB chinh trị Quốc gia, HN, trang 77.
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN SVTH: NGUYỄN HỒNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT 8 GVHD: T.S NGUYỄN PHƯƠNG LAN Vua sùng đạo Phật vào bậc nhất, đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời nhiều ngôi chùa mới ở Nam Bộ”3 nên bước đầu đã định hình nền Phật giáo của người Việt ở vùng đất này. Trong cuộc khẩn hoang vùng đất phương Nam của chúa Nguyễn, Bình Dương lúc bấy giờ là địa phận tổng Bình An, huyện Phước Long, dinh Tấn Biên (năm 1948) thuộc vùng đất Đông Nam Bộ. Nhưng để khẳng định Phật giáo chính thức có mặt trên vùng đất Bình Dương đó là sự hình thành các am cốc để truyền bá Phật pháp sau này mở rộng ra và hình thành nên các ngôi chùa. Vào khoảng giữa thế kỷ XVII nhiều ngôi chùa xuất hiện ở Bình Dương do cư dân địa phương lúc này đã có những ảnh hưởng nhất định về Phật giáo.
Đồng thời các dân di cư từ Trung Hoa sang mang ảnh hưởng sâu đậm Phật giáo từ quê hương của họ nên khi đặt chân lên vùng đất mới họ liền lập am thờ Phật để tôn thờ truyền thống tôn giáo Phật giáo và để cầu bình an cho gia đình của họ lập nghiệp trên vùng đất mới. Do đó Phật giáo vùng đất này ngày càng phát triển. Những ngôi chùa đầu tiên tại vùng đất Bình Dương như chùa núi Chấu Thới (Dĩ An ngày nay) – ngôi chùa được xem là ngôi chùa hình thành sớm hàng đầu Nam Bộ (nửa sau thế kỷ XVII) do thiền sư Khánh Long lập thảo am nhỏ để tu hành. “Thảo am được gọi là chùa Hội Sơn sau đổi thành chùa núi Châu Thới”4.
Các ngôi chùa ở Bình Dương được hình thành không chỉ do các cao tăng lập am tu hành để truyền đạo, đáp ứng nhu cầu tâm linh cho người dân mà còn có một gia đình điền chủ là bà Phan Thị Khai (tục gọi là bà Thao) do có niềm tin vào đạo Phật nên gia đình bà bỏ tiền ra để xây dựng chùa năm 1695 tại làng Dư Khánh (xã Thạnh Phước, Tân Uyên ngày nay) – chùa Hưng Long Tự. Việc bà Thao xây dựng chùa trước tiên để cầu phúc cho gia đình, sau đó đáp ứng nhu cầu tâm linh của người dân địa phương ở vùng đất mới. Năm 1802 bà Thao cho đúc pho tượng A – di – đà bằng đồng “tượng Phật trong tư thế tọa thiền cao 1 mét, tượng có một nét mỹ thuật cân đối, tinh xảo”5. Đây là pho tượng Phật được đúc sớm nhất tại vùng đất Bình Dương.
Chùa do gia đình bà Thao xây dựng nên không có trụ trì. Năm 1806, Phật giáo có bước phát triển, các cao tăng đi truyền giáo khắp nơi và cùng thời gian này trên vùng đất Dư Khánh xuất hiện hai vị thiền sư uyên thâm kinh luật là Quang Cơ – Minh Lý và 3 PSG.TS Trần Hồng Liên, (2004) “Góp phần tìm hiểu Phật giáo Nam Bộ”, Nxb KHXH, HN, trang 32 4 Thích Huệ Thông, (2000), “Sơ thảo Phật giáo Bình Dương”, NXB Mũi Cà Mau, trang 22. 5 Thích Huệ Thông, Sơ thảo Phật giáo Bình Dương, Sđd, trang 34 -35. NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN SVTH: NGUYỄN HỒNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT 9 GVHD: T.S NGUYỄN PHƯƠNG LAN Bảo Châu – Minh Tịnh.
“Thấy hai vị tướng hảo trang nghiêm nên dân chúng làng Dư Khánh thịnh về trụ trì chùa Hưng Long”6. Tại vùng đất Thủ Dầu Một, Phú Cường (trung tâm kinh tế - văn hóa Bình Dương ngày nay) nằm ở phía Tây của dinh Trấn Biên thuộc huyện Phước Long. Vào năm 1741 năm Cảnh Hưng thứ hai đời Vua Lê Hiển Tông, thiền sư Đại Ngạn trên bước đường vân du truyền đạo, và đặt chân đến vùng đất này lập am tu hành, truyền bá đạo Phật, và thiền sư ngày càng thu nạp nhiều tín đồ mở rộng am tu hành và hình thành nên chùa – chùa Hội Khánh. Cùng với chùa núi Châu Thới (Dĩ An), chùa Hưng Long (Tân Uyên) là chùa Hội Khánh (Phú Cường - Thủ Dầu Một).
Đây là 3 ngôi chùa được hình thành sớm ở Bình Dương (nhưng xét về trụ trì thì chùa Hội Khánh có sớm nhất, trong khi chùa núi Châu Thới và chùa Hưng Long tuy hình thành sớm nhưng sau này mới được dân làng cung thỉnh lên làm trụ trì) và được xếp vào hàng cổ tự của Nam Bộ, với những danh lam cũng như các đặc điểm nổi tiếng về lịch sử, văn hóa, kiến trúc của vùng đất Nam Bộ nói chung và Bình Dương nói riêng. Phật giáo xứ Đàng Trong ngày càng phát triển, nên ở Bình Dương, sau chùa Hội Khánh có nhiều ngôi chùa khác được xây dựng khang trang như chùa Long Thọ xây dựng năm 1756 (ở Chánh Nghĩa - Thủ Dầu Một ngày nay), chùa Long Hưng xây dựng năm 1768 (Thới Hòa - Bến Cát), chùa Thiên Tôn xây dựng năm 1777 (An Thạnh - Thuận An). Các ngôi chùa được xây dựng tại vùng đất Bình Dương, vào nửa sau thế kỷ XVII, theo con đường khai phá vùng đất mới của chúa Nguyễn cho thấy sự phát triển Phật giáo ở vùng đất này và vai trò của các ngôi chùa ngày càng được khẳng định trong đời sống sinh hoạt của người dân địa phương trong những ngày đầu an cư lập nghiệp. Phật giáo ở vùng đất Bình Dương, “với giáo lý cởi mở, dễ hòa nhập, cửa Phật mở rộng, người dân đến với Phật giáo một cách tự nhiên làm cho Phật giáo ngày càng có xu hướng hòa quyện với tín ngưỡng dân gian nên tín đồ Phật giáo tăng lên nhanh chóng.
Hơn nữa, do nguồn gốc, phương cách và thời gian Phật giáo du nhập vào Bình Dương khác nhau đem lại cho cư dân ở đây sự phong phú, đa dạng về tín ngưỡng và đó cũng chính là lý do để các tông Phái Phật giáo lần lượt ra đời”7 6 Thích Huệ Thông, Sơ thảo Phật giáo Bình Dương, Sđd, trang 36 7 UBND tỉnh Bình Dương (2010), Địa chí Bình Dương, Sđd, trang 78 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN SVTH: NGUYỄN HỒNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT 10 GVHD: T.S NGUYỄN PHƯƠNG LAN Như vậy, trong cuộc khai hoang vùng đất mới, các chúa Nguyễn Đàng Trong có lòng tin vào Phật giáo và muốn phát triển Phật giáo vùng đất này nên đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc truyền bá đạo Phật và xây dựng cũng như trùng tu lại các ngôi chùa chùa. Vùng đất Bình Dương Phật giáo bước đầu hình thành và phát triển qua việc xây dựng các ngôi chùa (chùa núi Châu Thới, chùa Hưng Long, chùa Hội Khánh.) và Phật giáo ngày càng đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng sâu sắc đến nền văn hóa vùng đất mới. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CHÙA HỘI KHÁNH Theo con đường truyền đạo vào vùng đất mới, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738 - 1765). Năm 1741 thiền sư Đại Ngạn 8 trên con đường vân du truyền đạo, đã đặt chân lên ngọn đồi thuộc ấp Bổng Dầu, tổng Bình An, huyện Phước Long, dinh Trấn Biên (Phú Cường, Thủ Dầu Một, Bình Dương ngày nay), lúc này ở đây là vùng đất còn hoang sơ, rừng rậm chưa được khai phá, dân cư thì ít, tuy nhiên người dân ở đây có lòng tin vào Phật giáo (do người dân ở đây luôn phải đối mặt với thú dữ và bệnh tật nên họ mong muốn có một chỗ dựa tinh thần ở nơi cửa Phật) cho nên việc truyền đạo của ngài trở nên thuận lợi.
Lúc đầu thiền sư Đại Ngạn chỉ lập nên am tranh để truyền đạo, về sau tín đồ ngày càng đông hình thành nên chùa – chùa Hội Khánh. Quá trình phát triển của chùa Hội Khánh gắn liền với sự biến đổi từng giai đoạn lịch sử của đất nước cũng như trải qua các vị trụ trì đã có những đóng góp cho việc xây dựng cũng như trùng tu lại cho ngôi chùa.