phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được cấu trúc gồm 3 chương: Chƣơng 1: Quá trình hình thành và phát triển của vùng đất Hồi Xuân Chƣơng 2: Di sản văn hoá vật thể vùng đất Hồi Xuân Chƣơng 3: Di sản văn hoá phi vật thể vùng đất Hồi Xuân 8 Chƣơng 1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA VÙNG ĐẤT HỒI XUÂN 1. Tổng quan về huyện Quan Hóa Quan Hóa là một huyện vùng núi cao, nằm ở phía Tây tỉnh Thanh Hóa. Phía Bắc giáp huyện Mộc Châu (Sơn La), Mai Châu (Hòa Bình), phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn (Lào), phía Nam giáp huyện Mường Pao (Lào) và xã Lê Lai, yên Khương (Lang Chánh); Phía Đông giáp xã Quốc Thành, Ban Công, Văn Nho (Bá Thước).
Huyện có diện tích rộng 227.678 ha [8; tr 11] Là một huyện vùng cao với đặc trưng nổi bật về điều kiện tự nhiên từ xưa mảnh đất này đã là nơi thu hút và hội tụ sinh sống của nhiều dân tộc như Thái, Mường, Kinh, H. Tổ chức hành chính của huyện Quan Hóa gồm 17 xã: Hiền Chung, Hiền Kiệt, Hồi Xuân, Nam Động, Nam Tiến, Nam Xuân, Phú Lệ, Phú Nghiêm, Phú Sơn, Phú Thanh, Phú Xuân, Thành Sơn, Thanh Xuân, Thiên Phủ, Trung Sơn, Trung Thành, Xuân Phú và thị trấn Quan Hóa với 123 chòm bản. Theo Nghị quyết 30a của Chính phủ Quan Hóa là 01 trong 62 huyện nghèo [57]. Trong những năm qua được sự quan tâm của Trung ương, tỉnh nhiều chủ trương, chính sách được đầu tư vào huyện đã làm thay đổi căn bản hệ thống cơ sở hạ tầng, đời sống của nhân dân, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, an ninh biên giới, lãnh thổ tương đối ổn định.
Phấn đấu đến năm 2020, đưa Quan Hóa trở thành huyện khá của tỉnh. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và dân cƣ Xã Hồi Xuân 1. Vị trí địa lý, dân cư Xã Hồi Xuân nằm ngay trung tâm huyện Quan Hóa; Phía Đông giáp xã Phú Nghiêm (Quan Hóa), xã Thành Lâm (Bá Thước); Phía Tây giáp xã Nam Xuân (Quan Hóa), xã Trung Xuân (Quan Sơn); Phía Nam giáp thị trấn Quan 9 Hóa; Phía Bắc giáp xã Thanh Xuân. Tổng diện tích tự nhiên: 6.
Trong đó diện tích đất lâm nghiệp là 6. Đất sản xuất nông nghiệp là 83,62ha, đất phi nông nghiệp là 332,56ha. Xã Hồi Xuân có 860 hộ, với 3.748 khẩu, trong đó Nam: 1.886 người, Nữ 1.882 người, dân số trong độ tuổi lao động 1.458 người bằng 39 %, mật độ dân số 54 người/km2 ( 2017) [7; tr 5]. Người dân xã Hồi Xuân sống chủ yếu dọc theo hai tuyến đường: Tuyến đường quốc lộ 15A và tuyến đường từ thị Trấn Quan Hóa vào Bản Khó, Bản Nghèo, Riêng Bản Cốc dân sống dọc theo bên hữu ngạn sông Mã.
Điều kiện tự nhiên - Về địa hình: Hồi Xuân là xã miền núi cao có địa hình bị chia cắt mạnh, không đồng nhất, cao thấp xen kẽ nhau và có sự chênh lệch về độ cao rất lớn, điều đó ảnh hưởng nhiều đến việc điều tiết nước tưới và hình thành các vùng thâm canh, giao thông, thủy lợi. - Khí hậu: Có lượng mưa trung bình hàng năm lớn, độ ẩm cao, lượng chiếu sáng lớn, chia thành 2 mùa rõ rệt và thay đổi thất thường. Nhiệt độ trung bình hàng năm xấp xỉ 23Co. Do ảnh hưởng của địa hình nên thời gian chiếu sáng trong các thung lũng ngắn.
- Về đất đai: Có các loại đất như đất mùn vàng đỏ trên núi thích hợp với cây lâm nghiệp và rừng tự nhiên; đất vàng nhạt trên đá macma axit thích hợp với cây ăn quả, cây công nghiệp; đất nâu đỏ phát triển trên đá macma bazo và trung tính thích hợp với cây công nghiệp; đất lầy, than bùn thích hợp cho việc phát triển đồng cỏ. - Hệ thống sông, suối lớn chảy qua trên địa bàn xã: Có các con sông lớn như: Sông Mã, Sông Luồng, Sông Lò; hệ thống suối dày đặc như: suối Luồng( Bản Nghèo), suối Tằn( Bản Khó), suối Cuốn và suối Hu Mạ ( bản Ban), Suối Mướp ( Bản Mướp), Suối Tọi ( Bản Cốc). 10 - Hệ thống đồi, núi đá, núi đất, độ cao của núi trong địa bàn xã: Hệ thống đồi, núi, núi đá, núi đất trên địa bàn xã tương đối nhiều tập trung rải rác ở các bản trừ khu phố Hồi Xuân cụ thể: Núi Pù Luông, núi Pha Tằn (ATK của bệnh viện Quan Hóa từ 1964-1968); núi Pha Khó; núi Hang Nghiêm (nơi cung cấp diêm sinh tự nhiên và là nơi ATK của cơ quan huyện ủy Quan Hóa từ năm 1964-1968); núi Múng Mường, núi Pha Có Cá; núi Pha Cáng; Núi Pha Tốm, Núi Pha Há, Núi Pha Bó Mạ, Núi Pha Sáo. gọi theo tiếng dân tộc Thái.
Đồi: Có 2 đồi + núi là: Pu Cặp và Pu Cọ. - Hệ thống thung lũng trong phạm vi địa bàn xã: Hệ thống thung lũng trong phạm vi địa bàn xã tương đối phong phú phân bố chủ yếu tại các bản Nghèo, Ban, Cốc như: Thung lũng Bo Dứn, Bo Hang Cặm, Thung lũng suối Tọi. Lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Hồi Xuân 2. Vùng đất Hồi Xuân trước năm 1945 Vùng đất Hồi Xuân được hình thành từ thế kỷ XII, khi tổ tiên người Thái ngày nay ở các vùng phía bắc Việt Nam trước những biến thiên của lịch sử đã phải di cư sang vùng Tây Bắc tỉnh Thanh Hóa để sinh cơ lập nghiệp.
Xã Hồi Xuân xưa có tên gọi là Mường ca Da. Mường Ca Da cùng với Mường Khoòng, Mường Đèng, Mường Chiềng Ván là một trong bốn Mường tiêu biểu cho không gian văn hóa của người Thái ở miền núi phía Tây xứ Thanh. “Ca da” trong tiếng Thái có nghĩa là “quạ chữa thuốc” [45;tr1] Mường Ca Da là trung tâm kinh tế - xã hội của các Mường, các bản ở khu trung tâm được gọi là “Chiềng”, Bản Khằm xưa có tên gọi là Chiềng Nưa (Chiềng trên), bản Ban và phố Hồi Xuân (thị trấn Quan Hóa ngày nay) gọi là Chiềng Tớ (Chiềng dưới). Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa quy định bỏ cấp phủ, châu gọi là huyện, xã.
Riêng bản Chiềng Nưa đổi tên là Bản Khằm, bản Chiềng Tớ đổi tên là bản 11 Ban (hai bản lấy tên của Thượng tướng Thống lĩnh quân Khằm Ban để ghi nhớ công ơn của ông). Riêng phố Hồi Xuân trước tháng 2 năm 1946 có tên là phố Nam Lai, sau đó được đổi tên là phố Phan Thanh Ngày 03 tháng 2 năm 1946, xã Hồi Xuân được thành lập theo QĐ số 56 của Chính phủ gồm có các bản hiện nay hợp nhất làm một như: Bản Khằm, bản Ban, bản Khó, bản Nghèo, bản Cốc, bản Mướp, phố Phan Thanh, bản Phụn, bản Muỗng, bản Đum, bản Bút, bản Đun Nặm, bản Tân Lập, bản Đun Pù, bản Khuông, bản Éo, bản Giá, bản Vui, bản Thu Đông, bản Tân Sơn, bản Sa lắng, bản Cổi, bản Na Sài, bản Khiêu [7; tr 8] Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn cách mạng, từ đặc điểm địa lý, ngày 27 tháng 6 năm 1966, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 98 về việc chia xã Hồi Xuân làm 4 xã gồm: Xã Hồi Xuân, xã Nam Xuân, xã Thanh Xuân và xã Trung Xuân. Thực hiện Quyết định số 04/QĐHĐBT của Hội đồng Bộ trưởng, ngày 05 tháng 01 năm 1987, xã Hồi Xuân chia tách thành hai đơn vị hành chính là Thị trấn Quan Hóa và xã Hồi Xuân. Xã Hồi Xuân sau khi tách có 6 bản và 1 khu phố là: Bản Nghèo, bản Khó, bản Khằm, bản Mướp, bản Ban, bản Cốc và phố Hồi Xuân.
- Bản Khó: Xưa thuộc Mường Ca Da, nằm cách trung tâm xã 3 km, có tổng diện tích tự nhiên 885,6ha. Phía đông giáp xã Phú Nghiêm; phía tây giáp bản Khằm; phía bắc giáp bản Nghèo và Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông; phía nam giáp bản Ban [7; tr 8] Trên địa bàn xã có di tích Hang Nhiêm là ATK của cơ quan huyện ủy Quan Hóa. Năm 1967, Bí thư tỉnh ủy Thanh Hóa là Ngô Thuyền đến thăm và dự hội nghị Đảng bộ huyện Quan Hóa lần thứ 3 tại bản Khó, là bản có truyền thống cách mạng được hun đúc qua cuộc đấu tranh chống Pháp, chống Mỹ và xây dựng chủ nghĩa xã hội đã sinh ra nhiều người con ưu tú tham gia cách mạng và giữ các chức vụ quan trọng, chủ chốt của huyện như đồng chí Lương 12 Chí Ên, đồng chí Lữ Văn Xơi, đồng chí Hà Văn Chim, đồng chí Hà Công Tấc và nhiều đồng chí khác. - Khu phố Hồi Xuân: Trước tháng 2 năm 1946, có tên là phố Nam Lai, sau đó được đổi tên là phố Phan Thanh.
Phố lấy tên của thầy giáo Phan Thanh quê ở tỉnh Quảng Nam, là nhà yêu nước tiến bộ, thông qua việc dạy học ở Phố Cống huyện Ngọc Lặc đã truyền bá tư tưởng yêu nước tiến bộ cho con em các dân tộc thiểu số trong đó có huyện Quan Hóa giai đoạn 1936 – 1945, hiện nay gọi là khu Phố Hồi Xuân [7; tr 9] - Bản Khằm: Theo truyền thuyết vùng đất này gọi là Mường Húng – Mường Hường, lúc đầu bản có tên là bản Chiềng Nưa, tên gọi theo tiếng dân tộc Thái. Khi thống nhất thành HTX gọi là bản Khằm, lấy tên lót và tên chính của Thượng tướng Thống lĩnh quân Lò Khằm Ban, tên gọi theo tiếng dân tộc Thái. Hiện nay, trên địa bản Bản có 2 di tích lịch sử đó là Hang Lũng Mu và Bia kí nơi thờ tướng Khằm Ban [7; tr 9]. - Bản Mướp: Phía đông giáp bản Nghèo; phía tây giáp sông Mã; phía bắc giáp xã Thanh Xuân; phía nam giáp bản Khằm.
Lúc mới khai khẩn đất đai có tên là bản Muốp, khi thống nhất hình thành Hợp tác xã gọi là HTX bản Muốp. - Bản Nghèo: Xưa kia do điều kiện về đường giao thông đi lại từ trung tâm xã vào bản rất khó khăn, vất vả, người xưa gọi là bản Nghéo theo tiếng thái nghĩa là đường đi khúc khuỷu, quanh co, leo dốc. Bản cách trung tâm xã 7km, nằm dưới chân núi Pù Luông hùng vĩ; phía Đông giáp Bá Thước; phía Tây giáp bản Khằm, bản Mướp; phía Nam giáp bản khó; phía Bắc giáp bản Tân Sơn xã Thanh Xuân.