Tổng quan nghiên cứu
Năm 2009, Dân ca Quan họ Bắc Ninh chính thức được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, mở ra cơ hội chiến lược để định vị thương hiệu du lịch vùng Kinh Bắc. Toàn vùng sở hữu 49 làng Quan họ gốc, trong đó tỉnh Bắc Ninh tập trung 44 làng với không gian văn hóa rộng khoảng 250 km². Mặc dù tài nguyên văn hóa vô cùng đặc sắc, việc chuyển hóa giá trị di sản thành sản phẩm du lịch tại địa phương trong giai đoạn 1999–2009 vẫn còn nhiều khoảng trống, thiếu tính đồng bộ và chưa tương xứng với tiềm năng.
Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là hệ thống hóa các giá trị di sản văn hóa Quan họ dưới góc độ tài nguyên du lịch, đánh giá toàn diện thực trạng quản lý, khai thác và kinh doanh dịch vụ du lịch tại các làng Quan họ gốc. Từ đó, luận văn xác lập các giải pháp chiến lược nhằm thúc đẩy phát triển du lịch bền vững gắn liền với bảo tồn nguyên gốc di sản. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát các làng Quan họ trọng điểm tại 4 địa bàn hành chính: thành phố Bắc Ninh, huyện Tiên Du, huyện Yên Phong và huyện Từ Sơn. Phạm vi thời gian tập trung vào dữ liệu điều tra thực tế và các báo cáo ngành trong 10 năm từ 1999 đến 2009.
Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi đóng góp khung giải pháp giúp gia tăng tỷ trọng chi tiêu của du khách, kéo dài thời gian lưu trú và nâng cao năng lực cạnh tranh cho du lịch Việt Nam theo Chiến lược phát triển du lịch đến năm 2010.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu vận dụng Lý thuyết phát triển du lịch văn hóa bền vững và Lý thuyết chuỗi giá trị sản phẩm di sản phi vật thể. Cơ sở pháp lý được xây dựng dựa trên Luật Di sản văn hóa năm 2001, Nghị định số 92/2002/NĐ-CP (Điều 2) quy định chi tiết về các loại hình diễn xướng dân gian, Điều 747 Bộ luật Dân sự và Luật Du lịch năm 2005.
Luận văn làm rõ 5 khái niệm chuyên ngành then chốt:
- Di sản văn hóa phi vật thể: Tập hợp các tập quán, biểu đạt, tri thức và kỹ năng được cộng đồng công nhận và tái tạo qua nhiều thế hệ.
- Tài nguyên du lịch văn hóa: Các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể có sức hấp dẫn, khả năng đáp ứng nhu cầu du khách và có thể khai thác kinh doanh du lịch.
- Không gian văn hóa Quan họ: Môi trường sinh tồn tự nhiên và nhân văn, gắn liền với các dòng sông Cầu, sông Ngũ Huyện Khê và hệ thống đình, chùa, nhà chứa cổ.
- Bọn Quan họ: Tổ chức cơ sở đồng giới (toàn nam do ông trùm đứng đầu hoặc toàn nữ do bà trùm đứng đầu) tạo nên chủ thể thực hành di sản.
- Tục kết chạ: Giao ước kết nghĩa thiêng liêng giữa các làng, ghi nhận tại 36 trên 49 làng Quan họ gốc (chiếm khoảng 73,4%), xác lập chuẩn mực ứng xử khiêm nhường và nguyên tắc không kết hôn giữa các bọn Quan họ kết bạn.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của luận văn được kết hợp giữa dữ liệu thứ cấp thu thập trong 10 năm (1999–2009) từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bắc Ninh và dữ liệu sơ cấp điều tra thực địa.
Cỡ mẫu khảo sát gồm 250 du khách nội địa và quốc tế tại các điểm du lịch Quan họ, kết hợp với 50 cuộc phỏng vấn sâu cá nhân đối với các nghệ nhân lão thành, cán bộ quản lý di sản và giám đốc các doanh nghiệp lữ hành.
Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng (stratified random sampling) được áp dụng tại 4 địa bàn trọng điểm (TP Bắc Ninh, Tiên Du, Yên Phong, Từ Sơn) nhằm đảm bảo tính đại diện cao cho các nhóm làng nghề, làng ven sông và làng thuần nông.
Lý do lựa chọn phương pháp phân tích định tính kết hợp định lượng là nhằm lượng hóa chính xác mức độ hài lòng, cơ cấu chi tiêu của khách du lịch, đồng thời nắm bắt sâu sắc các rào cản văn hóa, lề lối cổ truyền từ góc nhìn của nghệ nhân bản địa.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, không gian phân bố làng Quan họ gốc mang tính tập trung cao với 44 làng tại Bắc Ninh và 5 làng tại Bắc Giang. Tại Bắc Ninh, huyện Yên Phong có mật độ cao nhất với 17 làng (chiếm 38,6%), thành phố Bắc Ninh có 14 làng (chiếm 31,8%), huyện Tiên Du có 11 làng (chiếm 25,0%) và huyện Từ Sơn có 2 làng (chiếm 4,5%). Mật độ này tạo điều kiện lý tưởng để thiết kế các tuyến tour bán kính hẹp dưới 15 km.
Thứ hai, di sản sở hữu hệ thống diễn xướng chuẩn mực gồm 4 hình thức: hát chúc mừng, hát thờ cửa đình, hát hội và hát canh. Trong đó, hát canh tại nhà chứa là hình thức nguyên bản độc đáo nhất với 3 chặng nghiêm ngặt: chặng giọng lề lối (bắt buộc hát đủ 5 giọng cơ bản: La rằng, Tình tang, Bạn Kim Lan, Cái ả, Cây gạo), chặng giọng vặt và chặng giọng giã bạn.
Thứ ba, thực trạng khai thác du lịch thương mại còn mang tính thời vụ gay gắt. Khoảng 78,5% lượng khách chỉ đổ về Bắc Ninh trong mùa lễ hội mùa xuân (từ ngày 4 tháng Giêng đến 15 tháng Hai âm lịch), tập trung chủ yếu tại Hội Lim. Mức chi tiêu trung bình của du khách dành riêng cho các dịch vụ trải nghiệm Quan họ ước tính chỉ chiếm dưới 15% tổng chi tiêu chuyến đi.
Thứ tư, nguồn nhân lực du lịch di sản còn thiếu hụt nghiêm trọng. Hơn 82% thuyết minh viên và nhân sự tại điểm chưa được đào tạo chuyên sâu về 3 tiêu chí làng gốc và lề lối Quan họ, dẫn đến tình trạng sân khấu hóa tùy tiện, làm phai nhạt tính chân xác của di sản.
Thảo luận kết quả
Các phát hiện trên có thể được hệ thống hóa trực quan thông qua biểu đồ cơ cấu phân bố làng Quan họ theo địa bàn hành chính và bảng ma trận đánh giá năng lực cạnh tranh điểm đến. Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng nghèo nàn sản phẩm là do thiếu vắng cơ chế liên kết giữa cộng đồng nghệ nhân tại 44 làng gốc với các công ty lữ hành tại Hà Nội.
So sánh với các nghiên cứu về phát triển du lịch di sản tại Chiang Mai (Thái Lan) hay Bali (Indonesia), mô hình du lịch Bắc Ninh giai đoạn này còn nặng về trình diễn thụ động, chưa tạo ra không gian tương tác văn hóa sâu (immersive cultural experience) như trải nghiệm ẩm thực Quan họ hay học hát đối đáp cùng liền anh, liền chị.
Ý nghĩa học thuật của phát hiện này khẳng định rằng: Nếu chỉ khai thác Quan họ dưới dạng tiết mục biểu diễn sân khấu hóa 15–20 phút, điểm đến sẽ mất đi lợi thế cạnh tranh cốt lõi. Giá trị bền vững nằm ở việc bảo tồn nguyên vẹn không gian "nhà chứa", bảo tồn tục kết chạ và phát triển mô hình du lịch cộng đồng có trách nhiệm.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm nâng cao hiệu quả khai thác di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh phục vụ du lịch, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:
-
Chuẩn hóa và đa dạng hóa sản phẩm du lịch: Xây dựng chuỗi sản phẩm chuyên đề "Một ngày làm nghệ nhân Quan họ" tại các làng gốc tiêu biểu (như làng Diềm, làng Hữu Chấp). Phục dựng 100% không gian sinh hoạt "nhà chứa Quan họ" đúng quy chuẩn cổ truyền để đón khách trải nghiệm hát canh đêm. Target metric: Phấn đấu đưa tỷ lệ khách tham gia tour trải nghiệm văn hóa chuyên sâu đạt 35% trên tổng lượng khách đến Bắc Ninh trong giai đoạn 2010–2015. Chủ thể thực hiện: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bắc Ninh chủ trì, phối hợp cùng các công ty lữ hành.
-
Nâng cấp cơ sở hạ tầng và không gian văn hóa: Quy hoạch các bến thuyền du lịch dọc tuyến sông Cầu và sông Ngũ Huyện Khê phục vụ hình thức hát Quan họ dưới thuyền thúng. Đầu tư đồng bộ hệ thống biển chỉ dẫn du lịch song ngữ tại 44 làng Quan họ gốc. Target metric: Hoàn thành nâng cấp hạ tầng tiếp cận tại 100% các cụm làng trọng điểm trước quý IV năm 2013. Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh và Sở Giao thông Vận tải.
-
Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực bản địa: Tổ chức các khóa tập huấn kỹ năng nghiệp vụ du lịch cộng đồng cho tối thiểu 500 nghệ nhân, liền anh, liền chị tại địa phương và đào tạo chứng chỉ thuyết minh di sản Quan họ cho 300 hướng dẫn viên lữ hành trong thời gian 24 tháng (2010–2012). Chủ thể thực hiện: Hiệp hội Du lịch Bắc Ninh phối hợp với Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.
-
Đẩy mạnh xúc tiến và tái đầu tư bảo tồn di sản: Trích lập quỹ phát triển bền vững với tỷ lệ tái đầu tư tối thiểu 20% doanh thu dịch vụ du lịch hàng năm để hỗ trợ sinh kế cho các nghệ nhân gìn giữ 5 giọng lề lối cổ. Tăng cường quảng bá liên kết tour Hà Nội – Bắc Ninh hướng tới mục tiêu nâng thị phần khách quốc tế lên 25% vào năm 2015. Chủ thể thực hiện: Trung tâm Xúc tiến Du lịch tỉnh Bắc Ninh và cộng đồng dân cư địa phương.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung và hệ thống dữ liệu trong luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:
-
Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách du lịch: Cung cấp cơ sở khoa học từ 49 làng Quan họ gốc và các chỉ số không gian 250 km² để xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển du lịch văn hóa bền vững cấp tỉnh và khu vực Đồng bằng sông Hồng.
-
Các doanh nghiệp lữ hành và nhà phát triển tour: Tài liệu hướng dẫn chi tiết về 4 hình thức diễn xướng (chúc mừng, hát thờ, hát hội, hát canh), giúp các đơn vị thiết kế tour du lịch trải nghiệm từ 1 đến 3 ngày độc đáo, tránh trùng lặp với các tour lễ hội đại trà.
-
Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Du lịch, Văn hóa học: Nguồn tham khảo học thuật giá trị về phương pháp nghiên cứu thực địa, kỹ thuật điều tra xã hội học với cỡ mẫu 250 khách và 50 chuyên gia, cùng hệ thống dữ liệu thứ cấp 10 năm về di sản phi vật thể.
-
Các câu lạc bộ Quan họ, nghệ nhân và cộng đồng bản địa: Nắm bắt cách thức thương mại hóa dịch vụ di sản mà vẫn giữ gìn nguyên vẹn bản sắc tục kết chạ tại 36 làng kết nghĩa và các giá trị văn hóa phi vật thể của cha ông.
Câu hỏi thường gặp
Luận văn xác định có bao nhiêu làng Quan họ gốc và phân bố không gian ra sao?
Nghiên cứu khẳng định toàn vùng có 49 làng Quan họ gốc, bao gồm 44 làng tại Bắc Ninh và 5 làng tại Bắc Giang. Không gian di sản tập trung trong diện tích khoảng 250 km² quanh thành phố Bắc Ninh, với mật độ cao nhất tại Yên Phong (17 làng), thành phố Bắc Ninh (14 làng), Tiên Du (11 làng) và Từ Sơn (2 làng) dọc các triền sông Cầu và sông Ngũ Huyện Khê.
Những tiêu chí chuẩn mực nào dùng để nhận diện một làng Quan họ gốc?
Một địa phương được xác định là làng gốc khi đáp ứng đủ 3 tiêu chí: Phải có ít nhất 1 bọn Quan họ nam và 1 bọn Quan họ nữ; các bọn này phải thực hiện tục kết bạn với làng khác theo nguyên tắc nam nữ đối ứng; và toàn bộ tập tục sinh hoạt, lề lối này phải được duy trì liên tục qua tối thiểu 3 thế hệ.
Không gian diễn xướng Quan họ gồm những hình thức nào có thể khai thác du lịch?
Di sản gồm 4 hình thức: Hát chúc mừng khi đón bạn bè, hát thờ thần linh tại cửa đình, hát hội trên bờ và dưới thuyền, cùng hát canh đêm tại nhà chứa. Trong đó, hát canh là sản phẩm du lịch cao cấp nhất, đòi hỏi liền anh liền chị vượt qua 3 chặng nghiêm ngặt với 5 giọng lề lối bắt buộc trước khi chuyển sang giọng vặt và giã bạn.
Tục kết chạ đóng vai trò gì trong việc bảo tồn văn hóa Quan họ truyền thống?
Tục kết chạ hiện diện tại 36 trên 49 làng gốc, tạo dựng mối quan hệ kết nghĩa như anh em một nhà giữa các làng. Quy ước cấm nam nữ giữa hai làng kết chạ lấy nhau đã bảo vệ tính nghệ thuật thuần khiết của lối hát giao duyên và duy trì chuẩn mực xưng hô cung kính, tôn trọng lẫn nhau suốt từ thế kỷ XVII đến nay.
Định hướng then chốt nào giúp chuyển đổi mô hình du lịch Quan họ từ thời vụ sang bền vững?
Luận văn nhấn mạnh việc giảm tải sự phụ thuộc vào mùa lễ hội đầu xuân (chiếm gần 80% khách) bằng cách xây dựng sản phẩm tour trải nghiệm nhà chứa quanh năm. Đồng thời, cần trích lại 20% nguồn thu du lịch để hỗ trợ nghệ nhân truyền dạy và đào tạo bài bản cho hơn 300 nhân sự du lịch tại 44 làng gốc giai đoạn 2010–2015.
Kết luận
- Hệ thống hóa toàn diện giá trị của 44 làng Quan họ gốc tại Bắc Ninh trên không gian văn hóa 250 km² như nguồn tài nguyên du lịch nhân văn vô giá.
- Phân tích sâu sắc 4 hình thức diễn xướng truyền thống và khẳng định giá trị độc bản của hình thức hát canh nhà chứa gắn với 5 giọng lề lối cổ truyền.
- Chỉ rõ các nút thắt thực trạng giai đoạn 1999–2009 về tính thời vụ lễ hội cao (78,5%) và sự thiếu hụt nghiêm trọng nguồn nhân lực chuyên nghiệp (trên 82%).
- Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp khả thi với mục tiêu nâng thị phần du lịch văn hóa trải nghiệm đạt 35% trong giai đoạn 2010–2015.
- Đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn giúp tỉnh Bắc Ninh định vị thương hiệu điểm đến di sản thế giới bền vững sau khi được UNESCO vinh danh năm 2009.
Để hiện thực hóa các giá trị nghiên cứu, các cơ quan quản lý và doanh nghiệp lữ hành cần nhanh chóng triển khai lộ trình đầu tư hạ tầng điểm đến và xây dựng quy chuẩn đón khách tại các làng gốc ngay trong giai đoạn 2010–2015, hướng tới mục tiêu phát triển du lịch di sản chuyên nghiệp vào năm 2020. Hãy liên hệ với các đơn vị phát triển du lịch địa phương để cùng hợp tác khai thác bền vững kho tàng văn hóa Quan họ Bắc Ninh.