Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp ngành Văn hóa Du lịch của tác giả Phan Thị Thêu (Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, 2022) tập trung nghiên cứu hoạt động du lịch văn hóa tâm linh tại quần thể di tích đền Trần, tọa lạc tại thôn Tam Đường, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

Thái Bình là tỉnh thuộc vùng duyên hải Đông Bắc Bộ, nơi có mật độ di tích lịch sử - văn hóa xếp vào nhóm cao trong cả nước. Trong định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tỉnh đã và đang đầu tư quy hoạch hệ thống di tích nhằm hình thành các sản phẩm du lịch văn hóa tâm linh đặc trưng. Tâm điểm của chuỗi tài nguyên này là quần thể di tích đền thờ và lăng mộ các vua triều Trần (1226–1400) tại xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà. Các kết quả nghiên cứu lịch sử và khai quật khảo cổ học đã chứng minh vùng đất phủ Long Hưng xưa chính là đất phát tích, dựng nghiệp của vương triều Trần, đồng thời là nơi đặt tôn miếu, lăng mộ của các vị tổ tiên và những vị vua đầu triều. Trước bối cảnh Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Bình triển khai quy hoạch xây dựng di tích thành điểm đến thương hiệu, việc đánh giá toàn diện thực trạng tổ chức và khai thác du lịch tại đây mang tính cấp thiết cả về mặt khoa học lẫn thực tiễn quản lý.

Mục tiêu nghiên cứu:

  • Làm rõ giá trị lịch sử, văn hóa, kiến trúc nghệ thuật và tín ngưỡng tâm linh của quần thể di tích đền Trần Thái Bình.
  • Cung cấp cơ sở dữ liệu học thuật và thông tin cặn kẽ phục vụ công tác thuyết minh, nâng cao hiểu biết cho khách tham quan du lịch.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp phát triển hoạt động du lịch văn hóa tâm linh gắn liền với công tác bảo tồn di sản tại địa phương.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Xây dựng khung cơ sở lý luận về loại hình du lịch văn hóa tâm linh và các yếu tố cấu thành sản phẩm du lịch tâm linh.
  2. Khảo sát, phân tích thực trạng hoạt động du lịch văn hóa tâm linh tại quần thể di tích đền Trần (xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình), đánh giá các điều kiện về hạ tầng, dịch vụ, quản lý và thị trường khách.
  3. Đề xuất các nhóm giải pháp nhằm phát triển du lịch văn hóa tâm linh, đẩy mạnh quảng bá giá trị di sản và nâng cao hiệu quả quản lý, bảo tồn di tích.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động kinh doanh du lịch, hoạt động du lịch văn hóa tâm linh và các giá trị văn hóa, lịch sử, tín ngưỡng gắn liền với quần thể di tích đền Trần Hưng Hà.
  • Phạm vi không gian: Quần thể di tích đền Trần tại thôn Tam Đường, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào công tác tổ chức, quản lý và khai thác hoạt động du lịch văn hóa tâm linh tại di tích.
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu khảo cứu lịch sử kéo dài từ thế kỷ XIII đến nay; dữ liệu khảo cổ học và quản lý nhà nước cập nhật qua các mốc xếp hạng di tích (1990, 2014, 2015) và thực tiễn hoạt động đến giai đoạn 2016–2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập nền tảng nghiên cứu dựa trên các khái niệm chuyên ngành văn hóa, du lịch, các văn bản quy phạm pháp luật và các công trình nghiên cứu sử học, văn hóa học đã công bố:

  • Khung lý thuyết và khái niệm chuyên ngành:

    • Khái niệm văn hóa và du lịch văn hóa: Sử dụng định nghĩa văn hóa của nguyên Tổng Giám đốc UNESCO Federico Mayor và quan điểm văn hóa vật thể; các khái niệm về du lịch, hoạt động du lịch, sản phẩm du lịch, điểm đến du lịch và khách du lịch trích dẫn trực tiếp từ Điều 3 Luật Du lịch năm 2017. Mối quan hệ tương tác hai chiều giữa văn hóa và du lịch được phân tích dựa trên bài giảng môn Nghiệp vụ Văn hóa Du lịch của PGS. Trần Thúy Anh.
    • Khái niệm tâm linh và văn hóa tâm linh: Tiếp cận theo quan điểm của tác giả Nguyễn Duy Hinh trong công trình Tâm linh Việt Nam (xác định tâm linh là thể nghiệm của con người về cái Thiêng trong tự nhiên và xã hội thông qua trải nghiệm sống) và tác giả Nguyễn Đăng Duy trong Văn hóa tâm linh. Khóa luận phân định ranh giới giữa niềm tin tín ngưỡng tâm linh lành mạnh và hiện tượng mê tín dị đoan.
    • Lý thuyết không gian và nguồn gốc di sản: Áp dụng luận điểm "Đất lăng mộ = Đất phát tích" của GS. Lê Văn Lan (2010) khi phân tích vị thế của phủ Long Hưng đối với nhà Trần; tiếp thu nhận định của PGS.TS. Dương Văn Sáu trong Giáo trình Di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh Việt Nam về sự hòa hợp giữa công trình kiến trúc di tích với cảnh quan môi trường tự nhiên.
  • Phương pháp nghiên cứu thực tế:

    • Phương pháp phân tích - tổng hợp tài liệu: Hệ thống hóa các nguồn tư liệu thư tịch, công trình nghiên cứu lịch sử và báo cáo chuyên ngành để xây dựng cơ sở lý thuyết.
    • Phương pháp điều tra, điền dã thực địa: Thu thập tư liệu thực tế tại xã Tiến Đức, phỏng vấn nhân chứng địa phương (như lời kể của cụ Trần Văn Chuyện về quy trình làm cỗ cá và nghi thức giao hảo làng).
    • Phương pháp thống kê, so sánh: Xử lý số liệu khảo sát, lập bảng thống kê danh mục lễ hội, cơ cấu nhân lực, các hạng mục kiến trúc và so sánh mô hình khai thác du lịch tại đền Trần Thái Bình với các di tích đền Trần khác (đền Trần Côn Sơn - Kiếp Bạc tại Hải Dương, đền Trần tại Nam Định, đền Trần Thương/Trần Nhượng tại Hà Nam).
  • Nguồn dữ liệu sử dụng:

    • Tài liệu chính sử: Đại Việt sử ký toàn thư (Ngô Sĩ Liên và Quốc sử quán triều Lê), Đại Nam nhất thống chí (Quốc sử quán triều Nguyễn), Đồng Khánh ngự lãm địa dư chí lược.
    • Báo cáo khảo cổ học: Các báo cáo điều tra, khai quật khảo cổ học tại Tam Đường của Viện Khảo cổ học và Bảo tàng tỉnh Thái Bình các năm 1968 (khai quật Phần Mao), 1969 (Đỗ Văn Ninh), 1979–1980 (Trịnh Cao Tưởng, Phan Tiến Đa, Bùi Duy Lan, Đặng Kim Ngọc, Nguyễn Ngọc Phát).
    • Văn bản quản lý và công trình nghiên cứu địa phương: Quyết định số 1214/QĐ-BT ngày 30/10/1990 của Bộ Văn hóa - Thông tin; Quyết định số 2408/QĐ-TTg ngày 31/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ; các tài liệu Đất và người Thái Bình, Ngàn năm đất và người Thái Bình (1990), sách Trần miếu di sản và tín ngưỡng dân gian (2006); các luận văn chuyên ngành của Phạm Văn Duy, Trần Thị Dung.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về du lịch văn hóa tâm linh

Chương 1 tổng quan tình hình nghiên cứu về triều đại nhà Trần và du lịch văn hóa tâm linh tại Thái Bình, đồng thời làm rõ hệ thống thuật ngữ chuyên môn:

  • Tổng quan tư liệu: Phân tích các công trình nghiên cứu tiêu biểu như cuốn Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên - Mông (Hà Văn Tấn, Phạm Thị Tâm), Trần miếu di sản và tín ngưỡng dân gian (NXB Văn hóa Thông tin, 2006) cùng các tài liệu địa chí tỉnh Thái Bình.
  • Hệ thống khái niệm: Trình bày chi tiết các định nghĩa về văn hóa, du lịch, hoạt động du lịch, tâm linh, văn hóa tâm linh và lễ hội (với ý nghĩa quy tụ khát vọng "nhân khang, vật thịnh"). Phân loại điểm đến du lịch tâm linh tại Việt Nam thành hai nhóm chính: di tích tôn giáo (Chùa, Nhà thờ) và di tích tín ngưỡng (Đền, Đình, Miếu, Phủ/Điện).
  • Đặc điểm du lịch văn hóa tâm linh tại Việt Nam: Làm rõ tính đặc thù của du lịch tâm linh trong nước: gắn liền với truyền thống "uống nước nhớ nguồn", thờ cúng tổ tiên, tri ân anh hùng dân tộc và các Thành hoàng làng; gắn với các dòng thiền bản địa như Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ. Chương này cũng chỉ ra tác động tiêu cực của xu hướng thương mại hóa, biến tướng hoạt động lễ hội khi thiếu hiểu biết về di sản.

Chương 2: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa tâm linh tại quần thể di tích đền Trần xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình

Chương 2 là phần nội dung thực nghiệm trọng tâm, phân tích chi tiết điều kiện tự nhiên, tài nguyên du lịch, căn cứ lịch sử, quy mô kiến trúc và thực trạng khai thác du lịch tại di tích:

  • Khái quát tài nguyên du lịch tỉnh Thái Bình:
    • Tỉnh có diện tích tự nhiên 1.546,54 km², địa hình đồng bằng bằng phẳng (độ dốc dưới 1%, độ cao từ 1–2m so với mực nước biển), mạng lưới thủy văn khép kín gồm bờ biển dài hơn 50 km, 4 con sông lớn bao bọc (sông Hóa dài 35,3 km, sông Luộc dài 53 km, sông Hồng dài 67 km, sông Trà Lý) và 5 cửa biển (Văn Úc, Diêm Điền, Ba Lạt, Trà Lý, Lân).
    • Tài nguyên văn hóa vật thể phân bố dày đặc từ thời Hai Bà Trưng (đền Tiên La), thời Tiền Lý (đình Tử Các, miếu Đồn, miếu Hai Thôn), thời Đinh (đình Lạc Đạo, từ đường Bùi Quang Dũng), thời Lý (chùa Làng Riệc, chùa Keo, chùa Phúc Thắng) và mật độ đậm đặc nhất là thời Trần tại Hưng Hà. Toàn tỉnh có 111 vị đỗ Đại khoa và hệ thống đền thờ 66 vị Tiến sĩ.
    • Tài nguyên văn hóa phi vật thể nổi bật với các chiếu chèo cổ (Hà Xá, Khuốc, Sáo Đền), 7 phường rối nước tại Đông Hưng (tiêu biểu là làng Nguyên Xá), văn học dân gian và nghệ thuật ẩm thực truyền thống (bánh cáy Làng Nguyễn, bánh gai Đại Đồng, cá nướng Thái Xuyên, giò chả, canh cá Quỳnh Côi).
STT Tên lễ hội Thời gian (Âm lịch) Địa điểm tổ chức
1 Lễ hội Chùa Keo Hội xuân: 04/01; Hội thu: 13–15/09 Xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư
2 Lễ hội Đền Trần 13–18/01 Xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà
3 Lễ hội Đình, đền, bến tượng A Sào 10/02 Thôn A Sào, xã An Thái, huyện Quỳnh Phụ
4 Lễ hội Đền Tiên La 17/03 Xã Đoan Hùng, huyện Hưng Hà
5 Lễ hội Đền Đồng Bằng 20/08 Xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ
6 Lễ hội Làng Lộng Khê 23–25/03 Xã An Khê, huyện Quỳnh Phụ
7 Lễ hội Làng Quang Lang 14/04 Xã Thụy Vân, huyện Thái Thụy
8 Lễ hội Sáo Đền 20–27/03 Xã Song An, huyện Vũ Thư
  • Căn cứ lịch sử và khảo cổ học về đất phát tích Long Hưng:

    • Sử liệu: Khảo sát gia phả 5 đời họ Trần từ Trần Kinh (hương Tức Mặc) đến Trần Hấp, Trần Lý (chuyển sang thôn Lưu Gia, Hải Ấp), Trần Thừa và Trần Cảnh. Trích dẫn sự kiện năm 1209 khi Hoàng thái tử Sảm kết duyên với con gái của Trần Lý; ghi chép trong Đại Nam nhất thống chí về mộ tổ tại xã Thái Đường; lời dạy của Thượng hoàng Trần Nhân Tông năm 1299 về nguồn gốc dân chài; sự kiện rước tù binh Ô Mã Nhi, Tích Lệ Cơ Ngọc về làm lễ dâng thắng trận tại Chiêu Lăng năm 1288.
    • Khảo cổ học: Khảo sát các nấm mộ thời Trần phân bố hai phía đường trục xuyên xã Tam Đường: phía Nam (Phần Trung, Phần Thính, Phần Bụt/Nấm Sỏi, Phần Đa, Phần Cựu, Mả Tít tại Vườn Màn); phía Bắc (Phần Lợn, Phần Quang, Phần Mao, Mả bà già). Kết quả khai quật năm 1979–1980 tại Cồn Nhãn và Phần Bia (trên diện tích hơn 600 m²) phát hiện gạch in chữ "Vĩnh Ninh Trường", 296 hiện vật lớn và hàng ngàn mẫu ngói mũi hài, ngói gắn lá đề, đầu rồng gốm đất nung, đồ gốm men ngọc, men nâu niên đại Trần - Lê.
  • Quy mô và nghệ thuật kiến trúc quần thể đền Trần Thái Bình:

    • Di tích trải rộng trên khuôn viên hơn 32 ha, quy hoạch theo trục thần đạo theo thế "Tiền tam thai, hậu thất tinh" (phía trước có 3 gò ấn kiếm: Phần Đa, Phần Bụt, Phần Trung; phía sau tựa vào 7 gò sao; hai bên có sông Hồng và sông Thái Sư bao bọc).
    • Năm 1990, di tích được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là Di tích Khảo cổ học và Lịch sử cấp Quốc gia. Năm 1992, dựng đền gỗ lim 7 gian kết cấu chữ "Nhất". Năm 1999, UBND tỉnh Thái Bình phê duyệt dự án tu bổ, tôn tạo với tổng mức đầu tư trên 25 tỷ đồng. Ngày 31/12/2014, Thủ tướng ký Quyết định số 2408/QĐ-TTg công nhận Di tích quốc gia đặc biệt.
Hạng mục kiến trúc Quy mô / Diện tích Đặc điểm kết cấu và bài trí thờ tự
Nghi Môn (Tứ trụ) Dài 11m, cao 6,5m Kiểu tam quan cuốn vòm, mái chồng diêm hai tầng, đao song loan, trụ biểu lồng đèn đắp hình phượng lá lật và nghê chầu.
Sân đền & Giếng ngọc Sân rộng 550 m² Lát gạch rộng rãi, bố trí hai giếng ngọc đối xứng tạo sự cân bằng phong thủy.
Tòa Bái Đường (Đại Bái) Rộng 330 m² 7 gian, 2 tầng mái chồng diêm, cửa gỗ lim chạm rồng thời Lê, vì kèo chạm tứ linh tứ quý thời Nguyễn; chuông đồng nặng gần 300 kg (cao 1,1m, đường kính 80cm) do ông Trần Nhượng tiến cúng.
Sân Chầu & Giải Vũ Sân rộng 400 m² Không gian hành lễ ngoài trời; hai dãy giải vũ Đông - Tây mỗi bên 5 gian gỗ lim; đôi rồng đá xanh Ninh Bình mang phong cách thế kỷ XV chầu trước cửa điện.
Tòa Đệ Nhị Rộng 270 m² 5 gian, kết cấu nối Bái Đường và Hậu Cung tạo thành chữ Đinh. Ban chính giữa thờ Thánh tượng vua Trần Thái Tông; bên tả thờ vua Trần Thánh Tông; bên hữu thờ vua Trần Nhân Tông; hoành phi "Đông A hào khí".
Tòa Hậu Cung Rộng 90 m² Nền cao hơn 1m; chính cung thờ linh vị cụ Trần Kinh, Trần Hấp, Nguyên tổ Trần Lý và tượng Thái tổ Trần Thừa; tượng Thống quốc Thái sư Trần Thủ Độ (bên phải) và tượng Linh từ Quốc mẫu Trần Thị Dung (bên trái); đại tự "Thánh cung vạn tuế".
Công trình phụ trợ Khuôn viên mở rộng Thư viện Đền Trần (thành lập ngày 10/12/2009 với 1.500 đầu sách), Ngũ Tiền Môn (khởi công 31/12/2009), Tòa Phương Đình, trục đường thần đạo và bãi đỗ xe.
  • Thực trạng hoạt động lễ hội và giá trị văn hóa phi vật thể:

    • Lễ hội Đền Trần: Diễn ra thường niên từ ngày 13 đến 18 tháng Giêng âm lịch. Điểm nhấn là Lễ khai ấn tổ chức vào giờ Tý (23h00) đêm 13 rạng sáng 14 tháng Giêng; phần hội có biểu diễn màn sử thi "Âm vang hào khí Đông A", diễn xướng chầu văn của 8 huyện, thành phố (hơn 20 tiết mục), thi đấu cờ người, kéo co, chọi gà, thả diều.
    • Tục thi làm cỗ cá Thái Đường: Khôi phục từ năm 2012, bắt nguồn từ tục kết chạ giao hảo giữa làng Thái Đường (xã Tiến Đức) và làng Vân Đài (xã Chí Hòa) nhân ngày giỗ hai công chúa Diệu Từ Ân (15/02 âm lịch) và Diệu Từ Dong (15/09 âm lịch). Quy cách làm cỗ cá được mô tả chi tiết: cỗ kép gồm 1 cá trắm đen trên 3 kg đặt ở giữa, 4 cá mè trên 1 kg đặt 4 góc, cá giữ nguyên vẩy và vây, luộc chín bằng cách định lượng thời gian cháy của một tuần hương đen, trang trí hoa mẫu đơn và lá đinh lăng; tầng dưới bày 4 bát thịt lợn luộc thái phay hình chiếc lược, giò lụa, nem, xôi; cỗ đơn có kết cấu tương tự nhưng dùng cá chép thay thế cá trắm đen.
  • Đánh giá hoạt động du lịch và so sánh liên tỉnh:

    • Phân tích lượng khách tham quan tăng trưởng mạnh sau các mốc vinh danh cấp quốc gia; sự kiện khai mạc lễ hội năm 2016 đón hàng trăm nghìn lượt khách cùng sự tham dự của lãnh đạo Đảng, Nhà nước.
    • Khóa luận tiến hành so sánh đối chiếu thực trạng hoạt động du lịch tại đền Trần Thái Bình với di tích đền Trần Côn Sơn - Kiếp Bạc (Hải Dương), đền Trần Nam Định và đền Trần Thương/Nhượng (Hà Nam) nhằm chỉ ra các thế mạnh về quỹ đất, quy mô mộ tổ và các hạn chế trong liên kết vùng.

Chương 3: Một số giải pháp đối với hoạt động du lịch văn hóa tâm linh tại quần thể di tích đền Trần, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình

Dựa trên kết quả khảo sát thực trạng, tác giả xây dựng 5 nhóm giải pháp chiến lược nhằm hoàn thiện hoạt động khai thác du lịch tại di tích:

  1. Nâng cao trách nhiệm quản lý của Ban quản lý khu di tích: Kiện toàn bộ máy tổ chức, ban hành quy chế phối hợp đồng bộ giữa Ban quản lý với chính quyền địa phương xã Tiến Đức và huyện Hưng Hà; siết chặt an ninh trật tự, quản lý tiền công đức, vệ sinh môi trường và phòng chống các biểu hiện tiêu cực, mê tín dị đoan trong mùa lễ hội.
  2. Đa dạng hóa sản phẩm du lịch và phát triển sản phẩm đặc thù: Xây dựng các chương trình du lịch chuyên đề về lịch sử vương triều Trần; phục dựng hoàn chỉnh và nâng tầm các nghi lễ cổ truyền (lễ khai ấn, tục thi cỗ cá, diễn xướng chầu văn); phát triển các mặt hàng lưu niệm, sản vật địa phương (bánh cáy, đồ thủ công mỹ nghệ).
  3. Nâng cao nhận thức cộng đồng và ý thức bảo tồn di sản: Tuyên truyền, giáo dục cư dân địa phương về giá trị lịch sử - văn hóa của di tích; bồi dưỡng văn hóa giao tiếp, thái độ ứng xử văn minh du lịch đối với các hộ kinh doanh dịch vụ quanh khu di tích.
  4. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch: Chuẩn hóa đội ngũ hướng dẫn viên, thuyết minh viên tại điểm am hiểu sâu sắc về lịch sử triều Trần; bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ du lịch, ngoại ngữ cho nhân sự của Ban quản lý và người lao động địa phương.
  5. Đẩy mạnh thông tin truyền thông, xúc tiến và quảng bá du lịch: Phân định rõ trách nhiệm giữa Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Bình (xây dựng chiến lược xúc tiến cấp tỉnh, kết nối tour tuyến liên tỉnh) và Ban quản lý di tích (quản lý ấn phẩm, thông tin điện tử, thư viện đền Trần và cung cấp tài liệu cho du khách).

Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống hóa luận cứ khoa học về vùng đất phát tích Long Hưng: Khóa luận đã tổng hợp các bằng chứng lịch sử (từ Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam nhất thống chí) và dữ liệu khảo cổ học (kết quả khai quật các mộ phần thời Trần và di chỉ Cồn Nhãn, Phần Bia các năm 1968, 1972, 1979–1980 với 296 hiện vật lớn và gạch ngói "Vĩnh Ninh Trường") để khẳng định Tam Đường, Hưng Hà là đất phát tích, nơi đặt mộ tổ và lăng miếu của triều đại nhà Trần.
  • Khảo tả chi tiết hiện trạng kiến trúc và quy chuẩn bài trí thờ tự: Cung cấp thông số kỹ thuật, quy mô diện tích và kết cấu chi tiết của từng hạng mục công trình trong khuôn viên 32 ha (Nghi Môn cao 6,5m; Sân đền 550 m²; Bái Đường 330 m²; Sân Chầu 400 m²; Đệ Nhị 270 m²; Hậu Cung 90 m²), làm rõ thứ tự thờ tự 4 đời tổ tiên họ Trần cùng các vị vua khai sáng triều đại.
  • Tư liệu hóa quy trình thực hành di sản phi vật thể: Ghi chép tường tận diễn biến Lễ hội Đền Trần (ngày 13–18 tháng Giêng), đặc biệt là kỹ thuật chế tác "cỗ cá" (cỗ đơn, cỗ kép) và tục giao hảo lịch sử giữa hai làng Thái Đường và Vân Đài.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp mang tính ứng dụng: Đưa ra 5 nhóm giải pháp phân định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Bình với vai trò trực tiếp của Ban quản lý di tích trong việc khai thác du lịch bền vững.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Nghiên cứu dừng lại ở cấp độ khóa luận cử nhân, phương pháp tiếp cận chủ yếu là định tính, miêu tả lịch sử và phân tích hiện trạng không gian; chưa thực hiện được các điều tra xã hội học định lượng quy mô lớn về mức chi tiêu, cơ cấu thị trường nguồn và đo lường mức độ hài lòng của du khách.
    • Các số liệu thống kê du lịch chi tiết và sự so sánh chuyên sâu về hiệu quả kinh tế với các khu di tích đền Trần tại các tỉnh lân cận còn mang tính khái quát, dựa chủ yếu trên tài liệu thứ cấp do Ban quản lý cung cấp.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Triển khai khảo sát định lượng với mẫu khảo sát lớn ($n \ge 300$) để đánh giá sự hài lòng và hành vi tiêu dùng của du khách đến đền Trần Thái Bình.
    • Nghiên cứu xây dựng mô hình liên kết sản phẩm du lịch tâm linh liên vùng: kết nối trục di sản văn hóa nhà Trần qua các tỉnh Thái Bình – Nam Định – Hà Nam – Hải Dương – Quảng Ninh.
    • Đánh giá sức tải môi trường và tác động kinh tế - xã hội của hoạt động du lịch đối với cộng đồng dân cư xã Tiến Đức và huyện Hưng Hà.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo chuyên khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên và học viên: Chuyên ngành Văn hóa Du lịch, Quản lý Văn hóa, Lịch sử Việt Nam, Việt Nam học, Du lịch học dùng làm tài liệu tham khảo về phương pháp tiếp cận một điểm đến du lịch văn hóa tâm linh cụ thể.
  • Cơ quan quản lý và cán bộ chuyên trách: Cung cấp tư liệu cho Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Bình, Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Hưng Hà và Ban quản lý di tích đền Trần trong việc xây dựng đề án bảo tồn, tổ chức lễ hội và thuyết minh du lịch.
  • Phần nội dung có giá trị tham khảo cao nhất:
    • Mục 2.2 và 2.3 (Chương 2): Toàn bộ tư liệu khảo cứu lịch sử, khảo cổ học chứng minh đất phát tích Long Hưng và bản mô tả quy chuẩn thờ tự tại các tòa Bái Đường, Đệ Nhị, Hậu Cung.
    • Mục 2.4 (Chương 2): Bản mô tả chi tiết quy trình thực hiện phong tục làm cỗ cá làng Thái Đường và nghi thức tổ chức lễ khai ấn đầu xuân.

Câu hỏi thường gặp

1. Những căn cứ lịch sử và khảo cổ học nào khẳng định xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà là đất phát tích của nhà Trần?
Trả lời: Khóa luận dẫn chứng ghi chép trong Đại Việt sử ký toàn thư (sự kiện năm 1209 thái tử Sảm về thôn Lưu Gia kết duyên cùng con gái Trần Lý; lời Thượng hoàng Nhân Tông năm 1299 về gốc gác dân chài; lễ dâng thắng trận năm 1288 tại Chiêu Lăng); sách Đại Nam nhất thống chí xác nhận mộ tổ ở xã Thái Đường; cùng các đợt khai quật khảo cổ học (1968, 1979–1980) phát hiện hệ thống mộ phần (Phần Trung, Phần Bụt, Phần Cựu, Phần Mao...) và các hiện vật gạch ngói in chữ "Vĩnh Ninh Trường", tượng đầu rồng, đồ gốm sứ niên đại thời Trần.

2. Thứ tự bài trí thờ tự bên trong các tòa của đền Trần Hưng Hà được sắp xếp như thế nào?
Trả lời:

  • Tòa Hậu Cung: Gian chính thờ linh vị 4 đời tổ tiên (Trần Kinh, Trần Hấp, Nguyên tổ Trần Lý) và tượng Thái tổ Trần Thừa; bên phải thờ Thống quốc Thái sư Trần Thủ Độ; bên trái thờ Linh từ Quốc mẫu Trần Thị Dung.
  • Tòa Đệ Nhị: Ban chính giữa đặt bàn thờ, ngai và thánh tượng vua Trần Thái Tông; bên trái thờ vua Trần Thánh Tông; bên phải thờ vua Trần Nhân Tông.
  • Tòa Bái Đường: Thờ ngai và bài vị của Hội đồng các quan (tả thờ Văn quan, hữu thờ Võ tướng triều Trần).

3. Tục thi làm "cỗ cá" độc đáo trong lễ hội đền Trần tại làng Thái Đường có quy cách như thế nào?
Trả lời: Tục cỗ cá gắn với lệ kết chạ giao hảo giữa làng Thái Đường và làng Vân Đài nhân ngày giỗ hai công chúa Diệu Từ Ân (15/02 âm lịch) và Diệu Từ Dong (15/09 âm lịch). Cỗ gồm hai loại: cỗ kép sử dụng 1 con cá trắm đen trên 3 kg đặt ở giữa, 4 con cá mè trên 1 kg đặt tại 4 góc, cá được sơ chế không trật vẩy, gói lá chuối luộc chín theo thời gian đốt hết 1 tuần hương đen; tầng dưới lót 4 bát thịt lợn luộc thái phay hình chiếc lược, giò lụa, nem, xôi; cỗ đơn có cách trình bày tương tự nhưng dùng cá chép trên 3 kg thay thế cá trắm đen.

4. Quần thể di tích đền Trần xã Tiến Đức được Nhà nước xếp hạng di tích vào những thời điểm nào?
Trả lời:

  • Năm 1990: Được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng Di tích Khảo cổ học và Di tích Lịch sử cấp Quốc gia (Quyết định số 1214/QĐ-BT ngày 30/10/1990).
  • Ngày 31/12/2014: Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 2408/QĐ-TTg xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt.
  • Năm 2014–2015: Lễ hội đền Trần được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

5. Tác giả khóa luận đề xuất các nhóm giải pháp chính nào để phát triển du lịch tại di tích?
Trả lời: Đề xuất 5 nhóm giải pháp: (1) Đề cao trách nhiệm quản lý của Ban quản lý khu di tích; (2) Đa dạng hóa sản phẩm du lịch và chú trọng sản phẩm đặc thù nhà Trần; (3) Nâng cao nhận thức của cộng đồng địa phương về bảo tồn tài nguyên; (4) Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực phục vụ du lịch; (5) Đẩy mạnh thông tin truyền thông, phân định rõ vai trò quảng bá giữa Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Bình và Ban quản lý di tích.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phan Thị Thêu đã làm sáng tỏ giá trị toàn diện của quần thể di tích đền Trần tại xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà trong vai trò là vùng đất phát tích và trung tâm tôn miếu của vương triều Trần. Công trình đã khảo tả chi tiết hiện trạng kiến trúc, cơ cấu thờ tự, phong tục lễ hội đặc sắc cũng như thực tiễn tổ chức hoạt động du lịch văn hóa tâm linh tại điểm đến. Hệ thống 5 nhóm giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ, góp phần định hướng khai thác hiệu quả tài nguyên di sản gắn liền với mục tiêu bảo tồn bền vững tại tỉnh Thái Bình.