chương I của Luận văn, có thể tổng hợp một khái niệm chung nhất về chính sách thu hút đầu tư phát triển kinh tế biển đảo như sau: Chính sách thu hút đầu tư phát triển kinh tế biển đảo là một tập hợp các văn bản, quyết định, chương trình, hành động, của các cơ quan, các cấp có thẩm quyền, tạo điều kiện môi trường thuận lợi, bình đẳng nhằm quảng bá, xúc tiến, hỗ trợ, khuyến khích các nhà đầu tư bỏ vốn, tài sản, nhân lực,. điều kiện tốt nhất để thực hiện mục đích đầu tư phát triển kinh tế, xã hội biển đảo hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, sử dụng hợp lý, hiệu quả nguồn tài nguyên biển, đảo, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và đảm bảo quốc phòng an ninh. Người ta thường căn cứ vào các lĩnh vực khác nhau để phân loại chính sách theo nhóm, VD: nhóm chính sách về kinh tế, nhóm chính sách xã hội, nhóm chính sách đối ngoại, nhóm chính sách quốc phòng… ở đây có thể xếp chính sách thu hút đầu tư phát triển kinh tế biển đảo vào cả 04 nhóm nói trên vì chính sách này có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống kinh tế, xã hội. * Mục tiêu, nội dung, hình thức của chính sách thu hút đầu tư phát triển kinh tế biển đảo Nhận thức rõ tầm quan trọng của biển, đồng thời để khai thác hiệu quả các cơ hội mà biển đem lại, cũng như giảm những thách thức và nguy cơ đối với tài nguyên và môi trường biển, nước ta đã và đang triển khai nhiều chủ trương, chính sách, giải pháp để đưa nước ta trở thành quốc gia biển mạnh vào năm 2045.
Đại hội lần thứ VIII của Đảng (tháng 6/1996), lần đầu tiên Đảng ta bàn về phát triển các lĩnh vực liên quan đến biển, đặc biệt là các giải pháp đẩy mạnh phát triển kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo. Nghị quyết Đại hội VIII chỉ rõ: “Vùng biển và ven biển là địa bàn chiến lược về kinh tế và an ninh, quốc phòng, có nhiều lợi thế phát triển và là cửa mở lớn của cả nước để đẩy mạnh giao lưu quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài. Khai thác tối đa tiềm năng và các lợi thế của vùng biển và ven biển, kết hợp với an ninh, quốc phòng, tạo thế và lực để phát triển mạnh kinh tế - xã hội, bảo vệ và làm chủ vùng biển của Tổ quốc” [1]. Chính sách thu hút đầu tư phát triển kinh tế biển đảo đã được Đảng và Nhà nước ta nêu ra trong nhiều văn bản như: Quyết định số 120/2007/QĐ-TTg ngày 26/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập và ban hành Quy chế hoạt động của khu kinh tế Vân Đồn tỉnh Quảng Ninh, quy định hoạt động, một số chính sách quản lý nhà nước, quyền, nghĩa vụ, hoạt động đầu tư trên địa bàn với mục tiêu thu hút đầu tư xây dựng và phát triển KKT Vân Đồn gắn với quy hoạch phát triển vùng, đưa Vân Đồn trở thành trung tâm du lịch sinh thái biển đảo chất lượng cao; trung tâm hàng không quốc tế, trung tâm dịch vụ cao cấp và là đầu mối giao thương quốc tế, đóng góp tăng trưởng kinh tế, phát triển bền vững cho tỉnh Quảng Ninh [16]; 10 Nghị quyết số 36-NQ/TW do Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII ban hành ngày 22/10/2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Mục tiêu tổng quát của Chiến lược là: Đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh; đạt cơ bản các tiêu chí về phát triển bền vững kinh tế biển; hình thành văn hóa sinh thái biển; chủ động ứng phó biến đổi khí hậu (BĐKH), nước biển dâng; ngăn chặn xu thế ô nhiễm, suy thoái môi trường biển, tình trạng sạt lở bờ biển và xâm thực; phục hồi và bảo tồn các hệ sinh thái biển quan trọng; tập trung xây dựng và nhân rộng các mô hình khu kinh tế, khu công nghiệp sinh thái ven biển gắn với hình thành và phát triển các trung tâm kinh tế biển mạnh … Chiến lược cũng đặt ra các mục tiêu cụ thể đến năm 2030 cho từng lĩnh vực về: kinh tế biển, xã hội, khoa học, công nghệ, phát triển nguồn nhân lực biển; môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH), nước biển dâng [2]. Trải qua hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, các hoạt động kinh tế biển, các vùng biển, ven biển đang trở thành động lực xây dựng, phát triển đất nước; hệ thống kết cấu hạ tầng được quan tâm đầu tư; đời sống vật chất và tinh thần của người dân vùng biển được cải thiện. Các chính sách thu hút đầu tư phát triển kinh tế biển đảo, các công trình nghiên cứu khoa học, điều tra cơ bản, phát triển nguồn nhân lực về biển đạt được nhiều kết quả tích cực, điều này góp phần không nhỏ tạo ra việc làm ổn định cho khoảng 9 triệu người, thay đổi về cơ cấu ngành, nghề theo hướng hiện đại hóa. Trong khi đó, các chính sách về quốc phòng - an ninh đóng góp rất tích cực vào bảo vệ chủ quyền biển, đảo, kiềm chế được xung đột; công tác đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển được triển khai chủ động, toàn diện, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế biển, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế biển.
Không chỉ quan hệ chặt chẽ với quốc phòng, an ninh, các chính sách thu hút đầu tư phát triển kinh tế biển đảo còn gắn chặt với công tác đối ngoại. Việt Nam tăng cường thúc đẩy quan hệ với các nước, nhất là các nước có lợi ích, có tiềm lực về biển trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo và các lợi ích hợp pháp, chính đáng của quốc gia; chủ động, tích cực giải quyết mọi tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác để phát triển, trong đó có phát triển kinh tế biển. Đồng thời, chúng ta thúc đẩy các hoạt động hợp tác quốc tế trong quản lý, sử dụng, bảo tồn bền vững biển, đại dương và tiếp tục đẩy mạnh hợp tác, tranh thủ sự hỗ trợ của các đối tác, các tổ chức quốc tế và khu vực để phát triển nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng vùng biển, ứng dụng khoa học - công nghệ hiện đại vào các lĩnh vực về biển. Các giải pháp này góp phần giải quyết tranh chấp, xác định rõ quyền lợi của các quốc gia trên biển, tạo điều kiện cho việc phát triển quan hệ và là cơ sở cho việc hợp tác lâu dài; mở rộng hiểu biết, tin cậy, tạo cơ sở thuận lợi cho việc giải quyết tranh chấp, cũng như nâng cao năng lực quốc gia trong việc sử dụng và khai thác, phát triển kinh tế biển bền vững.
* Quy trình thực thi của chính sách thu hút đầu tư phát triển kinh tế biển đảo 11 Quy trình thực thi chính sách thu hút đầu tư phát triển kinh tế biển đảo gồm các bước sau: (i) Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách thu hút đầu tư phát triển kinh tế biển đảo Tổ chức thực thi chính sách là quá trình phức tạp, diễn ra trong một thời gian dài, vì thế cần lập kế hoạch, chương trình để các cơ quan nhà nước triển khai thực hiện chính sách một cách chủ động. Kế hoạch này phải được xây dựng trước khi đưa chính sách vào cuộc sống, các cơ quan triển khai từ trung ương đến địa phương đều phải lập kế hoạch. Kế hoạch đóng vai trò quan trọng trong việc giúp các tổ chức xác định các nguồn lực cần thiết, những hoạt động cần triển khai, thời gian thực hiện và các bên liên quan cần thiết tham gia vào việc thực thi chính sách. Với chính sách thu hút đầu tư phát triển kinh tế biển đảo, bộ máy chính quyền ở cấp Trung ương phải đề ra những chủ trương, đường lối, chính sách mang tính định hướng tổng quát Bộ máy chính quyền ở địa phương căn cứ vào những chủ trường, đường lối, chính sách đã được cấp Trung ương định hướng để xây dựng kế hoạch cụ thể cho từng giai đoạn và hướng dẫn các cấp thấp hơn thực hiện công việc cụ thể (ii) Phổ biến, tuyên truyền về chính sách thu hút đầu tư phát triển kinh tế biển đảo Tuyên truyền vận động nhân dân tham gia thực hiện chính sách là một hoạt động quan trọng, có ý nghĩa lớn với cơ quan nhà nước và các đối tượng thực thi chính sách thu hút đầu tư phát triển kinh tế biển đảo.
Phổ biến, tuyên truyền chính sách tốt giúp cho các đối tượng chính sách và người dân tham gia thực thi hiểu rõ về chính sách để họ tự giác thực hiện; đồng thời, còn giúp cán bộ, công chức, các cơ quan tổ chức thực thi có trách nhiệm tổ chức thực thi chính sách nhận thức được tính chất đầy đủ, trình độ, quy mô của chính sách đối với đời sống xã hội để chủ động tìm kiếm các giải pháp thích hợp cho việc thực hiện mục tiêu chính và triển khai thực hiện có hiệu quả. Việc tuyên truyền cần phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, kể cả khi chính sách đang được thực thi để các đối tượng cần được tuyên truyền luôn củng cố lòng tin vào chính sách và tích cực thực thi chính sách. Việc phổ biến, tuyên truyền chính sách được thực hiện bằng nhiều hình thức như: trực tiếp tiếp xúc, trao đổi với các đối tượng tiếp nhận hoặc gián tiếp qua các phương tiện thông tin đại chúng. Tùy vào điều kiện cụ thể mà có thể lựa chọn hình thức tuyên truyền phù hợp.
Việc làm này cần được tăng cường đầu tư về trình độ chuyên môn, phẩm chất chính trị, trang thiết bị kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng tuyên truyền, vận động. Trong thực tế, có không ít cơ quan, địa phương do thiếu năng lực tuyên truyền, vận động đã làm cho chính sách bị biến dạng, làm cho lòng tin của nhân dân vào nhà nước bị giảm sút. (iii) Phân công, phối hợp thực hiện chính sách thu hút đầu tư phát triển kinh tế biển đảo 12 Tổ chức thực hiện chính sách sách thu hút đầu tư phát triển kinh tế biển đảo cần có sự chung tay thực hiện của nhiều cấp, nhiều ngành ở nhiều lĩnh vực, địa phương khác nhau.