chương 1, điều 4) thì: “Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống”. Trần Thúy Anh: “Du lịch văn hóa là một loại hình chủ yếu hướng vào việc quy hoạch, lập trình, thiết kế các tour lữ hành tham quan các công trình văn hóa cổ kim”. (Trần Thúy Anh, 2004, tr. 22) Như vậy, có thể hiểu du lịch văn hóa là một loại hình du lịch dựa vào việc khai thác các tài nguyên nhân văn của một vùng, một quốc gia nhằm thỏa mãn những nhu cầu nhận thức thẩm mỹ của con người khi đi du lịch.
Dựa trên cơ sở tài nguyên du lịch văn hóa, các loại hình du lịch văn hóa được chia thành: du lịch lễ hội; du lịch tôn giáo; du lịch tham quan di tích, thắng cảnh; du lịch khai thác các loại hình nghệ thuật truyền thống; du lịch làng nghề; du lịch tham quan các bảo tàng, lịch sử di tích văn hóa… Khái niệm về du lịch tâm linh Vukonic (1996) cho rằng du lịch tâm linh không những cơ hội giúp cho con người thỏa mãn nhu cầu giao tiếp với môi trường tự nhiên, xã hội và giao tiếp với thần linh tâm linh, mà còn sử dụng thời gian du lịch như một cuộc hành trình tâm linh. (Dương Quế Nhu, Nguyễn Tri Nam Khang, 2013.1-10) Aggarwal el al. (2008) giải thích rằng tâm linh có nghĩa là có niềm tin, là sự tôn sùng đối với một tôn giáo nào đó hay đơn giản là niềm tin về ý nghĩa cuộc sống. (Varun Aggarwal, 2013) Thượng tọa Thích Đạo Đạo trong đề tài tham luận Hoằng pháp với vấn đề du lịch tâm linh cho rằng: “Du lịch tâm linh tìm hiểu văn hóa, giá trị truyền thống.
Thăm viếng bằng tâm trí, trái tim. Nuôi dưỡng và mở rộng sự hiểu biết hướng về cái thiện, hòa hợp với thiên nhiên, đồng loại, chúng sinh. Nâng cao được giá trị tâm hồn, hiểu rõ hơn về tâm linh, cụ thể đối với Phật giáo chúng ta là hiểu hơn về chân lý giải thoát, giá trị chân thực của cuộc sống hiện tại”. Trong bài phát biểu tại Hội nghị quốc tế về du lịch tâm linh vì sự phát triển bền vững diễn ra tại Ninh Bình ngày 21 – 22/11/2013, ông Nguyễn Văn Tuấn, Tổng cục trưởng, Tổng cục Du lịch Việt Nam cho rằng: “Xét về nội dung và tính chất hoạt động, du lịch tâm linh thực chất là loại hình du lịch văn hóa lấy yếu tố văn hóa tâm linh vừa làm cơ sở vừa làm mục tiêu nhằm thỏa mãn nhu 8 cầu tâm linh của con người trong đời sống tinh thần.
Theo cách nhìn nhận đó, du lịch tâm linh khai thác những yếu tố văn hóa tâm linh trong quá trình diễn ra các hoạt động du lịch, dựa vào những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể gắn với lịch sử hình thành nhận thức của con người về thế giới, những giá trị về đức tin, tôn giáo, tín ngưỡng và những giá trị tinh thần đặc biệt khác”. Theo đó, du lịch tâm linh mang lại những cảm xúc và trải nghiệm thiêng liêng về tinh thần của con người trong khi đi du lịch. Khái niệm du lịch văn hóa tâm linh Du lịch văn hóa tâm linh không phải là một vấn đề mới mẻ mà thực chất hoạt động du lịch tâm linh đã có mặt hàng trăm năm nay trên khắp thế giới. Xưa nay, mọi người vẫn quen dùng danh từ hành hương để nói về chuyến đi của mình.
Nhưng trong các chuyến hành hương đó, ngoài mục đích tín ngưỡng tâm linh, người đi hành hương còn được thưởng ngoạn những cảnh đẹp kỳ thú của thiên nhiên, được tiếp cận với những phong tục tập quán của đời sống cư dân địa phương và được hưởng các tiện ích của dịch vụ du lịch. Theo Sharpley và Sundram (2005): “Du lịch văn hoá tâm linh là hoạt động du lịch được xuất phát từ những lý do tín ngưỡng, tôn giáo chẳng hạn như lễ hội, hành hương, yoga và những nơi thần thánh”. (Hàn Tất Ngạn, 1999) Như vậy, du lịch văn hóa tâm linh là sự kết hợp giữa du lịch và tâm linh - tín ngưỡng. Đây là hai nhu cầu cần thiết trong đời sống của con người, nhằm mang lại nét đẹp cho cuộc sống đi đôi với sự thăng hoa trong tâm hồn.
Du lịch văn hóa tâm linh phải lưu ý các điểm sau: - Du lịch văn hóa tâm linh là loại hình du lịch văn hóa nhưng khai thác các đối tượng tôn giáo, tín ngưỡng tâm linh vào hoạt động du lịch nhằm thỏa mãn các nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo, tham quan, tìm hiểu và nâng cao nhận thức của du khách. - Hoạt động của du lịch văn hóa tâm linh phải dựa trên nguyên tắc tôn trọng và giữ gìn các giá trị văn hóa bao gồm cả giá trị vật chất và giá trị tinh thần. Trong quá trình hoạt động du lịch phải không ngừng bảo tồn các di tích có ý nghĩa tín ngưỡng tôn giáo như: chùa, đình, đền, nhà thờ. hay các nghi lễ truyền thống, lễ hội, văn hóa nghệ thuật, ẩm thực.
Vì đó là đối tượng chính tạo nên sản phẩm du lịch văn hóa tâm linh hấp dẫn du khách.2 Điểm đến của du lịch văn hóa tâm linh 9 Đối với loại hình du lịch văn hóa tâm linh, điểm đến du lịch là nơi tập trung một loại hình du lịch văn hóa tâm linh nào đó phục vụ du lịch. Thông thường, điểm đến chủ yếu là các di tích gắn với tôn giáo và tín ngưỡng như chùa, đình, đền. Di tích tôn giáo - Văn Miếu Văn Miếu là công trình kiến trúc thuộc loại hình di tích Nho giáo. Đây là công trình kiến trúc công cộng để thờ Khổng Tử và các bậc tiên nho, tiên triết; không chỉ có giá trị về lịch sử mà còn là nơi bảo tồn, lưu giữ các hiện vật văn hóa quý báu của cha ông, bảo lưu các hoành phi, câu đối với nội dung phần lớn để tôn vinh đạo học, khuyến học, khuyến tài và ca ngợi Khổng Tử.
Ngoài ra còn bao gồm hệ thống các trường học, trường thi mà ở đó diễn ra quá trình đào tạo và tuyển chọn nhân tài dưới các triều đại phong kiến Việt Nam. - Chùa Trong các kiến trúc tôn giáo ở Việt Nam, nơi thờ Phật được gọi là chùa phân biệt với đền, miếu hoặc nhà thờ, chỉ nơi thờ các vị thần thánh trong các tín ngưỡng tôn giáo khác. Chùa là nơi tập trung của các sư, tăng, sinh hoạt, tu hành và thuyết giảng đạo Phật. Ở nơi này mọi người kể cả tín đồ hay người không theo đạo đều có thể đến thăm viếng, nghe giảng kinh hay thực hành các nghi lễ tôn giáo.
Hiện nay, chùa trở thành điểm du lịch thu hút du khách. Chùa từ lâu đã trở thành sản phẩm du lịch văn hóa của ngành du lịch. Tiềm ẩn nhiều giá trị, ngôi chùa mang trong mình tính đa dạng về cảnh quan, kiến trúc, trang trí, nội thất. Sự đa diện trong sinh hoạt văn hóa thông qua các lễ hội, sinh hoạt của tăng chúng – phật tử, văn hóa ẩm thực,.
phản ánh những ảnh hưởng của giáo lý nhà Phật. Vì vậy, di sản văn hóa Phật giáo là một giá trị có khả năng tạo nên những lực hút thúc đẩy du lịch phát triển, nhất là du lịch văn hóa tâm linh. Du khách đi du lịch đến các di tích Phật giáo như chùa tháp để thực hiện những ý niệm thiêng liêng cũng như nâng cao hiểu biết về tôn giáo này thông qua các đối tượng cụ thể như kiến trúc, điêu khắc, tượng thờ, di vật. - Nhà thờ Kitô giáo Nhà thờ Kitô giáo thường được gọi là thánh đường.
Tùy theo tính chất, điều kiện và đặc thù của các địa phương mà nhà thờ có nhiều cấp độ khác nhau. 10 Nhà thờ Kitô giáo được chia thành 4 hạng: nhà thờ chính tòa, nhà thờ chính xứ, nhà thờ chính họ, nhà nguyện (chuyên đọc kinh trong đó, bao gồm nhà nguyện công, nhà nguyện tư, nhà nguyện dòng). Khác với các công trình kiến trúc của các tôn giáo, tín ngưỡng phương Đông thường bài trí thờ ngang trong công trình, nhà thờ Kitô giáo thường kết cấu thờ dọc tạo sự hướng tâm. Bình đồ của nhà thờ phải phục vụ cho các nghi lễ và cả tín đồ tụng niệm.
Vì vậy, kiến trúc của nhà thờ dù lớn hay nhỏ đều chia thành ba khu chính: buồng áo; gian thánh; khu hội chúng. Di tích tín ngưỡng - Đình Đình là kiến trúc công cộng của làng. Kiến trúc được dựng lên làm nơi thờ thần của làng và là nơi diễn ra lễ hội làng, là nơi họp bàn công việc của làng. Kiến trúc được gọi tên là đình, tên đó bắt nguồn từ tên gọi dịch đình, đình trạm.
Ở nơi nào thuận tiện cho việc đi lại chợ búa phát triển, ngôi đình trạm biến thành ngôi đình chợ, ngôi đình trạm nào gần làng thì biến thành ngôi đình làng, hoặc làng dựng những kiến trúc riêng của làng gọi là đình làng để làm nơi thờ thần và họp làng. Thờ thần trong các ngôi đình làng người Việt là thần sông, thần núi, thần là vị có công đánh giặc, là tổ nghề, là người lập ra làng, có sự tích cụ thể. Cũng từ thời Lê, nhà nước phong kiến bắt đầu phong sắc cho các thần ở các làng, gọi chung là thần thành hoàng. Cái tên thần thành hoàng là từ bên trên dội xuống cho làng.
Cái tên là do ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa cổ. Ở bên nước đó, nơi dân cư trú có thành và hào bao bọc. Người ta thờ thần bảo vệ làng gọi là thần thành hào. Lâu ngày sang ta gọi là thần thành - hoàng để tỏ ý tôn kính thần.
Cùng với chức năng trên đình còn gọi là trụ sở hành chính của làng. - Đền Đền là kiến trúc được dựng lên để thờ thần. Đền là tiếng biến âm từ chữ điện trong tiếng Hán. Đền tiếng Hán cũng gọi là từ.
Nhà thờ họ cũng gọi là từ đường. Đền không phải là kiến trúc phổ biến của làng, nhiều làng không có đền, nhiều làng lấy đền thay đình. Đền được kiến trúc cũng giống như đình, cũng có nội điện (nhà hậu cung) và đại bái (thượng điện) nhưng với quy mô nhỏ. Hai bên tả hữu thường hẹp, có đặt nhiều bàn thờ để người đến lễ bầy lễ vật dâng hương.
- Miếu 11 Miếu thường có ba loại. Miếu thờ thần tự nhiên: thần cây, thần đá, thần núi, thần sông, thần giếng. Miếu thờ tổ ngành nghề, văn chỉ, văn miếu, thờ - Khổng Tử người lập ra Nho giáo, thờ các thầy dạy nho học. Võ miếu thờ quan võ.
Y miếu thờ ông tổ về y học.