mở đầu nghiệp văn của ông. Từ đó ông hăm hở đến các bản Mường, vạch lau lách mà di, sẵn quan mà lội suối, chống gậy mà leo vách đá. dé ghi lại từng chi tiết của cuộc sống, dé trải nghiệm mà viết. Cứ thế ông cần cù, bền bi, chat chiu từng giọt tinh túy của cuộc sống rồi bay lên tác phẩm.
Ông viết, xuất hiện đều đặn trên các mặt báo và nhanh chóng chiếm được cảm tình của độc giả. Thời gian ngồi trên ghế trường Đại học Sư phạm đã giúp ông thâm thía, nhận ra răng, chi lao vào đời sống “cày sâu cuốc bam” nó thôi thì vẫn chưa đủ, khó mà vươn xa được, mà phải học thây cô, bạn bè, học từ sách vở nữa. 16 Khi kiến văn được mở rộng, vốn sống trực tiếp được bổ sung bang vốn tri thức, thì tác phẩm sẽ trở nên cứng cáp, có sinh lực dồi dào và bên bi, sống mãi với thời gian. Với ông, dường như có sự tương hợp giữa thành nhân và đắc đạo văn chương.
Viết, trải nghiệm, đau đớn rồi lại viết. Cứ thế các tác phẩm, những đứa con tinh thần của ông ngày càng lớn lên, đồ sd, lừng ling đứng chung vào hàng ngũ những tác phẩm của các nhà văn gạo cội của nước nhà. Ông nói: Viết văn thì phải đau mới viết được. Đau thì mới thấy thắm thía, mới bật ra được.
Và như vậy tác phẩm mới hay, mới đậm chất nhân văn, chứ cứ nhơn nhon với những thú vui ngoài xã hội thì lay đâu ra tác phẩm hay. Và ông đã thực sự đau đớn sau những trải nghiệm trên đường đời, để khi quay lại chốn đô thị phồn hoa, ông đã giúp chúng ta nhận diện chính xác cơn biến động của lịch sử, những gương mặt thị dân, bon trí thức rom, bọn hom hinh. Ông đã vẽ lên khá đầy đủ bức tranh của sự biến động xã hội, khi những giá trị truyền thống từng ngày bị phá vỡ bởi sự xô đây của tiến trình lịch sử; sự tha hóa của đạo lí nhân sinh; sự giang xé giữa cái tốt và cái xấu, giữa cái ti tiện và lòng nhân ái. Đối với Ma Văn Kháng, viết văn trước tiên là câu chuyện về số phận con người, sự đấu tranh của mỗi người dé hướng tới cái đẹp, cái thiện.
Thấp thoáng trong các trang sách, người đọc có thé nhìn ra nỗi buôn, nỗi đau đời của riêng ông, nhưng trên tất cả đó là những ưu tư của ông trước nhân tình thế thái. Ông thực sự muốn dùng sức mạnh ngòi bút của mình dé mang tới những giá trị nhân văn cho con người, vì con người ở nghĩa rộng lớn nhất. Ông quan niệm vì một điều rất đơn giản: “Con người sống không chỉ là dé làm dep cho cuộc sống, không chi dé ra nụ ra hoa mà sống còn là dé chịu thương tích nữa — đó là quy luật của xã hội. Sống là đấu tranh, tranh đấu sẽ có thương tích.
Tôi không muốn một cái đẹp dé dai. Cái đẹp ấy phải mang mau sắc bi tráng. Cái đẹp ấy đều trải qua những mat mát, thiệt thòi, thậm chí hi 17 sinh, bị vùi đập đến mức không còn chỗ đứng. Thế nhưng họ vẫn vươn lên khang định nhân cách chính mình.
Đó chính là cái đẹp rất cơ bản. 77 tuôi đời sống chung với thuốc và những cơn đau tim, ông không còn khỏe về thể chất, song sức viết sức nghĩ của ông thì có lẽ nhiều người trẻ cũng phải chào thua. Gần đây, khi đã qua tuổi 70, nhà văn Ma Văn Kháng vẫn tiếp tục cho ra đời hai cuốn tiểu thuyết được viết theo phong cách hoàn toàn mới là Bóng đêm và Bến bờ. Với hai tác phẩm ấy, ông muốn chuyên chở những tâm huyết, những vấn đề của số phận con người, những mặt trái, những dòng chảy đang tiềm ấn phức tạp đến với bạn đọc.
Nhà phê bình văn học Lại Nguyên Ân nhận xét: “Có thể nói trong số những cây bút cùng thời với anh, có người đã bỏ nghề, cũng có người viết thưa đi. thế nhưng Ma Văn Kháng vẫn cặm cụi tìm tòi và kiên trì viết đều lên, rất đều đặn. Và thật lạ, những tác phẩm của anh đều gây được chú ý. Thành ra Ma Văn Kháng đã thu được một kết quả khả quan về mặt sáng tác.” Một điều có thê nhận thấy dù cho gắn bó với miền núi hay thành thị thì chính Ma Văn Kháng cũng đang tự trải mình với từng nhân vật, từng câu chuyện, từng hoàn cảnh.
làm giàu kho tàng ngôn ngữ của mình và để cho đời nhiều tác phẩm hơn nữa. Và giờ đây, khi đã ở cái tuổi xưa nay hiém Ma Văn Kháng vẫn dành sự tận tâm, lòng say mê nghệ thuật và dau dau với nghiệp viết, ông đã và đang tiếp tục có những đóng góp đáng kể cho nền văn học đương đại Việt Nam. Sự nghiệp Ma Văn Kháng có một sự nghiệp văn chương đồ sộ cả về số lượng tác phẩm và thành tựu: 15 tiêu thuyết, 25 tập truyện ngăn và 1 hồi ký, tính ra ông đã viết hàng vạn trang văn trong đời mình. Hàng vạn trang văn ấy chỉ dé giữ lại một điều cuối cùng, là con người hãy đến với nhau băng sự tử tế, băng tình yêu vô tư và vô điêu kiện.
Đó cũng là muôn kết tinh từ những thang năm vat 18 vả khô sai với con chữ của nhà văn, mà thực tế trai nghiệm là một minh chứng. Ma Văn Kháng thực sự “sống đã rồi hãy viết” — như tâm nguyện của mình. Roi Hà Nội khi tuôi đời còn rat trẻ, ông đã chọn nghề dậy học ở một vùng dat xa lạ với mình về văn hóa, là Lào Cai. Và rồi với trái tim căng mở của người trí thức, với đôi chân ham đi và cặp mắt không ngừng quan sát, ông đã luôn dành chỗ trong tâm hồn cho những bài ca của các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc tô quốc ngân vang, trở thành chất liệu vàng ròng làm nên những tác phẩm văn học nổi tiếng sau này như: Đồng bạc trắng hoa xòe, Vùng biên ải, Gặp gỡ ở La Pan Tan, Một mình một ngựa.
Ông là nhà văn tiêu biểu viết về miền núi, không chỉ bởi cái bút danh Ma Văn Kháng, mà còn bởi khi viết về một dân tộc, một vùng đất, ông đã không “viết hộ hay viết thuê, mà viết cho chính mình”. Hơn 20 năm làm nghề dạy học ở miền núi, Ma Văn Kháng thực sự đã chọn con đường khó để đi, vì ông hiểu không có những trả giá thật sự trong đời sống, nhà văn không thé có những trang viết hay. Trên vai người thầy Ma Văn Kháng chưa khi nào chỉ là giáo án day học, ma còn là những cuốn số ghi chép tỉ mỉ những tư liệu về lịch SỬ, con người, cuộc song cua mot vung dat, những tran trở, day dứt về sỐ phận dân tộc, sé phan con người. Không chi dậy học trò vùng cao con chữ ma Ma Văn Kháng còn tự đào tạo mình một cách nghiệt ngã, dé trở thành nhà văn.
Có thể khăng định rằng hành trình sáng tác của Ma Văn Kháng được đánh dấu từ truyện ngắn PAd cut in trên Báo Văn nghệ 1961. Tuy nhiên truyện ngăn có tính chất ghi dau ấn sâu sắc đối với Ma Văn Kháng, theo đó, đã ảnh hưởng trực tiếp tới quyết định đi theo văn nghiệp của ông sau nảy lại là Xa phú (1969). Chính nha văn bộc bạch: “Xa Phu, cái mốc son trên con đường di tới văn chương của tôi! Cảm hứng từ truyện ngăn này được nuôi 19 dưỡng, trở thành xung lực mạnh mẽ khiến tôi viết được cả loạt truyện ngắn tiếp theo với nhân vật, cuộc sông là vùng đồng bào các dân tộc, dé năm 1969 tôi được nhà xuất bản văn học in cho tập truyện ngắn đầu tay cũng mang tên Xa phit” [11, tr. 184]; và liền ngay sau đó ông tiếp tục cho ra đời 4 tập truyện ngắn: Mùa man hậu (1972); Người con trai ho Hạng (1972); Bài ca trăng sáng (1972); Cái móng ngựa (1974).
Năm 1974 Ma Văn Kháng trở thành Hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Một năm sau khi đất nước thống nhất, năm 1976, Ma Văn Kháng tạm biệt mảnh đất Lào Cai — miền Tây Bắc của tô quốc đề về chính nơi ông được sinh ra: Hà Nội. Có thé nói 22 năm ấy “biết bao là tình” nhưng cũng còn đó không ít “nhọc nhăn”, “nhớ thương”. Có lẽ, khi đã tạm biệt mảnh đất Tây Bắc rồi, nhìn chặng đường đã qua, để bắt đầu đi tới, Ma Văn Kháng đã không thể dự cảm hết được những khó khăn đang chờ ông trước mắt.
Về Hà Nội, có thê là cơ hội to lớn mở ra với bao nguoi, song cuộc đời vốn vẫn muốn thách thức ông, một con người luôn cháy ngời lý tưởng đẹp đẽ. Và tình yêu cuộc sống đến không cùng ông đã phải đối mặt với bao nỗi nhọc nhan mưu sinh, thé sự dường như là quá sức đối với con người. Nhưng chính những giai đoạn đan kết bao khó khăn khắc nghiệt và đáng nhớ nhất này cộng với khoảng thời gian trên 20 năm sống tại Lao Cai đã thôi thúc mạnh mẽ ngòi bút ông ghi lại: đó là những câu chuyện thấm đẫm chất đời, tình người và dư vang của một thời kỳ lịch sử xã hội còn chưa thoát ra khỏi những nỗi dau, sự nhọc nhan. Chính nha văn thừa nhận, đại ý: thời kỳ này dù có quá nhiều khó khăn trong cuộc sống đối với tôi, song nhìn lại, tôi thấy đó là một may mắn.
May mắn là ở chỗ , tôi được tôi luyện trong một thời kỳ lịch sử quan trọng — đất nước tiến hành đổi mới — giai đoạn mở ra nhiều vấn đề lớn lao cho người sáng tác khơi dòng, cộng với sự trải nghiệm của 20 năm cầm bút và sự thay đôi mang tính bước ngoặt trong mỹ cảm của nhà nghệ sỹ, hơn thế, khi ấy cộng với độ chín của tuổi nghề đã giúp tôi có sức bật lớn. Vì 20 vậy, có thé khang định rằng: đây là thời kỳ nở rộ của truyện ngắn Ma Văn Kháng. Hàng loạt tác phâm đã ra đời trong giai đoạn này và đã dé lại nhiều dư vang trong lòng người đọc như: Ngày đẹp trời (truyện ngắn 1986), Vệ sỹ của Quan Châu (truyện ngăn 1988), Trái chín mùa thu (truyện ngắn 1988), Céi cut giữa cảnh đời (tiêu thuyết 1989), Chó Bi, đời lưu lạc (tiêu thuyết 1992), Heo may gió lộng (truyện ngắn 1992), Trăng soi sân nhỏ (truyện ngắn 1994), Ngoại thành (truyện ngắn 1996), Truyện ngắn Ma Văn Kháng (tuyên tập 1996).