phần mở đầu, Páo — nhân vật “ tôi” trong truyện đã tâm sự: “ Tôi sinh ra ở núi rừng. Tôi ăn học ở thành phó. Núi rừng là tuổi thơ tôi. Thành phố là tuổi thanh xuân của tôi.
Núi rừng ở sau lưng. Thành phố ở trước mặt. Tôi đang đi từ phía trước mặt về phía sau lưng. Đi về dong Lô, dòng sông quê tôi.
Những lời tự bạch đó đã tạo điều kiện cho người đọc nhanh chóng nhận ra nỗi bồi hồi của đứa con “núi rừng” khi trở về nơi bắt đầu của tuổi thơ mình. Từ tâm trạng đó, chàng trai dé cho xúc cảm của mình trôi di trong đêm cá nồi với những “tiếng lóc tóc lách tách .tiếng quay dap um um” của bầy cá chép “lúc nhúc chen nhau vào đám rễ cây”, với “tiếng hát “phươn” trong vắt mà thanh, nhẹ như sợi chỉ căng ra giữa cái rét cắt da cắt thịt” [28;131 — 132]. Chính những hình ảnh thân thuộc của quê hương này khiến nhân vật “tôi” trở nên ngập ngừng, phân vân và day đứt giữa “Núi rừng ở sau lưng” và “Thành phố dang ở trước mặt” [28;123]. Hình ảnh khép lại truyện ngắn này: “Tôi định chạy trở lại phía sông nhưng mặt trời đã lên mà vang trăng van còn thấp thoáng phía chân trời.” khiến người đọc cũng xao xác với tâm trạng của nhân vật chính.
Cũng là dạng thức người ké chuyện trực tiếp lộ điện ở ngôi thứ nhất, bên cạnh cái “ tôi “ trải nghiệm, trong truyện ngăn đơn tuyến của Đỗ Bích Thúy còn sử dụng một kiểu chủ thể tự sự khác: đó là cái “ tôi ” người chứng. Không giống như cái “tôi” trải nghiệm, cái “ tôi ” người chứng chỉ giữ vai trò như một người quan sát, một chứng nhân trong câu chuyện và kê lại những gì mình biết, mình chứng kiến. Dạng thức này, theo khảo sát ban đầu của chúng tôi chỉ xuất hiện trong một truyện ngắn có tên Cạnh bếp có cái mudi gỗ của Dé Bích Thúy. Truyện kể về nỗi bất hạnh trong cuộc đời Mai.
Từ nhỏ, Mai luôn ao ước có được một chiếc muôi gỗ - thứ đồ dùng thường ngày đơn sơ nhưng chỉ người đàn ông mới làm được. 13 Nhưng bố Mai mất sớm, nhà cô thiếu văng đàn ông nên “ cái muôi gỗ cũ mòn vẹt một góc cứ phải dùng mãi ”. Thực chat, sâu thắm trong lòng, từ khi còn là một cô bé, Mai đã mong muốn có được một chỗ dựa vững chắc, có được một người chở che. Nhưng ngay cả khi đã lấy chồng, ước mong của Mai cũng không thành hiện thực.
Chỉ vì sinh nở đến lần thứ ba vẫn là con gái mà chồng Mai đã bỏ đi. Mai âm thầm, nhẫn nhịn chịu đựng nỗi đau bị ruồng bỏ dé nuôi ba đứa con gái. Và đường như trong lòng cô đã thôi ước mong một chiếc mudi gỗ mới. Ở đây, người ké chuyện xưng “ tôi ” không đóng vai trò là nhân vật chính, không tham gia vào diễn biến các sự kiện.
Anh chỉ là một người bạn của Mai. Những việc tận mắt nhìn thấy trong một buổi chiều muộn trở về bản đã cho anh hiểu hơn cuộc đời người bạn gái thân thiết thuở nhỏ. Bắt dau là sự hoài nghi về thái độ của người đàn ông râu ram — chủ quán thắng cố trên chợ huyện - mà anh không nhớ đã gặp ở đâu đến ngôi nhà “phải cúi người mới không chạm đầu vào khung cửa. Khoi quân trong nhà không có lỗi ra ” của mẹ con Mai và cuối cùng là câu nói của đứa con gái lớn của Mai khi được hỏi về bố ở đâu : “ người bản đi chợ huyện bảo gặp ở đấy”.
Tất cả đủ cho nhân vật “tôi ” hiểu ra số phận hâm hiu với những nỗi đau câm lặng trong lòng Mai. Cái “tôi” người chứng trong truyện ngăn này khi chứng kiến cuộc sống của nhân vật chính chưa một lần lên án người chồng, cũng không trực tiếp bày tỏ sự cảm thương với bạn. Song qua những lời ké về huyền thoại nguồn nước của người Mông, sự hồi tưởng tuổi thơ và những quan sát tinh tế về cảnh sắc, về cuộc sống xung quanh Mai, nhân vật “tôi” đã tự bộc lộ bản chất nhạy cảm, giàu lòng trắc ấn của mình. Với điểm nhìn hướng nội này, cái “tôi” người chứng ở đây đóng vai trò là người định hướng cho độc giả đi theo mạch cảm xúc, suy tư của mình dé tiép cận một con người, một cuộc đời.
Theo chúng tôi, đây cũng là một kĩ thuật trần thuật mà nhà văn sử dụng khá thành công trong việc xây dựng kết cau đơn tuyến cho truyện ngắn của mình. Sau những mùa trăng cũng là một truyện ngắn được xây dựng theo kết cấu đơn tuyến của Đỗ Bích Thúy. Nhà văn cũng tổ chức điểm nhìn cho tác phẩm theo cách “hướng nội” với người kể chuyện xưng “tôi” đồng thời là nhân vật chính. Tuy nhiên cái “tôi” trong truyện ngắn này lại có sự luân phiên giữa hai vai trò: trải nghiệm và người chứng.
Lần — nhân vật xưng “tôi” trong truyện sau bao nhiêu mùa trăng xa nhà nay trở về. Và trong chuyến thăm nhà đó, anh đã chứng kiến nỗi cô đơn, niềm khao khát yêu thương dang dan vặt trong tâm can người chị dâu sớm góa bụa và đang ở độ tudi dep nhất của cuộc đời. Anh thấu hiểu điều đó khi nhận ra sự đổi thay trên gương mặt, trong từng cử chỉ của người chị dâu khi “tiếng khèn lá vẫn réo rắt từng đêm, từng đêm”. Dường như chị đang tìm mọi cách 14 dé ngọn lửa trong lòng mình không bùng cháy.
Sự “cuống quýt” rồi “than thờ” với “cặp mat như mắt người say rượu” của người chị dâu đã gieo vào lòng người em chồng sự xót xa đến quan thắt. Và lúc này, nhân vat “tôi” không còn đứng ngoài làm người quan sát nữa. Anh ta đã tham dự vào câu chuyện bằng hành động day kịch tính “vùng dậy, lao như một con thú ra cửa, giằng tay chị ra khỏi mớ dây lanh bùng nhùng” và đuổi đi “thằng con trai còn rất trẻ” hang đêm vẫn thối khén lá gọi chị. Hành động này tất yếu phải xảy ra bởi từ khi trở về, chứng kiến vẻ đẹp căng tràn sức sống và thấu hiểu nỗi cô đơn, sự khao khát hạnh phúc an sau dáng vẻ cam chiu của người chi dau, trong long “tôi” đã nhen nhóm một thứ tình cảm đặc biệt.
Và tình cảm ấy càng ngày càng rõ nét khiến anh ta có những hành động quyết liệt với mong muốn giữ chân người chị dâu mãi trong nhà mình. Song cả anh ta và chị dâu đều không thé vượt qua định kiến để thay đổi cuộc đời mình. Và việc ra đi vào cuối mùa trăng có thể coi là sự bế tắc của “tôi”. Bởi anh không đủ sức mạnh bước qua lề thói đã tồn tại hàng ngàn năm nay.
Bởi anh ra đi sẽ mang theo một nỗi niềm day dứt mới. Và bởi người chị dâu góa bụa sẽ vẫn lặng lẽ, nhẫn nhục chịu đựng nỗi cô đơn. Như vậy đã rõ, càng gần đến cuối truyện, nhân vật “tôi” không chi là chủ thể của diễn ngôn mà trở thành chủ thé của hành động. Những gì anh ta đã thấy, đã trực tiếp trải qua không chỉ giúp anh cảm thông với những bức bối trong lòng người đàn bà góa bụa trẻ mà còn tự nhận ra lòng mình “bỏng rát” như viên sỏi mà chị dâu trao trước lúc đi.
Có thé nói, sự phối hợp hai vai trò của người kế chuyện trong tác phẩm này không chỉ đảm bảo cho cốt truyện đi theo một tuyến sự kiện nhân — quả mà còn cho người đọc cảm giác như đang tiếp xúc trực tiếp với những góc khuất trong tâm hồn của những người bằng xương bang thịt thật chứ không phải là nhân vật trên trang giấy. Trên đây, chúng tôi đã đề cập đến kết cấu đơn tuyến trong một số truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy. Chúng tôi nhận thấy thông thường những truyện ngắn chỉ phát triển theo một tuyến sự kiện nếu không có giải pháp tối ưu về hình thức trần thuật sẽ gây ra sự đơn điệu. Nhưng những truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy đã tránh được nhược điểm này.
Theo chúng tôi, điều đó có được là do nhà văn đã đặt điểm nhìn của người ké chuyện ngôi thứ nhất ở vị trí “hướng nội” và sử dụng khá linh hoạt vai trò trải nghiệm hay chứng kiến của nhân vật này trong các câu chuyện. Bên cạnh đó, những truyện ngắn đơn tuyến của nữ nhà văn này còn hấp dẫn người đọc bởi ngôn ngữ, giọng điệu riêng cũng như cách chị khéo léo khai thác những trạng thái cảm xúc của các nhân vật. Và những van dé này, chúng tôi sẽ đề cập cu thé hơn ở những phần tiếp theo của luận văn.2 Kết cấu tâm lí: Day là kiểu kết cau của những tác phẩm có cốt truyện rat ít, thậm chí không có các sự kiện, biến cố. Ở kiểu truyện này, cái đích mà các nhà văn muốn hướng tới để làm sáng tỏ không phải ở những sự kiện của đời sống mà chính là những vận động trong tâm hồn con người.
Đó là những cung bậc khác nhau của cảm xúc, là những suy tư, trăn trở, day dứt hay những nỗi niềm thương mến, đớn đau. trong thế giới nội tâm nhiều biến động phức tạp. Khi cốt truyện đã không còn đóng vai trò quan trọng bậc nhất thì phân tích diễn biến tâm trạng, tâm lí của nhân vật trở thành phương tiện nghệ thuật chủ yếu trong việc xây dựng cốt truyện. Kiểu kết cấu tâm lí thực chất không còn xa lạ với văn học Việt Nam đặc biệt ở mảng văn xuôi.
Bởi theo nhiều công trình nghiên cứu, kiểu kết cấu này xuất hiện ở nước ta vào những thập niên đầu thé ki XX. Hồ Biểu Chánh được coi là tác giả sớm nhất chú ý đến việc miêu tả tâm lí nhân vật trong sáng tác của mình. Và đến giai đoạn 1930 — 1945, tổ chức tác phẩm theo sự vận động của tâm lí đã định hình rõ nét trong truyện ngắn của Thạch Lam, Thanh Tịnh. Cho đến nay, cốt truyện và kiểu kết câu tâm lí được sử dung khá phổ biến trong truyện ngăn Việt Nam.
Và Đỗ Bich Thúy là một trong những cây bút nữ tiếp thu và phát triển khá thành công kiểu kết cấu này. Bằng tâm hồn nhạy cảm, trái tim nhân hậu, giàu yêu thương và cảm thông, Đỗ Bich Thúy viết về cuộc sống và con người nơi vùng đất mà chị sinh ra và lớn lên như một cách dé trả nợ ân tình, dé voi đi nỗi nhớ trong lòng mình.