Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 ghi nhận bước chuyển biến từ phạm trù văn học trung đại sang nền văn học hiện đại với sự xuất hiện của nhiều cây bút hiện thực phê phán như Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng. Trong dòng chảy văn học đô thị nửa đầu thế kỷ XX, Nguyễn Đình Lạp (1913 - 1952) là tác giả khẳng định phong cách riêng khi kết hợp nhuần nhuyễn kỹ thuật điều tra xã hội học của thể loại phóng sự vào cấu trúc tiểu thuyết. Hai tác phẩm Ngoại ô (1941) và Ngõ hẻm (1943) được xây dựng trên bối cảnh không gian làng Bạch Mai ven đô Hà Nội — nơi tác giả sinh ra và gắn bó — phản ánh chân thực số phận của tầng lớp thị dân nghèo dưới ách thống trị thực dân phong kiến.

Khóa luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành Văn học Việt Nam của tác giả Trần Khánh Linh (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, năm 2018, người hướng dẫn: ThS. Nguyễn Phương Hà) tập trung nghiên cứu đề tài dân nghèo thành thị qua hai tiểu thuyết trên.

Văn bản xác định hệ thống mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  • Mục đích nghiên cứu:
    1. Làm rõ bức tranh hiện thực đời sống dân nghèo thành thị trong xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX, đặc biệt là giai đoạn 1930 - 1945 từ bối cảnh lịch sử xã hội.
    2. Khẳng định tài năng văn học của Nguyễn Đình Lạp ở thể loại tiểu thuyết và những đóng góp của ông về đề tài dân nghèo thành thị trong văn học hiện thực phê phán.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Phân tích các phương diện nội dung thể hiện đề tài: hiện thực đời sống cơ cực, bức tranh sinh hoạt - phong tục, và hiện thực con người với những số phận bất hạnh cùng phẩm chất tốt đẹp.
    2. Phân tích các phương diện nghệ thuật đặc trưng: nghệ thuật xây dựng nhân vật (ngoại hình, tâm lý), ngôn ngữ dân dã đời thường và các giọng điệu trần thuật chủ đạo.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
    • Đối tượng nghiên cứu: Hình tượng dân nghèo thành thị trong tác phẩm của Nguyễn Đình Lạp.
    • Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát trực tiếp qua văn bản hai tiểu thuyết Ngoại ô (1941) và Ngõ hẻm (1943).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận đối tượng dưới góc độ thi pháp học và xã hội học văn học, đặt tác phẩm trong mối tương quan với trào lưu văn học hiện thực phê phán 1930 - 1945 và đặc trưng thể loại tiểu thuyết - phóng sự. Hệ thống khái niệm công cụ bao gồm: hiện thực đời sống, số phận nhân vật, nghệ thuật miêu tả tâm lý, ngôn ngữ sinh hoạt và giọng điệu trần thuật (dẫn chiếu theo Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi).

Tác giả vận dụng phối hợp ba phương pháp nghiên cứu chính để xử lý văn bản:

Phương pháp nghiên cứu Mục đích và thao tác cụ thể trong khóa luận
Phương pháp thống kê Khảo sát, tập hợp hệ thống nhân vật, các chi tiết không gian ổ chuột, từ ngữ địa phương, thành ngữ, tục ngữ và câu hát dân gian xuất hiện trong hai tác phẩm.
Phương pháp so sánh Đặt tiểu thuyết của Nguyễn Đình Lạp trong thế đối sánh với các nhà văn cùng thời (Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Tô Hoài, Nguyên Hồng) nhằm làm rõ nét độc đáo trong việc miêu tả phong tục và số phận thị dân ngoại ô.
Phương pháp phân tích, bình giảng Đi sâu phân tích các trích đoạn miêu tả ngoại hình, diễn biến nội tâm nhân vật (bác Vuông, Khuyên, Tin, Sẹo, Huệ) và giải mã các lớp ý nghĩa tư tưởng, giá trị nhân đạo của tác giả.

Nguồn dữ liệu khảo sát chính là văn bản hai tiểu thuyết Ngoại ô và Ngõ hẻm được in trong Tuyển tập Nguyễn Đình Lạp (NXB Văn học, 2001), kết hợp cùng các công trình nghiên cứu, bài phê bình của Vũ Ngọc Phan, Phong Lê, Bùi Hiển, Nguyễn Ngọc Thiện, Lê Thị Đức Hạnh, Vũ Quần Phương, Lưu Nguyễn.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát về đề tài dân nghèo thành thị trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945

Chương 1 thiết lập nền tảng lịch sử xã hội và chân dung tác giả trong tiến trình văn học đô thị:

  • Tiền đề lịch sử, xã hội: Chính sách khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp, hệ thống thuế khóa nặng nề và phong trào "Âu hóa" dẫn đến sự phân hóa giai cấp sâu sắc. Làn sóng người dân nông thôn mất đất phải di cư ra các vùng ven đô, hình thành tầng lớp dân nghèo ngoại ô làm thuê kiếm sống trong điều kiện bần cùng hóa. Văn học hiện thực phê phán ra đời như một phương tiện phản ánh trung thực mâu thuẫn xã hội và nỗi khổ của người lao động.
  • Cuộc đời và sự nghiệp Nguyễn Đình Lạp: Nhà văn (1913 - 1952), bút danh Yến Đình, Song Dực, sinh ra tại làng Bạch Mai, huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Đông trong một gia đình có truyền thống cách mạng (ông nội tham gia Đông Kinh nghĩa thục, chú ruột là đồng chí Nguyễn Phong Sắc). Ông viết báo từ 1933, tạo dấu ấn qua các phóng sự Chợ phiên đi tới đâu?, Thanh niên trụy lạc, Từ ái tình đến hôn nhân, Cường hào. Sau đó, ông tham gia kháng chiến chống Pháp, phụ trách văn nghệ Đại đoàn 304 và mất tại Quân y viện 32 (Thanh Hóa) khi mới 39 tuổi.
  • Vị trí trong dòng chảy đề tài đô thị: Tiểu thuyết Nguyễn Đình Lạp không đi sâu vào tầng lớp trí thức tiểu tư sản như Nam Cao hay xã hội thượng lưu tha hóa như Vũ Trọng Phụng, mà định vị rõ rệt ở khu vực ven đô (ngoại ô Hà Nội). Khóa luận trích dẫn các ý kiến đánh giá của Vũ Ngọc Phan, Phong Lê, Lê Thị Đức Hạnh để khẳng định ông là cây bút chuyên canh thể loại phóng sự - tiểu thuyết về dân nghèo thành thị.

Chương 2: Một số phương diện nội dung thể hiện đề tài dân nghèo thành thị trong tác phẩm Ngoại ô và Ngõ hẻm của Nguyễn Đình Lạp

Chương 2 làm rõ hai trục nội dung lớn: hiện thực đời sống và hiện thực con người.

  • Hiện thực đời sống:
    • Cuộc sống mưu sinh nhọc nhằn, bế tắc: Khung cảnh chợ đêm phố Vạn Thái với những thân phận bán phở, bán cà phê, phu xe, hàng rong. Lệnh cấm mang giò chả, thịt lậu vào nội thành của chính quyền đẩy gia đình bác Vuông và những người cùng nghề vào bước đường cùng. Kết thúc hai tiểu thuyết đều mang sắc thái ảm đạm: hình ảnh Nhớn ra tù nhưng đối diện tương lai mong manh như chiếc lá trước giông bão.
    • Không gian cư trú tồi tàn: Dãy 30 gian nhà lá lụp xụp ven tường gạch Văn Chỉ của bác phở Mỗ; căn nhà ẩm thấp bên hồ nước thối của bác Vuông; con ngõ ngập bùn nhầy nhụa nồng nặc mùi hôi thối trước nhà Nhớn.
    • Bức tranh phong tục, tập quán: Nghệ thuật gói bánh chưng ngày Tết của bác Vuông được miêu tả tỉ mỉ từ khâu chọn gạo, đỗ, thịt, căn chỉnh tỷ lệ và kỹ thuật luộc bánh. Bên cạnh nét đẹp sinh hoạt, tác giả chỉ ra các hủ tục và tâm lý mê tín dị đoan (bác Vuông thờ tranh Quan Công - Lưu Bị - Trương Phi để cầu may; dân làng lập đàn tế lễ trừ dịch tả thay vì chữa bệnh dẫn đến cái chết thương tâm của bác Vuông gái; nghi thức cải táng tỉ mỉ).
  • Hiện thực con người:
    • Số phận bất hạnh: Bác Vuông chịu tang vợ trong u uất, bị dồn ép đến mức hóa điên và thốt lên 7 lần câu "Cũng một kiếp người" trước khi bị đưa vào nhà thương Vôi; cô đầu Huệ làm nghề bán thân, bị đánh ghen tàn bạo, mắc bệnh lao phổi mà không có tiền mua thuốc; anh chàng Pháo xấu xí thất tình nhảy ao tự tử không thành, về sau trả thù rồi trở thành kẻ tàn tật.
    • Vẻ đẹp tình thương và lòng nghĩa hiệp: Tình cảm vợ chồng son sắt, thủy chung của bác Vuông; tình bạn chí cốt của Sẹo dành cho Nhớn (chịu nhát dao thay bạn, tha thứ khi bị bạn cướp nhầm của); tình yêu cao thượng của Tin sẵn sàng đón nhận Còi khi cô bị lừa gạt có thai; tấm lòng bao dung của bà Toàn chấp nhận nàng dâu cơ nhỡ để "cứu được ba người".

Chương 3: Một số phương diện nghệ thuật thể hiện đề tài dân nghèo thành thị trong tác phẩm Ngoại ô và Ngõ hẻm của Nguyễn Đình Lạp

Chương 3 khảo sát ba phương diện nghệ thuật đặc sắc làm nên phong cách tác giả:

  • Nghệ thuật xây dựng nhân vật:
    • Miêu tả ngoại hình: Tác giả xây dựng hai hệ thống nhân vật đối lập. Nhân vật lao động chính diện mang dấu ấn nhọc nhằn (bác Vuông với áo cánh nâu bảy chiếc khuy bột đỏ trĩu nặng; trẻ thơ mặt lem luốc; Khuyên từ cô gái răng đen hạt na xinh xắn sau 5 năm trở nên bủng nhợt, khắc khổ). Nhân vật phản diện bị bóc trần bản chất qua diện mạo (Phả có vẻ ngoài bảnh bao, mắt một mí xảo quyệt của kẻ sở khanh; Cún Móm mặt lưỡi cày hám tiền).
    • Miêu tả tâm lý, tính cách: Nắm bắt sự chuyển biến nội tâm phức tạp, hợp logic (sự trỗi dậy khát vọng tự do của Khuyên khi bỏ trốn theo Nhớn; sự giằng xé giữa lòng tự ái và tình thương của Tin trước khi cứu vớt cuộc đời Còi; cơn giận dữ chuyển sang ân hận, thương bạn của Sẹo).
  • Ngôn ngữ dân dã, đời thường:
    • Vận dụng phong phú lớp từ ngữ sinh hoạt thường nhật vùng Bắc Bộ: con nặc nô, dóm bếp, phát bẳn, hượm, ông ôn vật, phủi bụi, đòi cái mả tổ...
    • Sử dụng linh hoạt thành ngữ, tục ngữ: chịu thương chịu khó, hay lam hay làm, ở hiền gặp lành, trắng hếu như ngó cần, rồng đến nhà tôm...
    • Đưa các làn điệu dân ca hái rau muống đối đáp ngẫu hứng của các cô gái xóm Cầu Tre vào tác phẩm, tạo không khí sinh hoạt hồn nhiên, tươi tắn.
  • Giọng điệu trần thuật:
    • Giọng điệu khách quan, chân thực: Kế thừa từ kỹ năng viết phóng sự điều tra, trần thuật qua ngôi thứ ba lạnh lùng khi lột tả cảnh hút thuốc phiện ở nhà ả đào, cảnh sát phạt ở sòng bài hay thủ đoạn vơ vét của bộ máy cường hào thực dân.
    • Giọng điệu xót xa, thương cảm: Sự đồng cảm sâu sắc của tác giả ẩn sau những lời tự sự, than thân của nhân vật trước gánh nặng tiền nhà, vé chợ và cơm áo thường nhật.

Kết quả và đóng góp

Nội dung khảo sát Dữ liệu và kết quả cụ thể trong khóa luận
Dấu ấn thể loại Chứng minh sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính xác thực tư liệu phóng sự và tính hư cấu của tiểu thuyết, tạo nên cấu trúc "tiểu thuyết - phóng sự" đặc thù phản ánh không gian làng Bạch Mai.
Hệ thống nhân vật Phân tích chi tiết 10 nhân vật tiêu biểu: bác Vuông, bác Vuông gái, Khuyên, Nhớn, Tin, Còi, Sẹo, Pháo, cô đầu Huệ, bà Toàn; chỉ rõ các bi kịch cụ thể (cái chết dịch tả, nạn đánh ghen, sự hóa điên, sự bế tắc sinh kế).
Chi tiết phong tục Ghi nhận chính xác các cứ liệu sinh hoạt văn hóa dân gian: quy trình làm bánh chưng Tết (400 chiếc, 60-70 cân giò), nghi thức tang ma - cải táng, bài ca đối đáp dân gian xóm Cầu Tre.
Đóng góp học thuật Bổ khuyết khoảng trống nghiên cứu về tiểu thuyết Nguyễn Đình Lạp (vốn trước đó chủ yếu tập trung vào mảng phóng sự), khẳng định vị trí độc lập của tác giả bên cạnh Nam Cao, Nguyên Hồng, Tô Hoài trong giai đoạn 1940 - 1945.

Khóa luận không đề xuất giải pháp chính sách kinh tế - xã hội mà tập trung tổng kết các giá trị tư tưởng: tác giả đề xuất cách nhìn nhận nhân đạo, tiến bộ đối với tầng lớp cùng đinh, kêu gọi sự thấu hiểu bản chất lương thiện ẩn sâu dưới lớp bùn lầy bần cùng hóa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát của đề tài giới hạn trong hai tác phẩm tiểu thuyết (Ngoại ô và Ngõ hẻm), chưa bao quát toàn bộ di sản báo chí và hệ thống phóng sự dài của Nguyễn Đình Lạp (Cường hào, Thanh niên trụy lạc, Từ ái tình đến hôn nhân...).
  • Hướng mở rộng: Mở rộng nghiên cứu đối sánh toàn diện giữa thể loại phóng sự và tiểu thuyết trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Đình Lạp; so sánh thi pháp không gian ngoại ô của Nguyễn Đình Lạp với không gian xóm ngụ cư của Kim Lân hoặc không gian ngoại ô của Tô Hoài trước năm 1945.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu tham khảo phù hợp cho sinh viên, học viên chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn, Văn học Việt Nam và các nhà nghiên cứu lịch sử văn học giai đoạn 1930 - 1945. Các phần có giá trị tư liệu cao gồm:

  1. Bảng tổng hợp lịch sử vấn đề nghiên cứu về Nguyễn Đình Lạp qua các thời kỳ (Chương Mở đầu).
  2. Phân tích chi tiết hệ thống ngôn ngữ đời thường và tư liệu phong tục tập quán Bắc Bộ trong tiểu thuyết tả chân (Chương 2 và Chương 3).

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận xác định Nguyễn Đình Lạp có quan niệm như thế nào về mối quan hệ giữa phóng sự và tiểu thuyết?
Văn bản dẫn lời chính tác giả: trước Cách mạng tháng Tám, ông coi phóng sự là "lợi khí sắc bén" để ghi chép nóng hổi sự sống; nhưng đến đầu thập niên 1940, ông chuyển sang tiểu thuyết vì nhận định "Tiểu thuyết là một nghệ thuật rộng rãi và nhiệm mầu hơn phóng sự. Chỉ có tiểu thuyết mới ghi nổi u uẩn sâu kín nhất của con người và những quan hệ vô cùng phức tạp, phiền phức của xã hội".

2. Bi kịch đỉnh điểm của nhân vật bác Vuông trong tác phẩm Ngoại ô được thể hiện qua chi tiết nào?
Bi kịch diễn ra khi vợ bác chết vì dịch tả nhưng bị phó lý giữ lại chờ quan huyện khám nghiệm khiến thi thể bị trương thối. Sau nhiều biến cố dồn dập, bác Vuông phát điên, liên tục thốt lên 7 lần câu "Cũng một kiếp người" trước khi bị đưa lên xe chở về nhà thương Vôi.

3. Khóa luận phân tích nét tính cách mới mẻ, tiến bộ nào ở nhân vật Khuyên?
Khuyên là hình tượng người con gái dám đấu tranh cho tình yêu và quyền tự quyết cuộc sống. Dù đã hoàn tất lễ chạm ngõ với Pháo theo sự sắp đặt của gia đình, Khuyên vẫn kiên quyết vượt qua áp lực gia đình để bỏ trốn cùng Nhớn.

4. Những đặc trưng ngôn ngữ nổi bật nào được chỉ ra trong hai tiểu thuyết?
Khóa luận chỉ ra ba nét đặc trưng: sử dụng từ ngữ khẩu ngữ dân dã ven đô Bắc Bộ (con nặc nô, dóm bếp, phát bẳn, hượm...), vận dụng sáng tạo tục ngữ/thành ngữ và đưa các khúc hát đối đáp dân ca của các cô gái hái rau xóm Cầu Tre vào mạch trần thuật.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Trần Khánh Linh đã phân tích có hệ thống hình tượng người dân nghèo thành thị trong hai tiểu thuyết Ngoại ô và Ngõ hẻm của Nguyễn Đình Lạp trên cả hai bình diện nội dung hiện thực và phương thức biểu hiện nghệ thuật. Công trình làm nổi bật giá trị nhân văn sâu sắc cùng nét độc đáo trong bút pháp tả chân, kết hợp giữa tư liệu điều tra xã hội học và nghệ thuật xây dựng tâm lý nhân vật. Kết quả nghiên cứu khẳng định vị trí riêng biệt của Nguyễn Đình Lạp trong dòng văn học hiện thực phê phán Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945.