Khóa luận tốt nghiệp dân nghèo thành thị trong tác phẩm ngoại ô và ngõ hẻm của nguyễn đình lạp

Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp dân nghèo thành thị trong tác phẩm ngoại ô và ngõ hẻm của nguyễn đình lạp, điều tra thực trạng, phân tích số liệu, đề xuất biện pháp cải

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2018

56
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Lịch sử vấn đề

0.3. Mục đích nghiên cứu

0.4. Nhiệm vụ nghiên cứu

0.5. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

0.6. Phương pháp nghiên cứu

0.7. Bố cục khóa luận

1. CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ ĐỀ TÀI DÂN NGHÈO THÀNH THỊ TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930 - 1945

1.1. Tiền đề lịch sử, xã hội

1.2. Cuộc đời và sự nghiệp văn học của Nguyễn Đình Lạp

1.2.1. Cuộc đời

1.2.2. Sự nghiệp văn học

1.3. Tiểu thuyết Nguyễn Đình Lạp trong dòng chảy đề tài đô thị nửa đầu thế kỉ XX

2. CHƯƠNG 2: MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG THỂ HIỆN ĐỀ TÀI DÂN NGHÈO THÀNH THỊ TRONG TÁC PHẨM NGOẠI Ô VÀ NGÕ HẺM CỦA NGUYỄN ĐÌNH LẠP

2.1. Hiện thực đời sống

2.2. Miêu tả cuộc sống nghèo khổ, bế tắc của người lao động

2.3. Miêu tả cuộc sống sinh hoạt, phong tục, tập quán của dân nghèo thành thị

2.4. Hiện thực con người

2.4.1. Con người có số phận bất hạnh

2.4.2. Con người giàu tình yêu thương, giàu lòng nghĩa hiệp

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN ĐỀ TÀI DÂN NGHÈO THÀNH THỊ TRONG TÁC PHẨM NGOẠI Ô VÀ NGÕ HẺM CỦA NGUYỄN ĐÌNH LẠP

3.1. Nghệ thuật xây dựng nhân vật

3.2. Nghệ thuật miêu tả ngoại hình nhân vật

3.3. Nghệ thuật miêu tả tâm lí, tính cách nhân vật

3.4. Ngôn ngữ dân dã, đời thường

3.5. Giọng điệu khách quan, chân thực

3.6. Giọng điệu xót xa, thương cảm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Dân nghèo thành thị trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930 1945

Khóa luận tập trung phân tích hiện thực dân nghèo thành thị trong giai đoạn 1930 - 1945, một thời kỳ đầy biến động của lịch sử Việt Nam. Bối cảnh xã hội lúc bấy giờ chịu ảnh hưởng nặng nề từ chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, dẫn đến sự bần cùng hóa và lưu manh hóa của một bộ phận lớn dân cư. Nguyễn Đình Lạp, thông qua hai tác phẩm Ngoại ôNgõ hẻm, đã khắc họa chân thực cuộc sống nghèo khổ, bế tắc của người lao động tại các khu vực ngoại ôngõ hẻm của Hà Nội. Những tác phẩm này không chỉ phản ánh hiện thực xã hội mà còn thể hiện sự đồng cảm sâu sắc của tác giả với những số phận bất hạnh.

1.1. Tiền đề lịch sử xã hội

Giai đoạn 1930 - 1945 là thời kỳ đất nước chịu sự đô hộ của thực dân Pháp, với những chính sách bóc lột và ngu dân. Dân nghèo thành thị phải đối mặt với cuộc sống cơ cực, bị đẩy vào các khu vực ngoại ôngõ hẻm, nơi điều kiện sống vô cùng khó khăn. Nguyễn Đình Lạp đã lấy bối cảnh này làm nền tảng để xây dựng nên hai tác phẩm Ngoại ôNgõ hẻm, phản ánh chân thực cuộc sống của những người lao động nghèo khổ.

1.2. Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Đình Lạp

Nguyễn Đình Lạp sinh năm 1913 tại làng Bạch Mai, Hà Nội, là một nhà văn tài năng của dòng văn học hiện thực phê phán. Ông bắt đầu sự nghiệp viết văn từ năm 1933 và nhanh chóng khẳng định tên tuổi với các tác phẩm phóng sự và tiểu thuyết. Hai tác phẩm Ngoại ôNgõ hẻm được coi là đỉnh cao trong sự nghiệp của ông, phản ánh sâu sắc cuộc sống của dân nghèo thành thị trong bối cảnh xã hội đầy biến động.

II. Hiện thực đời sống và con người trong Ngoại ô và Ngõ hẻm

Khóa luận đi sâu vào phân tích hiện thực đời sống và con người được khắc họa trong hai tác phẩm Ngoại ôNgõ hẻm của Nguyễn Đình Lạp. Tác giả đã miêu tả chi tiết cuộc sống nghèo khổ, bế tắc của người lao động tại các khu vực ngoại ôngõ hẻm, đồng thời khắc họa những phẩm chất tốt đẹp của họ như tình yêu thương và lòng nghĩa hiệp. Những nhân vật trong tác phẩm đều mang số phận bất hạnh, nhưng vẫn giữ được nhân cách và tình người.

2.1. Hiện thực đời sống

Nguyễn Đình Lạp đã miêu tả chân thực cuộc sống nghèo khổ, bế tắc của người lao động tại các khu vực ngoại ôngõ hẻm. Những người dân nơi đây phải vật lộn với cuộc sống hàng ngày, đối mặt với đói nghèo và bệnh tật. Tác phẩm cũng phản ánh những phong tục, tập quán của dân nghèo thành thị, tạo nên bức tranh toàn diện về đời sống của họ.

2.2. Hiện thực con người

Các nhân vật trong Ngoại ôNgõ hẻm đều mang số phận bất hạnh, nhưng họ vẫn giữ được những phẩm chất tốt đẹp như tình yêu thương và lòng nghĩa hiệp. Nguyễn Đình Lạp đã khắc họa sâu sắc tâm lý và tính cách của những con người này, qua đó thể hiện sự đồng cảm và thương cảm của mình đối với họ.

III. Nghệ thuật thể hiện trong Ngoại ô và Ngõ hẻm

Khóa luận cũng phân tích những phương diện nghệ thuật được Nguyễn Đình Lạp sử dụng trong hai tác phẩm Ngoại ôNgõ hẻm. Tác giả đã thành công trong việc xây dựng nhân vật, miêu tả ngoại hình và tâm lý một cách chân thực. Ngôn ngữ dân dã, đời thường cùng giọng điệu khách quan, xót xa đã góp phần tạo nên sức hấp dẫn và giá trị nghệ thuật cho tác phẩm.

3.1. Nghệ thuật xây dựng nhân vật

Nguyễn Đình Lạp đã xây dựng thành công các nhân vật với ngoại hình và tâm lý được miêu tả một cách chân thực. Những nhân vật này không chỉ là đại diện cho dân nghèo thành thị mà còn mang trong mình những phẩm chất tốt đẹp, tạo nên sự đồng cảm từ phía người đọc.

3.2. Ngôn ngữ và giọng điệu

Ngôn ngữ trong Ngoại ôNgõ hẻm mang đậm chất dân dã, đời thường, phản ánh chân thực cuộc sống của dân nghèo thành thị. Giọng điệu của tác giả vừa khách quan, vừa xót xa, thương cảm, góp phần tạo nên sức hấp dẫn và giá trị nghệ thuật cho tác phẩm.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu tác phẩm Ngoại ô, Nguyễn Đình Lạp đã đƣa ngƣời đọc đến với khung cảnh mƣu sinh đầy nhọc nhằn, vất vả của những ngƣời dân ở phố Vạn Thái. Những con ngƣời nghèo khổ ấy, vẫn “cần mẫn trong lúc đêm khuya. Giờ mà xã hội loài người cần phải yên giấc để lấy lại sức mà vật lộn 13 với cuộc sống ngày hôm sau” [9, 38]. Họ tập hợp về đây, mỗi ngƣời mỗi cảnh đời riêng, tƣởng chừng nhƣ rời rạc nhƣng hóa ra lại có sự gắn kết chặt chẽ bởi họ có cùng chung một mục đích là kiếm sống.

Mỗi nhân vật đƣợc Nguyễn Đình Lạp khắc họa bằng những nét riêng, tạo nên một bức tranh hiện thực đời sống sinh động, phong phú, chân thực với đủ các kiểu ngƣời. Từ bác phu xe ế khách, bác hàng cà phê, bác bán phở, bác bán giò chả, mụ hàng rong… Tất cả hiện lên với vẻ nghèo nàn, tàn tạ với số hàng, vốn liếng ít ỏi nhƣng với họ là cả gia tài. Bởi cuộc sống quá khó khăn, nên họ phải tần tảo, vất vả khuya sớm, thậm chí giành giật để có đƣợc “miếng ăn”. Dƣờng nhƣ hẹn trƣớc, giờ đó, lúc đó, họ cùng nhau bắt đầu phiên bán hàng đêm khuya.

Dù mệt mỏi, nhƣng chỉ một trận gió thổi qua cũng đủ để “đánh thức những linh hồn mệt mỏi bị đêm trường đè trĩu trên vai” [9, 135]. Và sau đó, những tiếng rao bắt đầu cất lên trong đêm khuya vắng. Càng đi sâu vào tác phẩm, ngƣời đọc càng thấm thía nỗi cơ cực, lầm than của những con ngƣời lao động nghèo khổ ấy qua những không gian trú ngụ của họ. Không gian nghèo nàn lặp đi lặp lại trong tác phẩm giống nhƣ một sự ám ảnh trở đi trở lại về cái nghèo, sự bế tắc, ngột ngạt.

Đọc tiểu thuyết Ngoại ô, ta ấn tƣợng sâu sắc với những trang văn miêu ngôi nhà của gia đình bác Vuông, bác phở Mỗ, Nhớn. Khung cảnh ngôi nhà nhỏ của gia đình bác Vuông đƣợc miêu tả cụ thể, tỉ mỉ từng chi tiết. Đó là một căn nhà tranh lụp xụp bên trong xóm hàng Mã, nằm cạnh một cái hồ quanh năm nƣớc đen xì, hôi thối.Căn nhà vừa thấp, vừa hẹp, ánh sáng chiếu vào yếu ớ, trong nhà lúc nào cũng bốc lên một mùi ẩm thấp. Trƣớc nhà có một cái sân nhƣng chỉ rộng bằng cái nia, bầy nhiều chum vại.

Gia đình bác phở Mỗ cũng không khá hơn: chỗ bác ở là “Dãy nhà lá lụp xụp…dài tới ba mươi gian áp lưng vào tường gạch Văn Chỉ và nhìn thẳng ra một cái ao bèo. Mỗi gian là một chủ, có khi tới hai hay ba chủ chung nhau thuê. Thôi thì đủ các hạng người: thợ nhà máy, 14 thợ nhà in, phu xe, những người bán bún chả, bún riêu…” [9, 57]. Tất cả đều giống nhau ở sự nghèo nàn, tù túng.

Ngƣời dân ở đây sống giữa một bãi rác lớn, nhơ nhớp, bẩn thỉu của thành phố. Con ngõ hẻm trƣớc nhà Nhớn cứ mỗi khi trời mƣa lại trở nên lầy lội, những vũng bùn xuất hiện nhiều, tuy “không nom rõ vũng lội nhưng biết rằng nó sâu, nó nhầy nhụa, nó bẩn thỉu… nước ngập lên gần đầu gối và một thứ bùn khăn khẳn, nồng nặc đưa vào lỗ mũi” [9, 265]. Nhà bà Toàn còn thảm hại hơn. Nó chật hẹp, âm thầm tối, ánh sáng lọt vào nhƣng yếu ớt, tờ mờ.

Còn nhà của bà Sửu thấp đến nỗi khi vào nhà, ngƣời ta phải cúi rạp để khỏi bị đập đầu vào giọt tranh. Họ gọi đó là nhà, nhƣng thực sự đó chỉ có thể gọi là chỗ che mƣa, che nắng. Sự nghèo đói ám ảnh lên cuộc đời họ giống nhƣ những ngôi nhà ấy. Họ buộc phải sống trong đó mà không có cách nào thoát ra.

Nguyễn Đình Lạp miêu tả những không gian ấy một cách rất khách quan, chính sự khách quan ấy đã lột tả đƣợc hiện thực một cách chân thực nhất, thể hiện tiếng nói của sự thật. Cuộc sống của những ngƣời lao động nơi cửa ô tối tăm, chật hẹp này vốn đã cơ cực lại càng khó khăn hơn. Lệnh cấm hàng giò chả và hàng thịt vào thành phố bán “giống như những tiếng sét dữ dội đánh mạnh trên mái nhà bác Vuông và những người đồng nghề với bác” [9, 156]. Lệnh cấm bất ngờ, khiến cho những ngƣời làm hàng giò và hàng thịt không kịp chuẩn bị.

Ngay sáng hôm thi hành cái lệnh oái oăm ấy đã có biết bao nhiêu ngƣời bị bắt, tịch thu hết hàng. Tất cả vốn liếng, hàng họ của cả một ngày bị rơi vào tay bọn chính quyền. Những ngƣời lao động ấy làm nhiều nghề để kiếm sống nhƣng cũng chẳng thể thoát khỏi cái nghèo: Ngƣời phu xe ế khách nằm ƣờn mình thẳng căng trên đệm, mắt lim dim, bận rộn tính toán tiền lỗ, lãi sau một ngày. Những ngƣời bán hàng dong chỉ có cái mẹ lèo tèo vài tấm mía, ngô rang, cả một buổi tối chỉ đƣợc mấy đồng xu.

Bà toàn bán quả rang, ông Ất bán nƣớc trà nhƣng một ngày cũng chẳng kiếm đƣợc nhiều. Khổ nhất là những ngƣời làm giò chả, bánh dày nhƣ bác Vuông. Bác phải thức khuya dậy sớm, trang 15 trải nợ nần, tiền thịt, tiền nhà, gạo, nƣớc… Nếu bán chạy không sao nhƣng ế ẩm thì lấy đâu ra trả tiền nhà. Bác Vuông gái thì bán hàng vất vả, có lần phải đi bộ năm cây số dƣới trời nắng chang chang để bán hết thúng hàng.

Khuyên - con gái bác Vuông phải tự đạp xe đi lấy thịt, làm nhiều nghề để kiếm tiền phụ giúp gia đình. Bên cạnh những ngƣời buôn thúng bán mẹt, Nguyễn Đình Lạp còn tập trung khắc họa số phận bi đát, nghiệt ngã của những cô gái làm nghề “buôn phấn bán son”, nhƣ nhân vật Huệ trong tác phẩm Ngoại ô. Họ cũng làm một cái nghề hẳn hoi - “nghề bán ái tình”. Mới nói đến cái nghề ấy ai cũng ngỡ là nhàn hạ, sung sƣớng, sống cuộc sống trụy lạc hƣởng xác, không lo nghèo đói.

Một cô đầu với một chút nhan sắc và sự khéo léo là đã đủ sống với nghề. Nhƣng ít ai biết rằng, cái nghề ấy cũng chua xót và nhục nhã vô cùng. Họ luôn bị vùi dập, giầy vò bởi mụ chủ, bởi khách chơi, bởi bạn đồng nghề. Khách làng chơi chỉ đến mua vui rồi bỏ đi, không kiếm đƣợc khách, không kiếm đƣợc tiền thì bị chủ dày vò, có khi còn bị vợ của khách thuê ngƣời đánh ghen.

Cũng có những lúc bạn đồng nghề với nhau mà xảy ra hiềm khích, ghét bỏ vì tranh nhau mối khách. Không phải lo về lệnh cấm giò chả, cấm thịt, vé chợ, tìm kiếm thị trƣờng, nhƣng họ lại có một nỗi lo là sự tàn phai của nhan sắc. Ai cũng hiểu rằng, với cái nghề ấy, trong phố ả đào ấy thì nhan sắc chính là thứ quan trọng hơn cả. Tất cả khách làng chơi, ai cũng chỉ biết vùi hoa dập liễu, chứ đâu có yêu đƣơng gì.

Họ tìm đến đây, dùng tiền để sử dụng những thân xác kia phục vụ cho dục vọng đê hèn. Sau khi đã thỏa mãn, tàn cuộc vui thì tình nghĩa cũng cạn. Ngày ngày, những cô đầu nhƣ Huệ tô son, điểm phấn, giữ cho dung nhan tƣơi tỉnh, nhƣng thực chất, bên trong chỉ là những tâm hồn héo úa. Dù làm nghề nào đi chăng nữa, nhƣng ở những con ngƣời nghèo khổ ấy có một điểm chung rất lớn đó là một số phận bất hạnh, quẩn quanh, bế tắc.

Họ không thể thoát ra khỏi con đƣờng lầy lội của cái nghèo. Đây cũng là điểm 16 chung trong hầu hết các sáng tác văn học trƣớc cách mạng. Cuộc đời của bác Vuông, Huệ, Nhớn, Còi… cũng rơi vào đƣờng cùng, ngõ hẹp, không có lối thoát giống nhƣ cuộc đời của Chị Dậu, Chí Phèo, Lão Hạc… trong các sáng tác cùng thời. Kết thúc cả hai tiểu thuyết, ta đều thấy hiện thực nghiệt ngã, bế tắc, nhân vật vẫn chìm trong cuộc đời tăm tối.

Giống nhƣ một vòng tuần hoàn, luẩn quẩn, nghèo khổ, bất hạnh cứ thế từ thế hệ bác Vuông, bác phở Mỗ… đến thế hệ của Nhớn, Khuyên, Còi, Tin, Sẹo… Khép lại bức tranh Ngõ hẻm là cảnh Nhớn ra tù, trở về nhà và đƣợc chứng kiến cảnh yên vui của gia đình. Nhƣng sau phút giây xúc động vì hạnh phúc, lại là một dự cảm về một tƣơng lai cũng gói gọn trong chữ “nghèo”. Cái nghèo vẫn cứ đeo bám họ. Nhớn thấy “cảnh yên vui của gia đình hắn mong manh và bất trắc lắm.

Và cả thân hắn, rồi đây cũng chỉ là một tàu lá trước cơn giông tố phũ phàng của cuộc đời” [9, 524]. Viết về cuộc sống nghèo khổ, bế tắc của ngƣời dân nghèo thành thị trƣớc cách mạng, Nguyễn Đình Lạp đã cho thấy hiện thực tù túng, nghèo khổ, ngột ngạt, bất công của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ. Xã hội phong kiến nửa thực dân đã đè nén, áp bức, đẩy nhân dân ta vào cảnh bần cùng hóa, không lối thoát. Đồng thời, Nguyễn Đình Lạp khéo léo thể hiện sự đồng cảm, xót thƣơng với những kiếp ngƣời tàn tạ, quẩn quanh dƣới đáy xã hội.

Miêu tả cuộc sống sinh hoạt, phong tục, tập quán của dân nghèo thành thị Mỗi nhà văn luôn đi tìm những vẻ đẹp riêng để khai thác. Nguyễn Đình Lạp cũng vậy, với ông cái đẹp ở đây chính là những nét riêng trong lối sống, phong tục tập quán của dân nghèo thành thị. Xuất thân từ nghèo khó và gắn bó với tầng lớp cần lao, ông am hiểu sâu sắc về cuộc sống sinh hoạt cũng nhƣ những phong tục của họ. Điều này đƣợc thể hiện rất rõ qua những trang viết của ông, đặc biệt là hai tiểu thuyết này.

17 Nguyễn Đình Lạp đã miêu tả rất chi tiết về phong tục gói bánh chƣng ngày Tết của những ngƣời lao động ven đô trong tác phẩm Ngoại ô. Tết năm ấy, nhà bác Vuông nhận đặt trƣớc bốn trăm cái bánh trƣng hạng nhất, sáu, bảy chục cân giò mỡ, giò hạt lựu, giò lụa. Để hoàn thành công việc cho kịpTết, nhà bác Vuông phải nhờ cả những ngƣời hàng xóm sang giúp đỡ. Đông ngƣời đến giúp, căn nhà lá nhỏ trở nên nhộn nhịp, rộn ràng không khí Tết.

Bác Vuông chuẩn bị rất kĩ càng, cẩn thận từ khâu chọn nguyên liệu, đến gói bánh và luộc bánh, mọi thứ dƣờng nhƣ đạt đến độ chuyên nghiệp: Gạo nếp ngâm kĩ, vo sạch và xóc muối cẩn thận, trông trắng ngần tựa thúng bông mới bật. Đậu xanh đem ngâm kĩ để hết nƣớc chua, đồ thật kĩ, sạch vỏ, giã tơi. Mỡ và thịt đƣợc lọc bỏ bì rồi bóp muối, hạt tiêu. Lá dong phải chọn những lá to bản rồi lau chùi thật sạch sẽ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Khóa luận tốt nghiệp: Dân nghèo thành thị trong 'Ngoại ô' và 'Ngõ hẻm' của Nguyễn Đình Lạp là một nghiên cứu sâu sắc về cuộc sống của tầng lớp nghèo khổ trong bối cảnh đô thị Việt Nam, thông qua hai tác phẩm nổi tiếng của nhà văn Nguyễn Đình Lạp. Bài viết không chỉ phân tích cách tác giả khắc họa hiện thực xã hội mà còn làm nổi bật những thông điệp nhân văn về sự đấu tranh và khát vọng của con người trong hoàn cảnh khó khăn. Đọc bài viết này, độc giả sẽ có cái nhìn toàn diện hơn về văn học hiện thực Việt Nam và cách nó phản ánh đời sống xã hội.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu tương tự về văn học hiện thực, hãy khám phá Luận văn thạc sĩ số phận con người trong tiểu thuyết của dương hướng, nơi phân tích sâu về số phận và bi kịch của con người trong bối cảnh xã hội. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ tính đối thoại trong truyện ngắn nguyễn minh châu sau 1975 cũng là một tài liệu đáng đọc, giúp bạn hiểu rõ hơn về nghệ thuật kể chuyện và cách tác giả phản ánh hiện thực. Cuối cùng, Luận văn thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn đỗ chu sẽ mang đến góc nhìn mới về cách xây dựng nhân vật và bối cảnh trong văn học hiện đại.