mở đầu tác phẩm Ngoại ô, Nguyễn Đình Lạp đã đƣa ngƣời đọc đến với khung cảnh mƣu sinh đầy nhọc nhằn, vất vả của những ngƣời dân ở phố Vạn Thái. Những con ngƣời nghèo khổ ấy, vẫn “cần mẫn trong lúc đêm khuya. Giờ mà xã hội loài người cần phải yên giấc để lấy lại sức mà vật lộn 13 với cuộc sống ngày hôm sau” [9, 38]. Họ tập hợp về đây, mỗi ngƣời mỗi cảnh đời riêng, tƣởng chừng nhƣ rời rạc nhƣng hóa ra lại có sự gắn kết chặt chẽ bởi họ có cùng chung một mục đích là kiếm sống.
Mỗi nhân vật đƣợc Nguyễn Đình Lạp khắc họa bằng những nét riêng, tạo nên một bức tranh hiện thực đời sống sinh động, phong phú, chân thực với đủ các kiểu ngƣời. Từ bác phu xe ế khách, bác hàng cà phê, bác bán phở, bác bán giò chả, mụ hàng rong… Tất cả hiện lên với vẻ nghèo nàn, tàn tạ với số hàng, vốn liếng ít ỏi nhƣng với họ là cả gia tài. Bởi cuộc sống quá khó khăn, nên họ phải tần tảo, vất vả khuya sớm, thậm chí giành giật để có đƣợc “miếng ăn”. Dƣờng nhƣ hẹn trƣớc, giờ đó, lúc đó, họ cùng nhau bắt đầu phiên bán hàng đêm khuya.
Dù mệt mỏi, nhƣng chỉ một trận gió thổi qua cũng đủ để “đánh thức những linh hồn mệt mỏi bị đêm trường đè trĩu trên vai” [9, 135]. Và sau đó, những tiếng rao bắt đầu cất lên trong đêm khuya vắng. Càng đi sâu vào tác phẩm, ngƣời đọc càng thấm thía nỗi cơ cực, lầm than của những con ngƣời lao động nghèo khổ ấy qua những không gian trú ngụ của họ. Không gian nghèo nàn lặp đi lặp lại trong tác phẩm giống nhƣ một sự ám ảnh trở đi trở lại về cái nghèo, sự bế tắc, ngột ngạt.
Đọc tiểu thuyết Ngoại ô, ta ấn tƣợng sâu sắc với những trang văn miêu ngôi nhà của gia đình bác Vuông, bác phở Mỗ, Nhớn. Khung cảnh ngôi nhà nhỏ của gia đình bác Vuông đƣợc miêu tả cụ thể, tỉ mỉ từng chi tiết. Đó là một căn nhà tranh lụp xụp bên trong xóm hàng Mã, nằm cạnh một cái hồ quanh năm nƣớc đen xì, hôi thối.Căn nhà vừa thấp, vừa hẹp, ánh sáng chiếu vào yếu ớ, trong nhà lúc nào cũng bốc lên một mùi ẩm thấp. Trƣớc nhà có một cái sân nhƣng chỉ rộng bằng cái nia, bầy nhiều chum vại.
Gia đình bác phở Mỗ cũng không khá hơn: chỗ bác ở là “Dãy nhà lá lụp xụp…dài tới ba mươi gian áp lưng vào tường gạch Văn Chỉ và nhìn thẳng ra một cái ao bèo. Mỗi gian là một chủ, có khi tới hai hay ba chủ chung nhau thuê. Thôi thì đủ các hạng người: thợ nhà máy, 14 thợ nhà in, phu xe, những người bán bún chả, bún riêu…” [9, 57]. Tất cả đều giống nhau ở sự nghèo nàn, tù túng.
Ngƣời dân ở đây sống giữa một bãi rác lớn, nhơ nhớp, bẩn thỉu của thành phố. Con ngõ hẻm trƣớc nhà Nhớn cứ mỗi khi trời mƣa lại trở nên lầy lội, những vũng bùn xuất hiện nhiều, tuy “không nom rõ vũng lội nhưng biết rằng nó sâu, nó nhầy nhụa, nó bẩn thỉu… nước ngập lên gần đầu gối và một thứ bùn khăn khẳn, nồng nặc đưa vào lỗ mũi” [9, 265]. Nhà bà Toàn còn thảm hại hơn. Nó chật hẹp, âm thầm tối, ánh sáng lọt vào nhƣng yếu ớt, tờ mờ.
Còn nhà của bà Sửu thấp đến nỗi khi vào nhà, ngƣời ta phải cúi rạp để khỏi bị đập đầu vào giọt tranh. Họ gọi đó là nhà, nhƣng thực sự đó chỉ có thể gọi là chỗ che mƣa, che nắng. Sự nghèo đói ám ảnh lên cuộc đời họ giống nhƣ những ngôi nhà ấy. Họ buộc phải sống trong đó mà không có cách nào thoát ra.
Nguyễn Đình Lạp miêu tả những không gian ấy một cách rất khách quan, chính sự khách quan ấy đã lột tả đƣợc hiện thực một cách chân thực nhất, thể hiện tiếng nói của sự thật. Cuộc sống của những ngƣời lao động nơi cửa ô tối tăm, chật hẹp này vốn đã cơ cực lại càng khó khăn hơn. Lệnh cấm hàng giò chả và hàng thịt vào thành phố bán “giống như những tiếng sét dữ dội đánh mạnh trên mái nhà bác Vuông và những người đồng nghề với bác” [9, 156]. Lệnh cấm bất ngờ, khiến cho những ngƣời làm hàng giò và hàng thịt không kịp chuẩn bị.
Ngay sáng hôm thi hành cái lệnh oái oăm ấy đã có biết bao nhiêu ngƣời bị bắt, tịch thu hết hàng. Tất cả vốn liếng, hàng họ của cả một ngày bị rơi vào tay bọn chính quyền. Những ngƣời lao động ấy làm nhiều nghề để kiếm sống nhƣng cũng chẳng thể thoát khỏi cái nghèo: Ngƣời phu xe ế khách nằm ƣờn mình thẳng căng trên đệm, mắt lim dim, bận rộn tính toán tiền lỗ, lãi sau một ngày. Những ngƣời bán hàng dong chỉ có cái mẹ lèo tèo vài tấm mía, ngô rang, cả một buổi tối chỉ đƣợc mấy đồng xu.
Bà toàn bán quả rang, ông Ất bán nƣớc trà nhƣng một ngày cũng chẳng kiếm đƣợc nhiều. Khổ nhất là những ngƣời làm giò chả, bánh dày nhƣ bác Vuông. Bác phải thức khuya dậy sớm, trang 15 trải nợ nần, tiền thịt, tiền nhà, gạo, nƣớc… Nếu bán chạy không sao nhƣng ế ẩm thì lấy đâu ra trả tiền nhà. Bác Vuông gái thì bán hàng vất vả, có lần phải đi bộ năm cây số dƣới trời nắng chang chang để bán hết thúng hàng.
Khuyên - con gái bác Vuông phải tự đạp xe đi lấy thịt, làm nhiều nghề để kiếm tiền phụ giúp gia đình. Bên cạnh những ngƣời buôn thúng bán mẹt, Nguyễn Đình Lạp còn tập trung khắc họa số phận bi đát, nghiệt ngã của những cô gái làm nghề “buôn phấn bán son”, nhƣ nhân vật Huệ trong tác phẩm Ngoại ô. Họ cũng làm một cái nghề hẳn hoi - “nghề bán ái tình”. Mới nói đến cái nghề ấy ai cũng ngỡ là nhàn hạ, sung sƣớng, sống cuộc sống trụy lạc hƣởng xác, không lo nghèo đói.
Một cô đầu với một chút nhan sắc và sự khéo léo là đã đủ sống với nghề. Nhƣng ít ai biết rằng, cái nghề ấy cũng chua xót và nhục nhã vô cùng. Họ luôn bị vùi dập, giầy vò bởi mụ chủ, bởi khách chơi, bởi bạn đồng nghề. Khách làng chơi chỉ đến mua vui rồi bỏ đi, không kiếm đƣợc khách, không kiếm đƣợc tiền thì bị chủ dày vò, có khi còn bị vợ của khách thuê ngƣời đánh ghen.
Cũng có những lúc bạn đồng nghề với nhau mà xảy ra hiềm khích, ghét bỏ vì tranh nhau mối khách. Không phải lo về lệnh cấm giò chả, cấm thịt, vé chợ, tìm kiếm thị trƣờng, nhƣng họ lại có một nỗi lo là sự tàn phai của nhan sắc. Ai cũng hiểu rằng, với cái nghề ấy, trong phố ả đào ấy thì nhan sắc chính là thứ quan trọng hơn cả. Tất cả khách làng chơi, ai cũng chỉ biết vùi hoa dập liễu, chứ đâu có yêu đƣơng gì.
Họ tìm đến đây, dùng tiền để sử dụng những thân xác kia phục vụ cho dục vọng đê hèn. Sau khi đã thỏa mãn, tàn cuộc vui thì tình nghĩa cũng cạn. Ngày ngày, những cô đầu nhƣ Huệ tô son, điểm phấn, giữ cho dung nhan tƣơi tỉnh, nhƣng thực chất, bên trong chỉ là những tâm hồn héo úa. Dù làm nghề nào đi chăng nữa, nhƣng ở những con ngƣời nghèo khổ ấy có một điểm chung rất lớn đó là một số phận bất hạnh, quẩn quanh, bế tắc.
Họ không thể thoát ra khỏi con đƣờng lầy lội của cái nghèo. Đây cũng là điểm 16 chung trong hầu hết các sáng tác văn học trƣớc cách mạng. Cuộc đời của bác Vuông, Huệ, Nhớn, Còi… cũng rơi vào đƣờng cùng, ngõ hẹp, không có lối thoát giống nhƣ cuộc đời của Chị Dậu, Chí Phèo, Lão Hạc… trong các sáng tác cùng thời. Kết thúc cả hai tiểu thuyết, ta đều thấy hiện thực nghiệt ngã, bế tắc, nhân vật vẫn chìm trong cuộc đời tăm tối.
Giống nhƣ một vòng tuần hoàn, luẩn quẩn, nghèo khổ, bất hạnh cứ thế từ thế hệ bác Vuông, bác phở Mỗ… đến thế hệ của Nhớn, Khuyên, Còi, Tin, Sẹo… Khép lại bức tranh Ngõ hẻm là cảnh Nhớn ra tù, trở về nhà và đƣợc chứng kiến cảnh yên vui của gia đình. Nhƣng sau phút giây xúc động vì hạnh phúc, lại là một dự cảm về một tƣơng lai cũng gói gọn trong chữ “nghèo”. Cái nghèo vẫn cứ đeo bám họ. Nhớn thấy “cảnh yên vui của gia đình hắn mong manh và bất trắc lắm.
Và cả thân hắn, rồi đây cũng chỉ là một tàu lá trước cơn giông tố phũ phàng của cuộc đời” [9, 524]. Viết về cuộc sống nghèo khổ, bế tắc của ngƣời dân nghèo thành thị trƣớc cách mạng, Nguyễn Đình Lạp đã cho thấy hiện thực tù túng, nghèo khổ, ngột ngạt, bất công của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ. Xã hội phong kiến nửa thực dân đã đè nén, áp bức, đẩy nhân dân ta vào cảnh bần cùng hóa, không lối thoát. Đồng thời, Nguyễn Đình Lạp khéo léo thể hiện sự đồng cảm, xót thƣơng với những kiếp ngƣời tàn tạ, quẩn quanh dƣới đáy xã hội.
Miêu tả cuộc sống sinh hoạt, phong tục, tập quán của dân nghèo thành thị Mỗi nhà văn luôn đi tìm những vẻ đẹp riêng để khai thác. Nguyễn Đình Lạp cũng vậy, với ông cái đẹp ở đây chính là những nét riêng trong lối sống, phong tục tập quán của dân nghèo thành thị. Xuất thân từ nghèo khó và gắn bó với tầng lớp cần lao, ông am hiểu sâu sắc về cuộc sống sinh hoạt cũng nhƣ những phong tục của họ. Điều này đƣợc thể hiện rất rõ qua những trang viết của ông, đặc biệt là hai tiểu thuyết này.
17 Nguyễn Đình Lạp đã miêu tả rất chi tiết về phong tục gói bánh chƣng ngày Tết của những ngƣời lao động ven đô trong tác phẩm Ngoại ô. Tết năm ấy, nhà bác Vuông nhận đặt trƣớc bốn trăm cái bánh trƣng hạng nhất, sáu, bảy chục cân giò mỡ, giò hạt lựu, giò lụa. Để hoàn thành công việc cho kịpTết, nhà bác Vuông phải nhờ cả những ngƣời hàng xóm sang giúp đỡ. Đông ngƣời đến giúp, căn nhà lá nhỏ trở nên nhộn nhịp, rộn ràng không khí Tết.
Bác Vuông chuẩn bị rất kĩ càng, cẩn thận từ khâu chọn nguyên liệu, đến gói bánh và luộc bánh, mọi thứ dƣờng nhƣ đạt đến độ chuyên nghiệp: Gạo nếp ngâm kĩ, vo sạch và xóc muối cẩn thận, trông trắng ngần tựa thúng bông mới bật. Đậu xanh đem ngâm kĩ để hết nƣớc chua, đồ thật kĩ, sạch vỏ, giã tơi. Mỡ và thịt đƣợc lọc bỏ bì rồi bóp muối, hạt tiêu. Lá dong phải chọn những lá to bản rồi lau chùi thật sạch sẽ.