Tổng quan luận án

Đề tài "Sự thể hiện số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975" thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam, tiếp cận theo định hướng nghiên cứu định tính dựa trên thi pháp học, tự sự học và lý luận văn học hiện đại.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Sau năm 1975, lịch sử xã hội Việt Nam chuyển từ hoàn cảnh thời chiến sang thời bình, đặt ra yêu cầu dân chủ hóa trên mọi lĩnh vực đời sống. Đặc biệt, Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam (1987) đã xác lập một cách nhìn mới về vị trí, chức năng của văn nghệ, tạo tiền đề để các nhà văn đổi mới tư duy sáng tác. Tiểu thuyết – thể loại tự sự quy mô lớn với khả năng bao quát hiện thực sâu rộng và thâm nhập vào thế giới nội tâm – đã trở thành nơi thể hiện rõ nét sự chuyển biến này. Các tác phẩm xuất hiện sau năm 1975, nhất là từ năm 1986, tập trung khám phá những chiều kích phức tạp, những nỗi buồn, mất mát và nghịch lý trong số phận con người thay cho cái nhìn thuần túy ngợi ca lãng mạn thời chiến.

Về mặt học thuật, trước thời điểm luận án triển khai, phần lớn các công trình nghiên cứu chỉ dừng lại ở các tác giả, tác phẩm đơn lẻ hoặc tiếp cận từng khía cạnh cụ thể mà chưa có một công trình quy mô, mang tính hệ thống toàn diện về diện mạo, quy luật vận động và các phương thức thể hiện số phận con người trong tiểu thuyết giai đoạn này.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là chỉ ra những đổi mới trong việc thể hiện số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975, xem đây là phương diện cốt lõi của sự đổi mới tư duy và nghệ thuật thể loại; từ đó làm rõ quy luật vận động nội tại của văn xuôi Việt Nam thời kỳ đổi mới.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể gồm 3 nhiệm vụ:

  1. Tìm hiểu những tiền đề xã hội, thẩm mỹ của việc quan tâm thể hiện số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975.
  2. Khảo sát những biểu hiện cụ thể của sự thể hiện số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975, so sánh sự thể hiện số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 với tiểu thuyết Việt Nam trước 1975, nhất là giai đoạn 1945 - 1975.
  3. Nêu và phân tích hệ thống phương thức, phương tiện nghệ thuật gắn với việc thể hiện số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Sự thể hiện số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975, bao gồm các tiền đề lịch sử - thẩm mỹ, các bình diện nội dung và hệ thống phương thức, phương tiện biểu hiện nghệ thuật (tổ chức xung đột, xây dựng nhân vật, điểm nhìn, giọng điệu, ngôn ngữ).
  • Phạm vi không gian, thời gian và tư liệu: Luận án khảo sát các tiểu thuyết tiêu biểu xuất bản từ năm 1975 (tập trung từ năm 1986) đến năm 2013. Mẫu khảo sát ưu tiên các tác phẩm đạt giải thưởng của Hội Nhà văn, Bộ Quốc phòng hoặc thu hút sự quan tâm của dư luận học thuật.
Giai đoạn xuất bản Tác phẩm khảo sát tiêu biểu Tác giả Năm xuất bản
1975 – 1985 Miền cháy
Nắng đồng bằng
Trong cơn gió lốc
Đất trắng
Năm 1975, họ đã sống như thế
Họ cùng thời với những ai
Mùa lá rụng trong vườn
Nguyễn Minh Châu
Chu Lai
Khuất Quang Thụy
Nguyễn Trọng Oánh
Nguyễn Trí Huân
Thái Bá Lợi
Ma Văn Kháng
1977
1977
1978
1979, 1984
1979
1981
1985
1986 – 1999 Thời xa vắng
Thân phận tình yêu (Nỗi buồn chiến tranh)
Vòng tròn bội bạc
Chim én bay
Đám cưới không có giấy giá thú
Góc tăm tối cuối cùng
Thiên sứ
Ăn mày dĩ vãng
Ba lần và một lần
Không phải trò đùa
Lê Lựu
Bảo Ninh
Chu Lai
Nguyễn Trí Huân
Ma Văn Kháng
Khuất Quang Thụy
Phạm Thị Hoài
Chu Lai
Chu Lai
Khuất Quang Thụy
1986
1987
1987
1988
1989
1989
1989
1991
1999
1999
2000 – 2013 Trí nhớ suy tàn
Đại tá không biết đùa
Những bức tường lửa
Thiên thần sám hối
Thoạt kỳ thủy
Luật đời và cha con
Dòng sông mía
Giàn thiêu
Hồ Quý Ly
Tiểu thuyết đàn bà
Cõi người rung chuông tận thế
China Town, Vân Vy
Quyên
Đức Phật, nàng Savitri và tôi
Gia đình bé mọn
Tiền định
Những đứa trẻ chết già
Nguyễn Bình Phương
Lê Lựu
Khuất Quang Thụy
Tạ Duy Anh
Nguyễn Bình Phương
Nguyễn Bắc Sơn
Đào Thắng
Võ Thị Hảo
Nguyễn Xuân Khánh
Lý Lan
Hồ Anh Thái
Thuận
Nguyễn Văn Thọ
Hồ Anh Thái
Dạ Ngân
Đoàn Lê
Nguyễn Bình Phương
2000
2001
2004
2004
2005
2005
2006
2007
2007
2008
2008
2009
2009
2010
2010
2010
2013

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tổng thuật lịch sử nghiên cứu vấn đề con người và số phận con người trong văn học Việt Nam theo ba nhóm công trình chính:

Nghiên cứu sự thể hiện số phận con người trong văn học Việt Nam trước 1975

  • Giai đoạn 1930 - 1945: Nhóm tác giả Phan Cự Đệ, Trần Đình Hượu, Nguyễn Trác, Nguyễn Hoành Khung, Lê Chí Dũng, Hà Văn Đức trong Giáo trình Văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945 khẳng định tiểu thuyết hiện thực đã phản ánh nỗi thống khổ của người công nông. Trần Đăng Suyền và Nguyễn Văn Long trong Giáo trình Văn học Việt Nam hiện đại đối sánh khuynh hướng hiện thực và lãng mạn, nhấn mạnh đóng góp của Nam Cao trong việc thể hiện nỗi đau đớn bị hủy hoại về thể xác và linh hồn của con người cùng đường. Lê Thị Dục Tú trong chuyên luận Quan niệm về con người trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn phân tích ba cấp độ giải phóng con người cá nhân. Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Lê Đình Kỵ nghiên cứu Thơ mới ở góc độ nỗi buồn đau cá nhân.
  • Giai đoạn 1945 - 1975: Nguyễn Văn Long trong Quan niệm nghệ thuật về con người và những đặc điểm của sự thể hiện con người trong văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 phân định ba chặng đường: con người tập thể (1945 - 1954), con người mới (1954 - 1964) và con người sử thi (1964 - 1975). Phùng Ngọc Kiếm trong chuyên luận Con người trong truyện ngắn Việt Nam 1945 - 1975 (bộ phận văn học cách mạng) phân tích con người quần chúng gắn với ý thức giai cấp và nhiệm vụ cách mạng, đồng thời chỉ ra sự thức nhận ban đầu về con người cá nhân qua nhu cầu hạnh phúc, nỗi đau thể xác và mất mát riêng tư.

Nghiên cứu sự thể hiện số phận con người trong văn xuôi Việt Nam sau 1975

  • Khởi xướng tư duy đổi mới: Nguyễn Minh Châu với các tiểu luận Viết về chiến tranh và Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa; Hoàng Ngọc Hiến với bài viết Về một đặc điểm của văn học và nghệ thuật ở ta trong giai đoạn vừa qua (nêu khái niệm "chủ nghĩa hiện thực phải đạo"); Nguyên Ngọc với bản Đề cương đề dẫn tại Hội nghị nhà văn đảng viên tháng 6/1979.
  • Nghiên cứu khái quát về diện mạo và quan niệm con người: Trần Đình Sử (Con người trong văn học Việt Nam sau 1945, Mấy vấn đề trong quan niệm con người của văn học Việt Nam thế kỷ XX) chỉ ra sự chuyển dịch sang con người thế sự đời tư, ba phạm trù ý thức cá nhân, sử thi hóa và phi sử thi hóa; Lê Ngọc Trà (Vấn đề con người trong văn học); Huỳnh Như Phương (Văn xuôi những năm 80 và vấn đề dân chủ hóa nền văn học); Bùi Việt Thắng (Văn xuôi gần đây và quan niệm con người); Tôn Phương Lan (Một vài suy nghĩ về con người trong văn xuôi thời kỳ đổi mới, 2001); Vũ Tuấn Anh (Đổi mới văn học vì sự phát triển); Nguyễn Thị Bình (Văn xuôi Việt Nam 1975 - 1985 những đổi mới cơ bản); Nguyễn Văn Kha (Đổi mới quan niệm về con người trong truyện Việt Nam 1975 - 2000).

Nghiên cứu chuyên biệt về tiểu thuyết và các cuộc tranh luận học thuật

  • Các nghiên cứu tiểu thuyết: Nguyễn Bích Thu (Ý thức cách tân trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975); Mai Hải Oanh (Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, 2009 - phân loại nhân vật tự ý thức, nhân vật bi kịch, tha hóa, dị biệt); Bùi Việt Thắng (Tiểu thuyết đương đại, 2005); Nguyễn Hải Hà và Nguyễn Thị Bình (Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn xuôi Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám); Trần Cương; Nguyễn Thị Kim Tiến (Con người trong văn học thời kỳ đổi mới).
  • Luận án tiến sĩ và luận văn liên quan: Luận án của Nguyễn Thị Bình (1996), Nguyễn Thị Thanh Nga (2006), Nguyễn Thị Thanh Xuân; các luận văn của Lê Thị Bích Hạnh (2004), Phạm Thị Thu Thủy (2003), Bùi Thị Hương (2004), Nguyễn Thị Ngọc Diệp (2003).
  • Dư luận quanh các tác phẩm: Các cuộc thảo luận về Thân phận của tình yêu (Bảo Ninh) do tuần báo Văn nghệ tổ chức ngày 24/8/1991 (với sự tham gia của Trần Đình Sử, Nguyên Ngọc, Vũ Quần Phương, Chu Lai, Từ Sơn); các ý kiến đánh giá của Lê Thành Nghị, Bùi Việt Thắng về Vòng tròn bội bạc, Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai), Vân Thanh về Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng).

Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết

Hầu hết các công trình trước đây chỉ khảo sát một tác giả, một tác phẩm cụ thể, hoặc xem xét số phận con người như một yếu tố minh họa trong quan niệm nghệ thuật tổng quát. Luận án xác lập vị trí là công trình chuyên sâu, giải quyết vấn đề sự thể hiện số phận con người một cách hệ thống trên cả hai bình diện: nội dung phản ánh và hệ thống phương thức nghệ thuật biểu hiện trong thể loại tiểu thuyết sau 1975.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Hệ thống khái niệm và cơ sở lý thuyết

  • Khái niệm "Quan niệm nghệ thuật về con người": Luận án tiếp thu định nghĩa của Trần Đình Sử, xác định đây là phạm trù thẩm mỹ chỉ cách cắt nghĩa, đánh giá, lý giải của nhà văn về phẩm chất, số phận và tương lai con người thông qua hệ thống hình thức nghệ thuật trong tác phẩm. Quan niệm nghệ thuật biểu hiện tập trung ở cấu tạo nhân vật (tên gọi, chân dung, hành động, tâm lý, ngôn ngữ).
  • Cơ sở triết học về con người: Luận án điểm lại các quan niệm từ triết học phương Đông (con người là tiểu vũ trụ), phương Tây cổ điển (Descartes với luận điểm "Tôi tư duy, tôi tồn tại"; Thomas d'Aquin; Feuerbach đề cao bản tính tự nhiên), triết học duy vật biện chứng của Karl Marx ("con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội"), lý thuyết vô thức của Sigmund Freud, đến chủ nghĩa hiện sinh (nhấn mạnh con người là một "nhân vị", một hữu thể cô đơn trong sự tự do lựa chọn và hành động).
  • Khung lý thuyết văn học: Vận dụng lý thuyết thi pháp học (thi pháp thể loại, thi pháp nhân vật), tự sự học (điểm nhìn, trần thuật, dòng ý thức, kết cấu đa tuyến, phân mảnh, đảo thuật) và lý thuyết liên văn bản.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án hoàn toàn thuộc mô hình nghiên cứu định tính, sử dụng các phương pháp chuyên ngành:

  • Phương pháp lịch sử: Đặt tiểu thuyết sau 1975 trong bối cảnh lịch sử - xã hội của công cuộc Đổi mới và tiến trình phát triển của văn học dân tộc.
  • Phương pháp cấu trúc - hệ thống: Khảo sát đối tượng nghiên cứu như một chỉnh thể nghệ thuật có tổ chức, đặt tiểu thuyết viết về số phận con người trong hệ thống tiểu thuyết sau 1975 và toàn bộ nền văn xuôi đương đại.
  • Phương pháp so sánh - đối chiếu: So sánh tiểu thuyết sau 1975 với văn học giai đoạn 1945 - 1975, văn học đô thị miền Nam giai đoạn 1954 - 1975 và tiểu thuyết hiện đại phương Tây để chỉ ra sự kế thừa và cách tân.
  • Phương pháp liên ngành: Vận dụng tri thức từ triết học, tâm lý học, xã hội học kết hợp các thao tác phân tích, tổng hợp văn bản nghệ thuật.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận án là văn bản tác phẩm của hơn 30 tiểu thuyết tiêu biểu xuất bản trong giai đoạn 1977 - 2013, cùng các tư liệu văn học giai đoạn 1945 - 1975 (Dấu chân người lính, Hòn Đất, Sống mãi với thủ đô, Đất nước đứng lên, Người mẹ cầm súng, Một truyện chép ở bệnh viện) và văn học đô thị miền Nam 1954 - 1975 (Điệu ru nước mắt, Ngựa chứng sân trường, Con đường, Tóc mây, Hơi thở rướn cong, Nhang tàn thắp khuya, Ngày qua bóng tối, Vòng tay học trò).


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương này tổng kết toàn diện các khuynh hướng nghiên cứu về con người trong văn xuôi Việt Nam trước và sau năm 1975. Tác giả phân tích những thành tựu của giới nghiên cứu trong việc nhận diện con người qua các giai đoạn lịch sử, từ con người giai cấp, con người sử thi sang con người cá nhân, con người đời tư - thế sự sau Đổi mới; đồng thời chỉ ra khoảng trống về một công trình khảo sát hệ thống, toàn diện dành riêng cho thể loại tiểu thuyết về chủ đề số phận con người.

Chương 2: Những tiền đề xã hội, thẩm mỹ của việc quan tâm thể hiện số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975

Chương 2 phân tích các yếu tố tiền đề hình thành ý thức nghệ thuật mới:

  • Thể loại tiểu thuyết và số phận con người: Phân tích ưu thế của tiểu thuyết trong việc chiếm lĩnh đời sống cá nhân và phân tích ba giới hạn cơ bản của tiểu thuyết giai đoạn 1945 - 1975:
    1. Tô đậm "những lựa chọn cao cả": Khắc họa con người quần chúng, con người sử thi, hy sinh cái riêng cho cái chung (Đất nước đứng lên, Hòn Đất, Dấu chân người lính).
    2. Né tránh thể hiện những bi kịch số phận: Tập trung vào chiến thắng, giảm thiểu sự đau thương, mất mát cá nhân.
    3. Ưu tiên sự kiện hơn là tâm lý: Mải miết chạy theo sự kiện lịch sử (Sống mãi với thủ đô, Dấu chân người lính) mà chưa lắng lại trước đời sống nội tâm cá nhân.
  • Tiền đề lịch sử, văn hóa, thẩm mỹ sau 1975: Bối cảnh hòa bình, công cuộc Đổi mới từ năm 1986, Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị (1987); sự thức tỉnh ý thức tự thân và trách nhiệm của nhà văn (tiểu luận của Nguyễn Minh Châu, Hoàng Ngọc Hiến); ảnh hưởng từ triết học phương Tây (chủ nghĩa hiện sinh, phân tâm học) và sự tiếp nhận các yếu tố thẩm mỹ, kỹ thuật từ tiểu thuyết đô thị miền Nam 1954 - 1975 (cảm thức cô đơn, thân xác, tính dục, kỹ thuật dòng ý thức, cốt truyện phân mảnh trong các tác phẩm của Bảo Ninh, Nguyễn Bình Phương, Đỗ Phấn, Nguyễn Ngọc Tư, Đoàn Minh Phượng).
  • Tổng quan chặng đường mới: Nhận diện sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người từ con người cộng đồng sang con người cá thể phức tạp, đa chiều.
Tiền đề lịch sử - xã hội (Sau 1975, Đổi mới 1986, Nghị quyết 05)
Ý thức tự thân của nhà văn & Tiếp nhận học thuật (Hiện sinh, Phân tâm, Kỹ thuật mới)

Chương 3: Những bình diện chủ yếu của số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975

Chương 3 triển khai khảo sát nội dung cụ thể của số phận con người trên ba bình diện:

  • Số phận con người giữa những lựa chọn khó khăn của đời sống chiến tranh: Làm rõ quan hệ éo le giữa số phận dân tộc và số phận cá nhân; cái giá phải trả của những lựa chọn vươn theo chuẩn mực phi thường; sự tiêu mòn nhân tính trong và sau chiến tranh.
  • Số phận con người giữa muôn mặt phức tạp của đời thường: Khắc họa các dạng bi kịch thời hậu chiến và kinh tế thị trường, bao gồm bi kịch kém thích ứng; bi kịch thích ứng vội vàng nhưng thiếu hụt nền tảng văn hóa; bi kịch nhầm lẫn trong việc tìm kiếm và xác lập hệ giá trị mới.
  • Số phận con người trong việc khẳng định những gì thuộc về bản thể: Thể hiện cuộc đấu tranh khẳng định cá tính; sự khẳng định nhu cầu bản năng (tính dục, thể xác); và việc xác lập những lựa chọn tư tưởng riêng biệt.

Chương 4: Các phương thức, phương tiện thể hiện số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975

Chương 4 phân tích các kỹ thuật và phương tiện nghệ thuật biểu hiện:

  • Nghệ thuật tổ chức xung đột: Chuyển đổi tư duy về xung đột xã hội; tô đậm xung đột giữa con người với hoàn cảnh; xoáy sâu vào xung đột nội tâm giữa các thành tố nhân cách.
  • Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Thực hiện biệt loại hóa nhân vật; nhấn mạnh tính chưa hoàn kết của số phận nhân vật; chú trọng yếu tố phiêu lưu và trải nghiệm hiện sinh.
  • Nghệ thuật tổ chức điểm nhìn, giọng điệu và ngôn ngữ: Đa dạng hóa hệ thống điểm nhìn (đa điểm nhìn, điểm nhìn bên trong); phối trí linh hoạt các sắc thái giọng điệu (suy tư, chiêm nghiệm, mỉa mai, đồng cảm); khai thác tính đa thanh của ngôn ngữ tiểu thuyết.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Khẳng định sự đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 thực chất bắt nguồn từ sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người, xem đây là nhân tố chi phối toàn bộ sự biến chuyển về cấu trúc thể loại, hệ thống nhân vật và ngôn ngữ nghệ thuật.
  • Gợi mở các vấn đề lý luận về quy luật vận động của văn học hiện đại trong thời kỳ chuyển đổi từ tư duy sử thi sang tư duy đời tư - thế sự và nhân bản.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên khảo sát toàn diện diện mạo số phận con người trong tiểu thuyết sau 1975 trên cả hai phương diện: nội dung thể hiện và hệ thống phương tiện biểu hiện nghệ thuật.
  • Cung cấp nguồn tư liệu và hệ thống luận điểm khoa học giúp làm rõ quá trình vận động nội tại của văn xuôi Việt Nam từ sau 1975 (nhất là giai đoạn sau 1986 đến những năm đầu thế kỷ XXI).
  • Xác lập cơ sở khoa học hỗ trợ việc thẩm định, đánh giá các tác phẩm văn học thời kỳ đổi mới dưới góc nhìn nhân bản và dân chủ.

Kiến nghị và đề xuất

  • Đề xuất ứng dụng kết quả nghiên cứu vào công tác giảng dạy, biên soạn giáo trình và giảng dạy các chuyên đề văn học Việt Nam hiện đại ở bậc đại học và trung học phổ thông.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Theo phạm vi xác lập trong văn bản, luận án giới hạn đối tượng nghiên cứu ở thể loại tiểu thuyết, chưa bao quát toàn bộ các thể loại văn xuôi tự sự khác như truyện ngắn, ký hay phóng sự sau năm 1975.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu số phận con người sang các thể loại văn xuôi khác (truyện ngắn, tự truyện); khảo sát sâu hơn các tác phẩm tiểu thuyết xuất bản trong những năm gần đây; so sánh đối chiếu với tiểu thuyết đương đại của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Luận án là tài liệu tham khảo cho nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Văn học, Ngữ văn, Lý luận văn học và giảng viên giảng dạy văn học Việt Nam hiện đại.
  • Nội dung đáng tham khảo:
    • Phần đối sánh chi tiết giữa tiểu thuyết thời chiến (1945 - 1975) và tiểu thuyết thời kỳ Đổi mới (sau 1975).
    • Hệ thống phân loại ba bình diện số phận con người (Chương 3) và các kỹ thuật tự sự học như điểm nhìn, tính đa thanh, kết cấu nhân vật chưa hoàn kết (Chương 4).

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án chỉ ra những giới hạn nào của tiểu thuyết giai đoạn 1945 - 1975 trong việc thể hiện số phận con người?

Theo phân tích của tác giả, tiểu thuyết giai đoạn 1945 - 1975 có 3 giới hạn cơ bản: (1) Tô đậm những lựa chọn cao cả của con người sử thi, tập thể; (2) Né tránh thể hiện những bi kịch số phận và nỗi đau mất mát cá nhân; (3) Ưu tiên miêu tả diễn tiến sự kiện lịch sử hơn là đào sâu vào đời sống tâm lý nội tâm.

2. Sự thể hiện số phận con người trong tiểu thuyết sau 1975 được phân chia thành những bình diện chủ yếu nào?

Luận án phân chia thành 3 bình diện chính: (1) Số phận con người giữa những lựa chọn khó khăn của đời sống chiến tranh; (2) Số phận con người giữa muôn mặt phức tạp của đời thường (các bi kịch thích ứng và tìm kiếm bảng giá trị); (3) Số phận con người trong việc khẳng định những gì thuộc về bản thể (cá tính, nhu cầu bản năng, lựa chọn tư tưởng riêng).

3. Những tiền đề tư tưởng và kỹ thuật nào đã tác động đến sự đổi mới thể hiện số phận con người sau 1986?

Ngoài bối cảnh lịch sử - xã hội và Nghị quyết 05 năm 1987, luận án chỉ ra sự tác động từ: (1) Ý thức tự giác, tự vấn của các nhà văn (tiểu biểu là Nguyễn Minh Châu); (2) Sự tiếp nhận triết học phương Tây (chủ nghĩa hiện sinh, thuyết phân tâm học); (3) Ảnh hưởng từ văn học đô thị miền Nam 1954 - 1975 về cảm thức hiện sinh, bản năng thân xác, cùng các kỹ thuật trần thuật hiện đại như dòng ý thức, đảo thuật, cốt truyện phân mảnh.

4. Hệ thống phương thức nghệ thuật thể hiện số phận con người trong luận án gồm những yếu tố nào?

Hệ thống phương thức gồm 3 nhóm: (1) Nghệ thuật tổ chức xung đột (xung đột hoàn cảnh, xung đột cấu thành nhân cách); (2) Nghệ thuật xây dựng nhân vật (biệt loại hóa, nhấn mạnh tính chưa hoàn kết, tính phiêu lưu trải nghiệm); (3) Nghệ thuật tổ chức điểm nhìn, giọng điệu và tính đa thanh của ngôn ngữ.

5. Phạm vi tư liệu khảo sát của luận án bao gồm những tác giả và tác phẩm tiêu biểu nào?

Luận án khảo sát các tiểu thuyết xuất bản từ 1977 đến 2013, tiêu biểu gồm các tác phẩm của Nguyễn Minh Châu (Miền cháy), Lê Lựu (Thời xa vắng), Bảo Ninh (Thân phận tình yêu / Nỗi buồn chiến tranh), Chu Lai (Ăn mày dĩ vãng, Vòng tròn bội bạc), Ma Văn Kháng (Mùa lá rụng trong vườn), Phạm Thị Hoài (Thiên sứ), Nguyễn Bình Phương (Thoạt kỳ thủy, Những đứa trẻ chết già), Hồ Anh Thái, Thuận, Võ Thị Hảo, Nguyễn Xuân Khánh.


Kết luận

Luận án "Sự thể hiện số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975" là công trình nghiên cứu định tính có hệ thống về quá trình chuyển dịch tư duy nghệ thuật của tiểu thuyết Việt Nam từ cảm hứng sử thi sang cảm quan nhân bản đời thường. Tác giả đã làm rõ các tiền đề lịch sử - thẩm mỹ, phân tích sâu sắc ba bình diện nội dung của số phận con người và chỉ ra các phương thức biểu hiện nghệ thuật đặc thù trong văn tài tự sự thời kỳ Đổi mới. Công trình cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn có giá trị cho việc nghiên cứu, giảng dạy văn học Việt Nam hiện đại.