đặt vấn đề tìm hiểu sự thể hiện số phận con ngƣời trong văn học giai đoạn này với tƣ cách là một đối tƣợng chuyên biệt, mà chủ yếu nhƣ một vấn đề "tạt qua" để so sánh, hay làm dẫn chứng minh họa cho một ý tƣởng nào đó trong mạch lập luận của mình. Có một điều không thể không nhắc đến, là khi nghiên cứu sự thể hiện con ngƣời trong văn học giai đoạn 1945 - 1975, thái độ đánh giá của các tác giả cũng có những điểm khác nhau nhất định: có ngƣời vẫn khẳng định tuyệt đối các thành tựu của văn học giai đoạn này, có ngƣời bắt đầu chỉ ra những hạn chế, nhƣợc điểm của nó. Điều này, xét đến cùng, là quy luật bình thƣờng của sự tiếp nhận văn học. Nghiên cứu sự thể hiện số phận con người trong văn xuôi Việt Nam sau 1975 Đến năm 1975, văn học về cơ bản hoàn thành sứ mệnh phục vụ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nƣớc theo yêu cầu của lịch sử.
Tuy nhiên, cũng nhƣ quy luật của đời sống nói chung, vấn đề tái nhận thức chính bản thân của văn học đƣợc đặt ra một cách khá ráo riết. Điều đó trở thành một niềm hối thúc hơn nữa khi, không đợi đến chiến tranh kết thúc, mà trƣớc đó, đã từng có ngƣời viết trăn trở về thực trạng của nền sáng tác thời chiến. Nguyễn Minh Châu từ trƣớc 1975 đã có những suy tƣ về câu chuyện này và sau 1975 lại là ngƣời đầu tiên cật vấn nhiều thiếu sót của nền văn học, trong đó có cách xử lý của nhà văn về các vấn đề liên quan đến sự thể hiện con ngƣời, về mối quan hệ con ngƣời với lịch sử, với hiện thực. Ông viết, trong tiểu luận Viết về chiến tranh: “Các nhân vật thƣờng có khuynh hƣớng đƣợc mô tả một chiều thƣờng là quá tốt, chƣa thực.
Hình nhƣ tất cả những mặt tính cách đa dạng phải phơi bày trong đời sống thực thì lại có thể giấu mình trên trang sách” [38]. Không phải chỉ với tiểu luận Viết về chiến tranh, tƣ tƣởng của Nguyễn Minh Châu đƣợc thể hiện trong khá nhiều bài viết của chính ông hoặc trong các trả lời phỏng vấn, các cuộc trò chuyện. Tính hệ thống và màu sắc lí luận rất rõ trong các phát biểu ấy là tất yếu, khi nó là sản phẩm của một hành trình suy tƣ và trải nghiệm nghiêm túc. Tiểu luận của Nguyễn Minh Châu đã tác động đến Hoàng Ngọc Hiến, khiến nhà nghiên cứu này nâng những trăn trở về đề tài chiến tranh cách mạng thành sự tổng kết lý luận về một “chủ nghĩa hiện thực phải đạo” trong bài viết gây nhiều dƣ luận trái chiều đƣơng thời: Về một đặc điểm của văn học và nghệ thuật ở ta trong giai đoạn vừa qua [85].
Sau đó gần mƣời năm, trong không khí Đổi mới, Nguyễn Minh Châu thúc giục một sự đoạn tuyệt cần 10 thiết khi kêu gọi Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa [37]. Giữa hai dấu mốc đƣợc tạo lập bởi Nguyễn Minh Châu và Hoàng Ngọc Hiến, tháng 6/1979, Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức một hội nghị nhà văn đảng viên, Nguyên Ngọc trong tƣ cách Bí thƣ Đảng đoàn đã chấp bút và thay mặt Đảng đoàn trình bày Đề cƣơng đề dẫn thảo luận ở Hội nghị đảng viên bàn về sáng tác văn học. Bản đề dẫn với hai nội dung chính là “nhìn lại một thời kỳ văn học vừa qua” và “những phƣơng hƣớng nhiệm vụ của văn học trong tình hình mới” với ít nhiều quan điểm cấp tiến. Đáng tiếc là những yếu tố cấp tiến ấy đã không hội đủ sự ủng hộ để trở thành cƣơng lĩnh hoạt động cho một giai đoạn văn học mới.
"Đổi mới", "cởi trói"., những mệnh đề ấy thực sự đã tạo nên một chuyển động quan trọng trong đời sống văn học ở cả bình diện "lập thuyết" và cả ở những nghiên cứu cụ thể. Ở bình diện nghiên cứu, có thể nói Trần Đình Sử là một trong những ngƣời tiên phong đƣa ra những nhận định về con ngƣời đƣợc phản ánh trong văn học Việt Nam hiện đại. Ở bài "Con ngƣời trong văn học Việt Nam sau 1945" [170] in trong cuốn Một thời đại mới trong văn học, sau khi bàn về cách nhìn con ngƣời trong văn học giai đoạn chống Pháp và chống Mỹ, tác giả chỉ ra rằng giai đoạn tiền đổi mới 1975 – 1985, con ngƣời vừa là đối tƣợng để ngợi ca hay phê phán (nhƣ giai đoạn văn học trƣớc), vừa là đối tƣợng để nghiên cứu phân tích nhiều mặt trên cái nhìn mang khuynh hƣớng đạo đức thế sự. Sau chiến tranh, sự nảy nở và phát triển của con ngƣời cá nhân, cá thể, các vấn đề của đạo đức, số phận đƣợc đặt ra ngày càng bức thiết.
Tình hình đó đòi hỏi văn học nói chung, tiểu thuyết nói riêng phải không ngừng tìm tòi những hình thức, phƣơng thức khám phá có chiều sâu hơn. Trong bài viết này tác giả cũng đã nhận định: tới năm 1986, vấn đề con ngƣời thế sự đời tƣ và vấn đề triết lý văn hóa mới thực sự tạo đƣợc bƣớc đột phá. Vẫn tiếp tục cảm hứng nghiên cứu ấy, trong bài viết Mấy vấn đề trong quan niệm con người của văn học Việt Nam thế kỷ XX, nhà nghiên cứu cho rằng con ngƣời trong văn học mất dần tính nguyên phiến sử thi mà hiện ra với chiều sâu mâu thuẫn, nhất là trong tình cảm, đạo đức: “Ngoài ý chí, tƣ tƣởng tình cảm còn đƣợc khắc họa ở phƣơng diện bản năng, vô thức, tâm linh, nghịch lý” [172, tr. Tác giả cho thấy đó là biểu hiện của sự trở lại với con ngƣời cá thể, từ đó ông khẳng định ba phạm trù cơ bản phản ánh cái mới, tính độc đáo và quy luật vận động của văn học: ý thức cá nhân, sử thi hóa và phi sử thi hóa.
Sáng tạo theo quy luật của văn học thời bình trong tâm thế đƣợc "cởi trói" của thời kỳ đổi mới, sự tự do tƣơng đối trong sáng tạo, sự xuất hiện và củng cố những nhận thức mới về cuộc đời và con ngƣời sau độ lùi thời gian, cuộc tiếp xúc, giao lƣu và tiếp nhận những thành tựu văn học phƣơng Tây cùng với khát vọng trả món nợ với văn chƣơng đã khiến các thế hệ nhà văn có những thay đổi căn bản về tƣ duy nghệ 11 thuật trong bầu không khí cởi mở, dân chủ. Trên cơ sở đó, sự thể hiện số phận con ngƣời trong văn học cũng đƣợc giới nghiên cứu tiếp cận, lý giải tập trung, đầy đủ hơn từ những nhân tố tác động khách quan tới nhân tố chủ quan, với sự thay đổi cả về lƣợng và chất. Cùng chia sẻ với Nguyễn Minh Châu ở quan niệm về hiện thực, quan niệm về mối liên hệ giữa con ngƣời với hiện thực và trách nhiệm của văn học trong phản ánh, "nghiền ngẫm hiện thực", bài viết của Lê Ngọc Trà về Vấn đề con người trong văn học khẳng định: “Nhiều năm qua văn học chúng ta còn mắc nợ cuộc đời về sự thật. Sự thật về ngƣời nông dân Việt Nam trong cơn bão táp của cuộc cách mạng và chiến tranh, về ngƣời lính suốt ba thế hệ cầm súng đánh giặc trên đủ loại chiến trƣờng với bao nhiêu vinh quang, hy sinh và mất mát, về anh cán bộ nghiêm túc, lƣơng không đủ ăn, về ngƣời trí thức cách mạng với lòng yêu nƣớc và những ngộ nhận ngây thơ, với niềm tâm huyết, say mê và bao điều dằn vặt” [213, tr.
Lấy tính chất dân chủ làm tiêu chí đánh giá bản chất của văn học, nhìn sự vận động của văn học trong vận động của tính dân chủ, Huỳnh Nhƣ Phƣơng ở Văn xuôi những năm 80 và vấn đề dân chủ hóa nền văn học [161] cho rằng dấu hiệu dân chủ hóa nền văn học chủ yếu là sự dân chủ hóa trong quan niệm về con ngƣời. Từ việc miêu tả con ngƣời một chiều, con ngƣời bị ràng buộc bởi những lề luật ở ngoài mình, các nhà văn đã đi vào thế giới nội tâm để khám phá chiều sâu tâm linh nhằm nhận diện hình ảnh con ngƣời đích thực. Bùi Việt Thắng qua bài viết Văn xuôi gần đây và quan niệm con người [185], đã đề cập tính chất “áp sát” cuộc sống và con ngƣời của văn học và cho rằng tính chất đó bộc lộ một “quan niệm tiến bộ về con ngƣời”: Thứ nhất, con ngƣời và hoàn cảnh, hoàn cảnh là nhân tố dễ làm tha hóa con ngƣời. Thứ hai, văn học đề cập đến những mâu thuẫn, những nghịch lý cuộc đời và số phận con ngƣời.
Thứ ba, văn học đã chú ý thể hiện những “cái con ngƣời” trong con ngƣời. Tôn Phƣơng Lan với Một vài suy nghĩ về con người trong văn xuôi thời kỳ đổi mới đăng trên Tạp chí Văn học số 9/2001, qua việc so sánh với văn học trƣớc đó, đã khẳng định cái mới trong việc thể hiện số phận con ngƣời của văn học sau 1975: “Nếu nhƣ trƣớc đây con ngƣời chỉ là đối tƣợng hầu nhƣ chỉ để ca ngợi hay phê phán thì giờ đây nó đƣợc nhà văn đi vào thế giới nội tâm, đi vào số phận của họ, tìm đến những vấn đề cụ thể, đời thƣờng mà vẫn mang ý nghĩa nhân loại” [116, tr. Theo tác giả, việc đổi mới quan niệm nghệ thuật về con ngƣời dẫn đến sự đổi mới trong thể hiện số phận con ngƣời, mà điểm đáng chú ý nhất là sự thay đổi về nguồn gốc tính cách, số phận của hệ thống nhân vật, theo đó là sự đa dạng về góc nhìn nhân vật. Từ đó văn học cho thấy “con ngƣời đang đƣợc thông hiểu, đang đƣợc nhìn nhận từ nhiều phía để đƣợc hiện lên đúng nhƣ những gì nó có” [116, tr.
Ở một bài viết khác, tác giả Tôn 12 Phƣơng Lan nhấn mạnh: "Khảo sát con ngƣời trong nhu cầu nhận thức, các nhà văn đã tìm nhiều cách để tiếp cận với cõi tận cùng trong tâm hồn con ngƣời. Con ngƣời luôn mong đợi. Con ngƣời luôn khát khao, hy vọng và tìm kiếm cho dù có khi họ biết cái đã qua không bao giờ trở lại cũng nhƣ điều mong ƣớc chắc gì đã có đƣợc trong đời” [115]. Sự thay đổi cách thể hiện số phận con ngƣời cũng đƣợc cắt nghĩa, lý giải từ ý thức tự thân của văn học trong tƣ duy nghệ thuật về con ngƣời.
Từ góc nhìn này, Vũ Tuấn Anh nhìn thấy sự đối lập và bổ sung lí thú giữa cái mới và cái cũ. Ông cũng xem xét nguồn gốc của sự thay đổi ấy từ quan hệ văn học với chính trị.