đặt vấn đề về con người. Trong văn học, con người là điểm xuất phát, đồng thời cũng là đích cuối cùng của mọi sáng tạo. Toàn bộ thế giới nghệ thuật trong văn học bộc lộ một quan niệm thẩm mỹ về con người. Một tác phẩm văn học có thể không có nhân 11 z vật người nhưng nó luôn phải là câu chuyện về cõi nhân sinh.
Có như vậy, văn học mới làm cho con người hướng thiện hơn, nhân ái hơn và cũng làm cho con người đa dạng, phong phú. từng trải và hiểu biết hơn….2 Sự đổi mới quan niệm về con ngƣời trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 Quan niệm là một điều cốt lõi trong sang tạo nghệ thuật. Phải có một quan niệm, nhà văn mới có thể lựa chọn, khái quát, nhào nặn, tạo ra hình tượng nghệ thuật.Likhachiev, quan niệm nghệ thuật gắn với sự miêu tả con người, cái nhìn nghệ thuật về con người trong sự miêu tả đó. Cho nên quan niệm nghệ thuật về con người như là cơ sở trung tâm đưa văn học vào đúng quỹ đạo “nhân học” của nó.
Nói quan niệm nghệ thuật là nói tới “phạm trù về các chỉnh thể nghệ thuật, là công cụ để tư duy về các hiện tượng nghệ thuật như những chỉnh thể”[35]. Trong đó, quan niệm nghệ thuật về con người có một cách hiểu chung mang tính phổ biến, đó là sự “lí giải, cắt nghĩa sự cảm thấy con người đã được hóa thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp hình thức thể hiện con người trong văn học”[37]. Chừng nào chưa có sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người thì sự tái hiện các hiện tượng đời sống khác nhau chỉ có ý nghĩa mở rộng về lượng trên cùng một chiều sâu. Điều này chứng tỏ sự phát triển của tư duy nghệ thuật phải song hành cùng sự mở rộng, đào sâu các giới hạn trong quan niệm nghệ thuật về con người.
Khi tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người trong tác phẩm văn học, chúng ta cũng thấy điểm nhìn khác nhau về con người của các nhà văn trong từng giai đoạn, từng thời kì. Trong thực tế sáng tác và tiếp nhận văn học, người sáng tác có cách giải mã con người theo ý đồ riêng của mình, người tiếp nhận cũng dễ dàng nhận ra. Bởi vì, những thay đổi trong quan niệm nghệ thuật qua các chặng đường sáng tác văn học, thể hiện ý thức của nhà văn về việc miêu tả con người, cho thấy sự biến đổi mô hình nghệ thuật về con người, được người nghệ sĩ cụ thể hóa trong các nhân vật. 12 z Con người trong văn học Việt Nam 1945- 1975 chủ yếu là con người trùng khít với con người xã hội, con người của tầng lớp, giai cấp, con người hành động, con người phi thường.
Điều này cũng dễ hiểu, bởi trong hoàn cảnh kháng chiến, nhiệm vụ của văn học là trực tiếp tham gia vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, hưởng ứng các khẩu hiệu và nhiệm vụ chính trị. Về cơ bản, đó là những tính cách nhất quán, hoặc xấu hoặc tốt, hoặc cao cả hoặc thấp hèn. Cái nhìn về con người của nhà văn bị sự quy định chặt chẽ bởi cái nhìn chung của cộng đồng. Nhà văn muốn thông qua con người để phán ánh lịch sử, con người trở thành phương tiện để khám phá lịch sử.
Vì vậy mà nhân vật trong tiểu thuyết thời kì này nặng về cái chung mà nhẹ về cái riêng. Làm sao có thể khác được? Chiến tranh có quy luật riêng của nó. Muốn vượt qua những khắc nghiệt của chiến tranh, con người cần sống một cách thực tế, không được phép quá suy tư và đa cảm, không được phép nghĩ nhiều đến lợi ích và nguyện vọng riêng tây và cần huy động mọi phẩm chất cao đẹp tiềm ẩn trong bản thân mình. Chính điều này đã dẫn đến hệ thống nhân vật trong tiểu thuyết 1945- 1975 mang tính phân tuyến: ta đại diện cho cái thiện, chính nghĩa, địch tiêu biểu cho cái ác, phi nghĩa.
Để ngợi ca vẻ đẹp của chính nghĩa, của lòng yêu nước, các nhà văn đã dựng lên những nhân vật mang màu sắc lí tưởng, tiêu biểu cho vẻ đẹp của cộng đồng (chị Sứ, Hai Thép trong Hòn đất của Anh Đức, Lữ, Khuê trong Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu, Thụy, Môn, Nhàn trong Xung đột của Nguyễn Khải…). Cảm hứng lãng mạn và khuynh hướng sử thi đã chi phối nguyên tắc xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết giai đoạn này. Từ sau 1975, tình hình cục diện đã hoàn toàn đổi khác. Cuộc sống mới đã đặt ra những triển vọng cao hơn cùng những đòi hỏi lớn hơn đối với nhà văn.
Việc chuyển đổi mối quan tâm của văn học chính là nguyên nhân chi phối sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người bởi nó đồng nghĩa với sự thay đổi vị thế của con người trong văn học: từ vai trò là phương tiện để nhà văn quan sát lịch sử xã hội trở thành đối tượng quan sát của nhà văn. Con người quay trở về với thời bình, phải đối diện với bao khó khăn phức tạp. Đời sống cá nhân của con người với bao mối quan hệ chằng chịt, phức tạp lắm khi oái oăm đã trở 13 z thành đối tượng của văn học. Mỗi con người vừa là thành viên của một thể chế xã hội, cũng vừa là một con người cá nhân trong mối quan hệ với chính mình, với gia đình, bạn bè, người thân.
Nhân vật được nhìn ngắm, soi chiếu trên trục lịch đại để hiểu rõ về bản thân. Các nhân vật luôn có ý thức nhìn nhận về quá khứ để lí giải chính bản thân mình, để tự thú, để sám hối. Trong sự vận động của chính bản thân, con người tự nhận thấy cái cao cả, cái thấp hèn, cái tốt, cái xấu…trong chính mình. Như thế, với tư cách là đối tượng của văn học “con người được nhìn nhận như một nhân cách đích thực trong tính tổng thể và toàn vẹn, được soi chiếu từ mọi mối quan hệ, được thừa nhận ở mọi giá trị liên quan tới con người mà trong đó giá trị xã hội chỉ là một yếu tố”[35].
Vì đời sống cá nhân là đối tượng hàng đầu nên những gì thuộc về cá nhân đều được nhà văn nỗ lực khai thác, khám phá. Nếu nhân vật của giai đoạn trước thường được nhấn mạnh ở góc độ xã hội, giai cấp, tầng lớp thì nhân vật thời kì này được đặc biệt quan tâm thể hiện ở tư cách cá nhân, với thế giới tâm hồn đầy bí ẩn. Những trăn trở, những suy tư dằn vặt của nhân vật được nhà văn khắc họa sâu sắc nhằm thể hiện rõ hơn con người cá nhân. Thế giới nội tâm của con người được khám phá ở bình diện ý thức, tiềm thức, vô thức.
Những khát vọng, mong ước mang tính bản năng được nói đến nhiều hơn. Vấn đề hạnh phúc cá nhân, tình yêu gắn với tình dục được nhắc đến như một phần tất yếu của con người mang đầy tính nhân bản. Bệnh đơn giản một chiều trong quan niệm nghệ thuật về con người ở giai đoạn trước đã được khắc phục. Văn học mở rộng khám phá con người trên nhiêu bình diện: con người phàm tục xen lẫn thiên thần và ác quỷ, con người không hoàn hảo vừa có ý nghĩa đối thoại với những quy phạm nghệ thuật từng được xác lập trong quá khứ, vừa đòi hỏi phải xem xét con người một cách toàn diện, trong những hoàn cảnh cụ thể, cá biệt.
Và thật có ý khi báo cáo của Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam lần thứ VI khẳng định: “có lẽ sự thật lớn nhất mà văn học ta cần tìm hiểu là sự thật về tâm hồn con người”. 14 z Khi nói đến cái nhìn toàn vẹn về con người, chúng ta nói đến con người trong ba mối quan hệ chính: con người xã hội, con người tự nhiên và con người tâm linh.1 Con ngƣời xã hội Con người trong tính hiện thực của nó luôn là “tổng hòa của các mối quan hệ xã hội” (Mark). Con người tồn tại những thuộc tính xã hội. Là một tế bào của xã hội, con người phản ánh nhiều mối quan hệ xã hội: gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, dòng tộc, luật pháp.
Mỗi giai đoạn lịch sử, con người xã hội trong văn học lại được nhìn nhận ở một phương diện khác. Trước 1975, con người xã hội là một phương diện được văn học đặc biệt chú ý. Về cơ bản đó là những con người được được xếp theo giai cấp nhất định, có tư tưởng rõ ràng, có lập trường kiên định. Sau 1975, các nhà tiểu thuyết vẫn chú ý đến con người xã hội nhưng rõ ràng mức độ quan tâm đã khác trước.
Con người trong tiểu thuyết thời kì đổi mới không quá nặng về giai cấp, đấu tranh giai cấp mà nó được nhìn nhận trong nhiều mối quan hệ khác nhau: quan hệ với gia đình, dòng họ, cộng đồng, pháp luật, với cung cách làm ăn mới. Thậm chí, có những nhà văn đã đề cập đến những khu vực trước đây chúng ta vẫn né tránh: vấn đề đồng tính, cuộc đấu tranh chống tệ nạn xã hội, chống giáo điều, sự mòn cũ trong tư duy, quan niệm cổ hủ về giá trị, xung đột thế hệ, xung đột văn hóa. Đời sống kinh tế thị trường đặt con người trước hàng loạt quan hệ phức tạp và con người được xây dựng mang hơi thở của thời đại. Viết về những con người đó, nhà văn không nhấn mạnh vào những biểu hiện bề ngoài mà đi sâu khám phá, lý giải phần chìm khuất bên trong nhân vật nhằm mang đến cho người đọc những nhận thức mới mẻ.
Vì vậy, khi miêu tả con người xã hội, các nhà văn không còn bị gò ép theo tiêu chí tốt- xấu mà họ nhìn thấy cả mặt tốt, mặt xấu trong mỗi con người, nhìn thấy sự phức tạp của cá nhân khi đứng trước những hoàn cảnh cụ thể. Giang Minh Sài trong Thời xa vắng, Khiêm, Hoan trong Ngược dòng nước lũ, Khải trong Thượng đế thì cười, Vạn, Hạnh trong Bến không chồng. đều là những con người xã hội. Tuy nhiên đã có sự thay đổi, nhà văn luôn đặt nhân vật trong các hoàn cảnh cụ thể, nhìn sâu vào nội tâm của họ để thấy con người 15 z trong các mối quan hệ xã hội chứ không xếp con người trong những mối quan hệ xã hội đã được dựng sẵn.
Trong số các tiểu thuyết xuất hiện gần đây, Dưới chín tầng trời của Dương Hướng là tác phẩm đề cập đến những vấn đề nhạy cảm như những sai lầm ấu trĩ của thời cải cách ruộng đất, sự tha hóa của đội ngũ lãnh đạo, của những người dân trước áp lực của nền kinh tế thị trường, những con người “bên kia chiến tuyến”.