CHƯƠNG 1 VAI NET VE TINH HÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM SAU 1975 VÀ SỰ XUẤT HIỆN CỦA TRUYỆN NGẮN BẢO NINH 1.1, VALNET VE TINH HINH VAN HQC VIET NAM SAU 197% 11A, ự chuyển mình của văn học từ thời chiến sang thời bình. Với đại thắng mùa xuân năm 1975, đất nước thống nhất, hai miền Nam Bic sum họp một nhà, lich sử dân tộc và lịch sử nền văn học nước nhà cũng. bước sang một thời kỳ mới. Trước hết, có thể thấy rất rõ bước phát triển của văn xuôi trên bình điện tư duy nghệ thuật.
[ăn xưới của ta sau 1975 đã chuyển dần từ tư dưy sử thỉ sang tư duy tiểu thuyết. Cần phải nói ngay rằng sự đố lập giữa tư duy a thuyết và tư duy sử thi È mặt đặc trưng thể loại không có ý nghĩa phân biệt thang bậc giá trị. Có những đề tài vấn đề có khi tiếp cận bằng tư duy sử thi lại có giá trị hơn tư duy u thuyết và ngược lại Tuy nhiên, như đã nói, hiện thực đời sống đã khác trước, cần phải có cách tiếp. cận phủ hợp, cho dù quá trình đổi mới này đã diễn ra đầy khó khăn và thứ thách.
Bởi lề, ký ức về chiến tranh không thể phôi pha trong một sớm một chiều; mặt khác, hiện thực đời sống phức tạp thời hậu chiến đòi hỏi nhà văn không thể giữ nguyên cách viết như trước, và nhất là từ khi công cuộc đổi mới được phát động (1986) lại càng thôi thúc và đặt ra cho văn học nhiều vấn. đề cần giải quyết cấp bách, nhằm đáp ứng nhu cầu tỉnh thần của người đọc. Trong không khí được "cởi trói” ấy, nhà văn Nguyễn Minh Châu sau một số truyện ngắn: Bức tranh, Người đàn bà trên chuyển tàu tốc hành, Chiếc thuyển ngoài xa, Khách ở quê ra. đã viễt Hãy đọc lời ai điểu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa (Báo [ăn nghệ, số ra ngày 5-12-1987) 7 Cần nhìn nhận và đánh giá một cách khách quan rằng, sau 1986, cùng.
sự đổi mới của cả nền văn học nói chung, vào những năm ct hập niên tám mươi, đầu thập niên chín mươi của thế kỷ trước, chúng ta đã có một đội ngũ sáng tác có đầy nhiệt huyết, lòng hãng say, khát khao cống hiến và mong, muốn được viết những gì mình thích, nói những điều ấp ủ từ lâu. Quá trình thức nhận đương nhiên không phải đến trong ngày một ngày hai mà là cả một quá trình tìm đường, xác định vị trí, trách nhiệm của mình với nghề văn. Có nhiều cây bút đã bỏ cuộc, hay vẫn chìm sâu vào những gì mình đã có (dù rất ít 6i), có những người tiếp tục đi lại con đường đã nhẫn vết chân, nhưng có. những người đã nghĩ khác, nhìn nhận khác, và đặt ra câu hỏi: "chẳng lờ mãi mãi thể hệ nhà văn Việt Nam chúng ta vẫn cứ yên tâm sản xuất ra toàn những.
sản vật không bao giờ được ngó đến trong nên văn học thế giới”. văn muốn bứt phá làm mới mình, họ khao khát vươn tới những đỉnh cao của nghệ thuật, của những thể nghiệm, họ ước vọng tới những chân trời xa xôi - nơi mà nền văn học Việt chưa bao giờ nhìn thấy. Chính họ là những cây bút đã táo bạo tự mở những con đường đi riêng, tìm những cách thức mới, hình thức mới, phương thức thể hiện mới. Chúng ta khó ai phủ nhận những nỗ lực cách tân của một Nguyễn Minh Châu, Lê Lưu, Bảo Ninh, Nguyễn Khắc Trường, Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Dương Hướng, Thái Bá Lợi, Phạm Thị Hoài,.Họ có khát vọng làm mới chính mình và cảng không muốn làm chiếc bóng của bắt cứai.
Có những người từ việc tiếp xúc với những lý thuyết mới đã học tập và sáng tác theo tinh thin hau hiện đại. Nhưng cũng có người tình cờ gặp gỡ với khuynh hướng sáng tác này, mặc dù họ chưa hề biết tới một lý thuyết mang tên hậu hiện đại. Tuy nhiên, dù muốn hay không họ đều đang sống trong một bầu khí quyển chung, với những điều kiện rất thuận lợi cho việc tiếp thụ, học tập những học thuyết lớn trên thế giới. Nhiều cây bút, do 6 (rit ty nhiên) đến với chủ nghĩa hậu hiện đại, như một phương cách để làm mới mình.
Cho đến tận hôm nay, Việt Nam chưa hoàn tắt quá trình hiện đại hoá, chưa có một nền kinh tế phát triển với tốc độ cao, tức là chưa có một xã hội hậu công nghiệp, vì thể còn rất lâu nữa chúng ta mới có kỷ nguyên hậu hiện đại, tức là chúng ta chưa thể có chủ nghĩa hậu hiện đại với tư cách là một trào lưu, một khuynh hướng tư tưởng hay một hiện tượng văn hoá thắm sâu vào tiềm thức con người như ở các nước tư bản phát triển. Nhưng những học. thuyết hậu hiện đại đã được giới thiệu rộng rãi tại Việt Nam, các học giả, các nhà văn và tất cả những ai quan tâm tới nền văn học Việt đều không hẻ xa lạ với chủ nghĩa hậu hiện đại. Nhiều cây bút đất Việt trong nỗi khát khao tìm đường thể nghiệm và bắt gặp những học thuyết này, và nhìn thấy trong đó.
những hạt nhân hợp lý, chắc chắn không ít người đã học tập những kỹ thuật viết hậu hiện đại. Vì thể chúng ta cũng chưa thể có một nền văn học hậu hiện đại, chúng ta cũng chưa thể có cái gọi là tác phẩm hậu hiện đại theo đúng tỉnh thần của thuật ngữ này trên thể giới. Chúng ta mới chỉ dám ghi nhận những. đấu hiệu thấp thoáng đây đó trong những tác phẩm văn chương đương đại.
Cũng không thể loại trừ khả năng có những thể nghiệm của một số nhà văn. (dù rất vô tình, dù không học tập theo một chủ thuyết nào) đã gặp gỡ với dòng. mạch văn chương hậu hiện đại đang diễn ra sôi nổi trên thế giới. Tất cả điều này là một hiện thực không thể phủ nhận trong nền văn học Việt.
Nhiều học giả đánh giá đây là một tín hiệu đáng mừng cho văn học Việt vì dẫu sao các cây bút của chúng ta cũng đã biết làm mới mình. “Tóm lại, có thể thấy, dù chỉ trong khoảng mấy chục năm thôi, chỉ nhìn riêng ở mảng sáng tác văn xuôi, ta cũng có thể thấy được văn học Việt Nam đã có những phát triển đáng kể, Sự phát triển này không chỉ ở chỗ ngày cảng, xuất hiện đông đảo đội ngũ các nhà văn, ngày cảng nhiều tác phẩm mới ra đời, mà cái quan trọng hơn, sự phát triển của văn xuôi được ghỉ nhận trên việc. 9 đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người, đổi mới tư duy nghệ thuật, đổi mới thể tài và phương thức thể hiện. Tất cả những phát triển này không chỉ là luận chứng chứng tỏ bước phát triển của văn xuôi sau 1975, mà còn là cơ sở để xem văn xuôi sau 1975 là một giai đoạn phát triển độc lập trong sự phát triển của văn xuôi Việt Nam hiện đại.
Văn xuôi Việt Nam sau 1975 là một hiện tượng đang phát triển. Khái lược về sự phát triển của thể loại truyện ngắn Việt Nam sau 1975 Giới nghiên cứu cũng như giới sáng tác hầu như đều thống nhất sau 1975, truyện ngắn là thể loại gặt hái nhiều (hành công, "được mùa thể loại”. Nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng tiếp theo “những vụ được mùa của truyện ng đây có thế coi là giai đoạn có nhiễu truyện ngắn hay trong văn học Viet Nam”. Nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng trong công trình “Truyện ngắn, những.
vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại” cũng khẳng định sự thành công của truyện ngắn sau 1975: “ truyện ngắn phát triển mạnh mẽ cá về số lượng và chất lượng", “0 yên ngắn có bước đột khởi nhờ vào ngọn giỏ lành của công cuộc đổi mới” Thể kỷ XX, truyện ngắn Việt Nam phát triển liên tục và vượt trội lên trên tất cả các thể loại, bắt đầu từ những năm hai mươi với sự đóng góp của. Nguyễn Bá Học, Phạm Huy Tốn, Hỗ Biểu Chánh, Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nam Cao, Kim Lân, Tô Hoài,. Từ sau cánh mang tháng Tám truyện ngắn có chững lại nhưng vẫn chảy liên tục với tên tuổi: Trần Đăng, Vũ Tú Nam, Nguyên Ngọc, Nguyễn Khải, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Minh Châu.Chiến tranh kết thúc, truyện ngắn vượt lên tỏ rõ sự ưu việt của mình trong sự khám phá nghệ thuật đời sống. Nhất là 1986 trở đi, truyện ngắn gần như đã độc chiếm toàn bộ văn đàn, hằng ngày trên các báo và các ap chi có trén duéi hai muoi truyén ngiin duge in, C6 18, vì đặc trưng thể loại này "khá 10 nhanh nhạy" trước những đổi thay mang tính đột phá từ hiện thực, đã khiến truyện ngắn nhanh chóng thống trị văn đàn thời kì Đổi mới này.
Thực tế hậu chiến đã kích thích mạnh đến việc sáng tác, phê bình - lý luận về truyện ngắn những năm gần đây. Nhiều cuộc thi sáng tác truyện ngắn được khởi xướng Nhiều cuộc hội thảo đã được mở ra và nhiều ý kiến có khi trái ngược nhau cũng đã được trình bày. Điều này chứng tỏ, truyện ngắn đang là thể loại được. các nhà văn quan tâm, nỗ lực cách tân bậc nhất.
Mỗi nhà văn một bút pháp riêng tạo nên “hiệu ứng” truyện ngắn hay và được gắn với các tên gọi “bội thu”, "thăng hoa”, "được mùa”, "lên ngôi”, điều đó chứng tỏ truyện ngắn đã được đổi mới. Quan niệm về con người đa chiều cũng thể hiện rất rõ trong truyện ngắn. Sau 1975, nước chuyển đổi trên nhiều phương diện trong đó có đời sống văn hoá, tư tưởng. Chiến tranh kết thúc, văn học cựa mình thay đöi, nhất là sau nghị quyết của Đại hội VI của Đảng và tiếp theo nghị quyết 05 của Bộ.
chính trị, cuộc gặp của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh với đại diện giới văn nghệ sĩ vào cuối năm 1987, tắt cả những điều đó đã thổi một luồng gió mới ào. ạt vào đời sống văn học nước nhà. Bên cạnh tiểu thuyết, thơ, kí, kịch. ngắn trở thành một thể loại rực rỡ của văn học Việt Nam sau 1975.
xem là một "cú hích” mạnh mẽ và khả quan, tạo nên một phản ứng dây chu) „ có tác dụng "kích nổ' sự phát triển truyện ngắn với rất nhiều gương. mặt tiêu biểu như: Vũ Thị Thường, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Pham Thị Hoài, Hồ Anh Thái, Y Ban, Võ Thị Hảo, Trằn Thuỳ Mai, Dạ Ngân, Ta Duy Anh, Nguyễn Thị Âm, Lê Minh Khuê, Thái Bá Lợi, Phạm Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Xuân Hà, Nguyễn Thế Hùng,. Ngòi bút của các nhà văn thay đổi trên nhiều phương diện, trong đó đặc biệt chú ý nhất là thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người, đây là một bước chuyển quan trọng cho truyện ngắn.