Chương 1. Những vấn đề chung về trường ca và trường ca Hữu Thỉnh Chƣơng 2. Hiện thực cuộc sống trong trƣờng ca Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh Chƣơng 3. Hình tƣợng con ngƣời trong trƣờng ca Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh 4 NỘI DUNG Chƣơng 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRƢỜNG CA VÀ TRƢỜNG CA HỮU THỈNH 1. Những vấn đề lí luận về trƣờng ca 1. Khái niệm và đặc trưng của thể loại trường ca 1. Khái niệm trường ca Khái niệm trường ca xuất hiện trong văn học phương Tây “trường ca là thuật ngữ văn học dịch từ chữ pòeme của Liên Xô” [20].
Từ những năm 50 của thế kỉ XX trường ca đã bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam, nó có tên gọi khác là sáng tác dân gian có tính chất sử thi và có chiều dài như Đam San, Xinh Nhã.Chúng ta có thể gọi trường ca tương đồng với sử thi, anh hùng ca (Iliats, Ôđixê, Ramyana, Mahabharata. Đồng thời, trường ca còn chỉ các tác phẩm thơ phản ánh những sự kiện lớn trong lịch sử đất nước và nó có dung lượng lớn: Sông núi trên vai của Anh Ngọc (1977), Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh (1979)… Để phân biệt ranh giới và sự ra đời một khái niệm thể loại trường ca còn gặp nhiều khó khăn. Các nhà nghiên cứu lí luận phê bình văn học, thậm chí chính các tác giả trường ca nhiều năm qua đã rất chú ý đi tìm một bản chất định nghĩa cũng như những thuộc tính căn bản nhất để phân định trường ca với các loại thơ khác. Theo từ điển thuật ngữ văn học đưa ra khái niệm: “Trường ca là tác phẩm thơ có dung lượng lớn, thường có cốt truyện tự sự hoặc trữ tình.
Trường ca cũng được dùng để gọi các tác phẩm sử thi thời cổ và trung đại, khuyết danh hoặc có tác giả” [20]. Lại Nguyên Ân trong 150 thuật ngữ văn học cho rằng: “Trường ca có dung lượng lớn, thường có cốt truyện tự sự hoặc sườn truyện trữ tình. Chúng được soạn bằng cách xâu chuỗi các bài hát sử thi và truyện kể hoặc bằng một vài truyền thuyết dân gian (Ahoyler) hoặc bằng cách 5 cải biên các cốt truyện cổ xưa trong tiến trình tồn tại của sáng tác dân gian. Trường ca với tư cách một thể loại tổng hợp, trữ tình - tự sự, hoành tráng cho phép kết hợp những chấn động lớn, những cảm xúc trầm sâu và những quan niệm về lịch sử vẫn là một thể loại hiệu năng của thơ ca thế giới” [4].
Khái niệm trường ca có sự khác nhau trong việc xác định ranh giới, nội hàm của thể loại, nhưng chúng ta có thể thấy các nhà phê bình văn học và các tác giả trường ca đều có điểm chung đó là: “Trường ca là những tác phẩm có tầm cỡ, tầm vóc lớn lao cả về hình thức lẫn nội dung. Nó có sức ôm chứa nhiều vấn đề lớn, về nhiều chủ đề tư tưởng, về độ rộng của không gian và độ dài của tời gian. Trường ca có tính tự sự, tính trữ tình, yếu tố suy nghĩ chính luận”. Theo như kết quả của người đi trước đã nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy trường ca của Đào Thị Bình (“Thể trường ca trong văn học Việt Nam từ 1945 đến cuối thế kỉ XX” - LATS, 2008) dường như đã thuyết phục người đọc:“Trường ca thường là các tác phẩm trữ tình có dung lượng lớn hoặc vừa, có khả năng tổng hợp và phát huy những ưu thế nổi trội của cả ba loại hình: trữ tình, tự sự và kịch.
Với kiểu kết cấu và phát triển theo hướng đan xen nhiều kiểu kết cấu hoặc kết cấu phức hợp, trường ca có thể bao quát và miêu tả những mảng hiện thực lớn ở cả bề rộng lẫn chiều sâu. Ngôn ngữ, giọng điệu phong phú, đa dạng, giàu chất trí tuệ, vừa mang âm hưởng hào hùng của sử thi vừa thấm đẫm hơi thở của cuộc sống”[7]. Đặc trưng thể loại của trường ca Việt Nam hiện đại 1. Về nội dung: Đầu tiên, đặc trưng thể loại trường ca về phương diện nội dung mà truờng ca Việt Nam hiện đại đề cập đến là hiện thực chiến tranh khốc liệt và người lính anh dũng, hi sinh quyết tâm bảo vệ tổ quốc.
Chiến tranh đã hủy hoại biết bao ước mơ của con người để lại những mất mát không hề nhỏ đối với dân tộc Việt. Văn học là tấm gương phản chiếu hiện thực cuộc sống, là 6 nơi tái diễn một cách chân thực nhất, tâm thức ấy. Trong trường ca hiện đại Việt Nam, chiến tranh luôn là đề tài chính, là mấu chốt cho những trải nghiệm được tự sự. Trường ca hiện đại tái hiện cuộc đấu tranh của dân tộc ta đối với kẻ xâm lược để dành độc lập tự do cho nhân dân theo lí tưởng cách mạng và cảm hứng chủ đạo yêu nước và chủ nghĩa anh hùng.
Ta có thể khẳng định, thơ ca kháng chiến chống Mỹ cứu nước và trường ca hiện đại Việt Nam đều miêu tả người lính bằng những nét vẽ tinh tế rất đỗi bình thường nhưng không chút tầm thường. Đây cũng là đặc trưng của trường ca hiện đại lúc bấy giờ. Những tác giả của trường ca thời chống Mỹ cứu nước đã khắc họa lên hình tượng người lính hiện thực nơi chiến trường đó là :Người lính lạc quan chiến đấu hết lòng vì nước vì dân, biết hy sinh tình cảm riêng tư của chính mình để kiên cường đánh giặc quyết tâm giành thắng lợi vẻ vang cho dân tộc. Trường ca nói về sự đoàn kết toàn dân tộc trong kháng chiến chống Mĩ chứ không riêng một cá nhân nào đó.
Đây cũng là sự tự nhận thức của con người đạt đến độ sâu trong thơ ca chống Mĩ. Nội dung quan trọng tiếp theo mà trường ca phản ánh là đất nước và số phận con người. Trong lịch sử văn học, chủ đề về đất nước vẫn luôn là chủ đề lớn nhất của mỗi giai đoạn. Và trường ca hiện đại cũng đã thể hiện rất rõ nội dung ấy.
Đất nước trong đời thường và đất nước trong văn học được kết tinh từ tất cả những mảnh ghép cuộc sống. Các tác giả trường ca chống kẻ thù xâm lược - Mỹ từ sự thôi thúc của trái tim mình đều dồn mọi tâm lực cho sự miêu tả, ngợi ca và dựng nên hình tượng đất nước: “Dân tộc tôi khi đứng dậy làm người Mồ hôi vã một trời sao trên đất” (Những người đi tới biển- Thanh Thảo) Dân tộc ta có truyền thống yêu nước đã tạo nên những anh hùng, tạo nên sức mạnh tiềm tàng mà quật cường để dân tộc có thể chiến thắng giặc ngoại 7 xâm. Đó là đất nước của những người con gái, con trai chưa bao giờ biết sống lùi bước: “Đất nước của những người con gái, con trai Đẹp như hoa hồng cứng hơn sắt thép” (Chúng con chiến đấu cho người sống mãi Việt Nam ơi- Nam Hà) Gắn với đất nước là số phận con người. Dường như, trường ca hiện đại xoáy sâu vào mối tương quan với hoàn cảnh, thời gian và không gian tồn tại và số phận của con người.
Trước 1975 trường ca chủ yếu đề cập đến những con người mang tính tập thể, sống bằng lí tưởng mà ít đời sống nội tâm. Song một điểm nhấn trong trường ca hiện đại sau 1975 là đã đề cập đến những số phận riêng mà những số phận ấy chịu ảnh hưởng chiến tranh. Các số phận con người đời tư nhiều đau khổ, trái ngang đã được các trường ca sau 1975 đề cập đến như đã tố cáo tội ác của kẻ xâm lược. Biết bao người đã không tìm được hạnh phúc vì chiến tranh, để sự nuối tiếc khổ đau cho cả cuộc đời: “Chết - hy sinh cho tổ quốc - Hùng ơi Máu thấm cỏ, lời ca bay vào đất Hy sinh lớn cũng là hạnh phúc Một cây xuân thành biển khắc tên Hùng” (Nấm mộ và cây trầm - Nguyễn Đức Mậu) Và nỗi lòng se sắt một người mẹ trong trường ca Đất nước hình tia chớp của Trần Mạnh Hảo: “Mỗi bận chiến trường tin báo tử Mẹ lại hoài thai bằng nỗi đau dài” (Đất nước hình tia chớp - Trần Mạnh Hảo) Con người đã gánh chịu tổn thất rất lớn của chiến tranh nhưng đồng thời trong mưa bom bão đạn đó con người cũng đã thể hiện sức mạnh kì diệu.
Họ 8 không chỉ vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt đau thương của đất nước mà còn chiến thắng chính cá nhân mình, chiến thắng số phận nhiều lúc không tránh khỏi hẩm hiu. Song, dù phải chịu những mất mát lớn lao, con người vẫn chịu đựng vì sự vĩnh hằng của Tổ quốc. Về hình thức Về phương diện thi pháp thể loại, các tác phẩm trường ca hiện đại có yếu tố tự sự trong kết cấu tác phẩm đó là quá trình thơ trữ tình mở rộng với chức năng xã hội - thẩm mĩ. Những năm đầu cuộc kháng chiến chống Mĩ, mô hình quen thuộc là có cốt truyện cho các nhà thơ khi đến thể loại trường ca.
Có thể kể tên các tác phẩm như: Bài ca chim chơ rao (Thu Bồn); Theo chân bác của (Tố Hữu); Con đường của những vì sao (Nguyễn Trọng Tạo).yếu tố tự sự, nhân vật đồng thời có cả tính lịch tính trong các trường ca. Cuối những năm kháng chiến chống Mĩ, vào những năm tháng tiếp theo, trường ca phát triển mạnh mẽ và không còn yếu tố tự sự là chính. Trường ca giai đoạn này rất đa dạng và phong phú về các yếu tố: tự sự, trữ tình và chính luận. “Các trường ca dạng này thường được chia thành nhiều chương, khúc mà mỗi chương có thể được đặt tên.
Mạch liên kết của các chương là mạch triển khi của chủ đề mang tính chính luận trữ tình”. Các trường ca giai đoạn này chúng ta không thể không kể tên trường ca Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh; Ngày đang mở sáng của Trần Anh Thái. Vào những năm sau 1975, quá trình vân động của thể loại kết cấu trường ca càng lỏng lẻo; kết cấu lấy tư tưởng - cảm xúc trữ tình làm chỗ dựa ngày càng được các nhà thơ vận dụng và phát huy. Vô hình chung các tác giả có những cách sáng tạo riêng của mình để lựa chọn những sự kiện, kết cấu phối hợp đan xen nhiều hình thức khác nhau trong một tác phẩm từ đó đem lại hiệu quả nghệ thuật cao ở mỗi tác phẩm.
Sau này các tác giả sử dụng đan xen nhiều kiểu kết cấu, nhiều giọng điệu, 9 nhiều phương thức thể hiện trong một tác phẩm đã tạo nên khối lượng đồ sộ, nội dung hoành tráng cho trường ca, đồng thời đây cũng là đặc trưng của trường ca.