Chương 1: Những vấn đề chung. -Chương 2: Nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn. 5 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Thế giới nhân vật 1.
Khái niệm nhân vật Nhân vật là yếu tố trung tâm của tác phẩm văn học.Tìm hiểu về nhân vật, có rất nhiều khái niệm, định nghĩa khác nhau về nhân vật văn học, dưới đây tôi xin dẫn ra một số định nghĩa về nhân vật văn học phổ biến và tiêu biểu nhất: Trong Từ điển văn học, các tác giả nhận định: “Nhân vật là yếu tố cơ bản nhất trong tác phẩm văn học, tiêu điểm để bộc lộ chủ đề, tư tưởng chủ đề và đến lượt mình nó lại được các yếu tố có tính chất hình thức của tác phẩm tập trung khắc họa. Nhân vật do đó là nơi tập trung giá trị tư tưởng - nghệ thuật của tác phẩm văn học”[11]. Trong giáo trình Lí luận văn học (Hà Minh Đức chủ biên, Nxb Giáo dục, 1997), cho rằng: “Nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật mang tính ước lệ, đó không phải là sự sao chụp đầy đủ mọi chi tiết biểu hiện của con người mà chỉ là sự thể hiện con người qua những đặc điểm điển hình về tiếu sử, nghề nghiệp, tính cách…và cần chú ý thêm một điều: thực ra khái niệm nhân vật thường được quan niệm với một phạm vi rộng hơn nhiều, đó không chỉ là con người, những con người có tên hoặc không tên,được khắc họa sâu đậm hoặc chỉ thoáng qua trong tác phẩm mà còn có thể là những sự vật, loài vật khác ít nhiều mang bóng dáng của con người… cũng có khi đó không phải là những con người,những sự vật cụ thể, mà chỉ là một hiện tượng về con người hoặc có liên quan tới con người, được thể hiện nổi bật trong tác phẩm” [3]. 6 Như vậy bằng cách này hay cách khác khi định nghĩa về nhân vật văn học các nhà văn, các nhà nghiên cứu, các nhà lí luận văn học đều cho rằng: Nhân vật là chính là đối tượng được miêu tả trong tác phẩm, nhân vật có thể là con người, có thể không phải là con người.Nhân vật là phương tiện tái hiện đời sống, đời sống đó có thể tập trung vào một con người cụ thể, cũng có thể là cả một hình thức nào đó.
Thông qua nhân vật, tác giả thể hiện quan niệm nghệ thuật, lí tưởng thẩm mỹ, nhận thức… về con người và cuộc sống. Bởi vậy nhân vật văn học có vị trí không thể thiếu trong một tác phẩm, chính vì thế mà nó có vai trò rất quan trọng, nên việc tìm hiểu nhân vật là chìa khóa để đi vào tác phẩm văn học, là yếu tố được xem xét đầu tiên khi muốn tìm hiểu tác phẩm văn học. Các kiểu loại nhân vật Nhân vật văn học là một hiện tượng hết sức đa dạng. Dựa trên những tiêu chí khác nhau, ta có thể phân loại nhân vật văn học thành các kiểu loại nhân vật khác nhau: Xét về mặt kết cấu có: nhân vật chính, nhân vật phụ và nhân vật trung tâm.
Xét về phương diện hệ tư tưởng, về quan niệm đối với lí tưởng xã hội thẩm mỹ của tác giả có: nhân vật chính diện, nhân vật phản diện (hay nhân vật tích cực, nhân vật tiêu cực). Cách phân loại này gắn với những mâu thuẫn đối kháng trong xã hội. Xét về cấu trúc của nhân vật có: nhân vật chức năng, nhân vật loại hình, nhân vật tính cách, nhân vật tư tưởng… Những cách phân chia này chỉ là một cách tư duy phân loại cho dễ hiểu, nhiều khi cứng nhắc không thật sự khái quát được bản chất con người xét về tổng thể. Mỗi nhân vật- con người trong đời sống cũng như trong nghệ thuật thường rất đa dạng, mang nhiều tư tưởng, hành động, tính cách phức tạp: vừa tốt vừa xấu, tích cực lẫn tiêu cực… 7 và được nhìn nhận trong sự tiếp thụ của tác giả cũng như bạn đọc từ nhiều quan niệm, góc độ khác nhau.
Vì vậy cần mềm dẻo trong nhìn nhận, phân loại nhân vật. Xét về đặc điểm thể loại có: nhân vật trữ tình, nhân vật tự sự, nhân vật kịch. Tác giả Nguyễn Xuân Khánh. Cuộc đời và quá trình sáng tác Nguyễn Xuân Khánh sinh năm 1933, quê ở xã Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội.
Thời trẻ, Nguyễn Xuân Khánh say mê âm nhạc, là cây bút văn nghệ nổi bật. Ông từng đỗ tú tài toán và theo học tại Đại học Y khoa Hà Nội từ năm 1951- 1952. Đến năm 1953, ông gác bút nghiên xin đi bộ đội. Trên những nẻo đường hành quân, những buổi diễn tập, tình đồng đội đã thôi thúc ông cầm bút, viết truyện ngắn Một đêm.
Nguyễn Xuân Khánh đã được giải nhì trong cuộc thi viết truyện ngắn đầu tiên của Tạp chí Văn nghệ Quân đội (1959). Từ đó, văn chương gắn bó với ông như một duyên nghiệp, với những ngả rẽ bất ngờ. Vào khoảng năm 1960, Nguyễn Xuân Khánh về làm biên tập ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội cùng thời với những tên tuổi như: Vũ Cao, Thanh Tịnh, Nguyễn Khải, Hữu Mai…Nhưng cái tính “long bông lang bang” ở một con người mang nhiều chất nghệ sĩ như ông không phù hợp và không gắn bó nổi với một nơi quy phạm và chuẩn mực như quân đội. Năm 1962, sau khi in tập truyện ngắn đầu tay có tên Rừng sâu, bị kỷ luật do vướng mắc quan điểm nghề nghiệp, ông phải chuyển sang báo Thiếu niên Tiền phong.
Đến năm 1969, Nguyễn Xuân Khánh về hưu sớm. Lao vào cuộc vật lộn vì mưu sinh, làm đủ nghề như nuôi lợn, gác nhà kho…Nhưng con người ông sinh ra như thể để gắn bó với con chữ. Sau những giờ phút lao động mưu sinh cật lực, đêm đêm ông lại chong đèn thức cùng con chữ. Những trang sách kinh điển, 8 luôn dọi ánh sáng huyền diệu cho ông tin yêu và vượt qua những khó khăn bi đát.
Những con chữ vẫn bám riết lấy ông. Vốn ngoại ngữ tiếng Pháp được cơ hội phát huy. Ông đã dịch hàng chục cuốn sách và sớm có ý thức củng cố tri thức để làm hành trang trên con đường dài của mình. Từ đáy sâu tâm hồn, Nguyễn Xuân Khánh vẫn dành cho văn chương một vị trí đặc biệt thậm chí tới mức “linh thiêng” không bao giờ xóa bỏ.
Nhà văn từng tâm sự “Văn chương đối với tôi là một khu đền đài linh thiêng, dù vô tình lạc bước nhưng đã đến một lần rồi thì không thể quay lại được nữa. Bao nhiêu năm vất vả mưu sinh, tôi vẫn chờ đợi, vẫn dồn nén cho văn chương bởi tôi biết cơ duyên của mình ở đó”[2]. Hai tiểu thuyết Miền hoang tưởng và Trư cuồng ra đời trong thời gian mà tên tuổi của ông vẫn khó được chấp nhận trên báo chí. Vậy mà ông vẫn âm thầm viết.
Những trang sách cứ vẫn quẫy đạp trong tâm trí ông. Bản thảo viết ra, một vài bạn bè thân đọc. Họ khen và cổ vũ. Nhưng việc công bố tác phẩm thì vẫn là điều xa xôi.
Mãi cho đến khi chủ trương đổi mới đề ra, năm 1990, tiểu thuyết Miền hoang tưởng của ông mới được Nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản, với bút danh Đào Nguyễn. Đứa con tinh thần ra đời trong hoàn cảnh không mấy suôn sẻ, nhưng cũng đủ củng cố cho ông niềm tin: những trang viết nếu thực sự vui buồn vì nhân dân, vì đất nước, thì trước sau sẽ được nhân dân đón nhận. Sau thời gian dài im hơi lặng tiếng, năm 2000, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh cho ra mắt bạn đọc tiểu thuyết Hồ Quý Ly, tạo thành hiện tượng văn học sôi động. Tên tuổi Nguyễn Xuân Khánh đã được trả lại và được công chúng đón nhận nhiệt tình.
Gần 70 tuổi, ông bắt tay vào viết tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn và cho ra mắt bạn đọc ở tuổi 74. Ở tuổi 79, Nguyễn Xuân Khánh tiếp tục cho ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết Đội gạo lên chùa. Mỗi cuốn tiểu thuyết ra đời đều làm xôn xao làng văn và tạo nên những “cơn khát” lớn trong độc giả. 9 Trong những đợt xét giải thưởng về văn xuôi của Hội nhà văn Việt Nam, Hội Nhà văn Hà Nội… tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh đều đạt được sự đồng thuận từ đa số phiếu bầu.
Tiểu thuyết Hồ Quý Ly được giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 2001, giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội 2001; Mẫu Thượng Ngàn nhận được giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội 2006; Đội gạo lên chùa ngay sau khi vừa được công bố đã đạt giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 2010 và là cuốn sách gây ấn tượng nhất trong số các tác phẩm đạt giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 2010- 2011. Với sự thành công của ba thiên tiểu thuyết văn hóa – lịch sử này nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đã khẳng định một cách vững chắc tên tuổi của mình trên văn đàn và mang đến luồng sinh khí mới cho thể loại tiểu thuyết nói riêng và đóng góp tích cực đối với nền văn xuôi đương đại nói riêng và văn học Việt Nam nói chung. Tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn trong bối cảnh văn xuôi đương đại Việt Nam Từ sau chiến thắng lịch sử 1975, đặc biệt là sau Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI (1986), trong bối cảnh đổi mới mạnh mẽ, toàn diện của đất nước, nền văn học Việt Nam đã có những chuyển biến rõ rệt ngày càng sâu sắc và toàn diện, theo hướng dân chủ hóa, nhân đạo hóa và hiện thực hóa. Trong sự chuyển biến chung của nền văn học, với sự năng động và ưu thế riêng, văn xuôi đã có sự bứt phá và đạt được những thành tựu nổi trội so với các thể loại văn học khác.
Đặt trong bối cảnh chung của nền văn xuôi Việt Nam đương đại, tiểu thuyết là một trong những thể loại có những đóng góp tích cực cho sự cách tân của văn xuôi Việt Nam đương đại. Nhờ không khí dân chủ hóa của môi trường sáng tạo đã giúp nhà văn có ý thức sâu sắc hơn về tư cách nghệ sĩ nơi mình. Nhiều cây bút tiểu thuyết đã có ý thức cách tân trong cách nhìn, trong 10 lối viết, có những tác phẩm thành công hoặc đang trên con đường tìm tòi. Điều đáng nói ở đây là tất cả đều hướng mục tiêu: làm mới, làm hấp dẫn văn chương nói chung và tiểu thuyết nói riêng.
Nguyễn Xuân Khánh như một nhà văn lớn của thể loại này đã gặt hái được nhiều thành công qua bộ ba tiểu thuyết: Hồ Quý Ly (2000), Mẫu Thượng Ngàn (2006), Đội gạo lên chùa (2011). Đây là ba bộ tiểu thuyết văn hóa- lịch sử thu hút được sự chú ý của đông đảo dư luận trong một thập kỉ trở lại đây.