Chương 1: Những vấn đề chung Chương 2: Văn hóa Tây Ban Nha qua hình tượng nhân vật Chương 3: Không gian văn hóa sứ xở Tây Ban Nha 5 NỘI DUNG CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Những tiền đề khoa học 1. Khái niệm văn hóa, văn học 1.
Khái niệm văn hóa Hiện nay trên thế giới có rất nhiều định nghĩa, quan niệm khác nhau về văn hóa. Mỗi một định nghĩa, quan niệm về văn hóa đó được được hiểu một cách khác nhau. Theo UNESCO, văn hóa bao gồm: Tổng thể các giá trị về vật chất và tinh thần; tổ chức xã hội, đó là các phương thức sống; những quyền cơ bản về con người; đức tin tự nguyện của con người, đó là các truyền thống tín ngưỡng [22,tr. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng nói: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá.Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn" [22, tr. PGS - Viện sĩ Trần Ngọc Thêm cũng cho cho rằng văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần, nó thể hiện trình độ của mỗi dân tộc trong quá trình lịch sử của mình. Đặc biệt, ông còn nhấn mạnh điểm thống nhất căn bản mang tính nhân loại khi nhận thức về văn hóa là tính sáng tạo, đó là cốt lõi của văn hóa. Điểm khác biệt giữa các nền văn hóa của mỗi cộng 6 đồng dân tộc là ở mức độ của tinh thần nhân văn của nền văn hóa ấy [22,tr.45] Như vậy hiểu theo một cách khái quát nhất: “Văn hóa là những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình hoạt động sống nhằm phục vụ nhu cầu và lợi ích của con người.
Các giá trị văn hóa được lưu giữ và truyền thụ từ đời này qua đời khác”. Khái niệm văn học Văn học là một loại hình sáng tác, tái hiện những vấn đề của đời sống xã hội và con người. Phương thức sáng tạo của văn học được thông qua sự hư cấu, cách thể hiện nội dung các đề tài được biểu hiện qua ngôn ngữ [8,tr.401] Khái niệm văn học đôi khi có nghĩa tương tự như khái niệm văn chương và thường bị dùng lẫn lộn. Tuy nhiên, về mặt tổng quát, khái niệm văn học thường có nghĩa rộng hơn khái niệm văn chương, văn chương thường chỉ nhấn mạnh vào tính thẩm mĩ, sự sáng tạo của văn học về phương diện ngôn ngữ, nghệ thuật ngôn từ.
Văn chương dùng ngôn từ làm chất liệu để xây dựng hình tượng, phản ánh và biểu hiện đời sống. Mối quan hệ giữa văn hóa – văn học Trước đây, quan hệ văn hóa và văn học được coi là quan hệ tương hỗ. Thứ quan hệ ngang bằng của hai hình thái ý thức xã hội cùng thuộc thượng tầng kiến trúc, cùng phản ánh một số cơ sở hạ tầng. Bởi thế, nghiên cứu văn hóa thù văn học được coi như một nguồn tài liệu, còn nghiên cứu văn học thì lại tìm thấy ở nó những chủ đề văn hóa, cũng là một kiểu tài liệu.
Như vậy,văn hóa và văn học làm tài liệu nghiên cứu cho nhau. Quan hệ này mang tính bề ngoài, đôi khi tình cờ không bộc lộ bản chất của nhau. Ngày nay, hẳn ai cũng thừa nhận văn hóa là một tổng thể, một hệ thống, bao gồm nhiều yếu tố trong đó có văn học. Như vậy, văn hóa chi phối văn học với tư cách là hệ thống chi phối yếu tố, toàn thể chi phối bộ phận.
7 Đây là quan hệ bất khả kháng. Tuy nhiên, văn học so với các yếu tố khác là một yếu tố mạnh và năng động. Bởi thế, nó luôn có xu hướng đi trượt ra ngoài hệ thống. Trong khi đó thì hệ thống nhất là hệ thống văn hóa, luôn có xu hướng duy trì sự ổn định.
Như vậy, sự xung đột, sự chống lại của văn học đối với văn hóa là không thể tránh khỏi. Nhưng nhờ thế mà văn học có sáng tạo. Sáng tạo những giá trị mới cho bản thân nó và cho hệ thống. Sáng tạo lớn thì có thể dẫn tới sự thay đổi của hệ thống.
Nếu văn học chỉ là một bộ phận của văn hóa, một yếu tố trong hệ thống văn hóa thì nó không thể và không có quyền “vượt mặt” hệ thống để tiếp xúc với hoặc tác động trực tiếp đến hệ thống xã hội, mà phải gián tiếp qua hệ thống văn hóa. Từ đây có thể thấy văn học nếu có chức năng phản ánh hiện thực thì cũng không thể phản ánh trực tiếp được mà chỉ có thể phản ánh thông qua “ lăng kính” văn hóa, thông qua “bộ lọc” của các giá trị văn hóa. Nhờ thế mà tránh được sự phản ánh “gương phản ánh” một cách trần trụi, có lẽ cũng nhờ thế mà tạo cho văn học một lối phản ánh đặc trưng, phản ánh như người ta thường nói ,có nghệ thuật. Nhưng liệu một tia sáng phản chiếu mà phải đi qua một bầu khí quyển văn hóa với nhiều khúc xạ như vậy thì có còn nguyên giá trị phản ánh hay.
Như vậy giữa văn học và văn hóa có mối quan hệ mật thiết, tương hỗ lẫn nhau, bổ sung cho nhau. Là nền tảng tìm kiếm những cái hay, đặc sắc cho mỗi tác phẩm văn học. Thanh Thảo và quá trình sáng tác 1. Vài nét về tác giả Thanh Thảo, tên thật là Hồ Thành Công sinh năm 1946, quê xã Tân Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quãng Ngãi.
Tốt nghiệp khoa văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, tham gia chiến đấu ở chiến trường miền Nanm. 8 Sau năm 1975, ông hoạt động trong lĩnh vực văn nghệ báo chí. Giữ chức vụ Phó Chủ tịch Hội đồng Thơ, Hội nhà văn Việt Nam, Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Quảng Ngãi. Ông là nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.
Cùng với Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Duy, Xuân Quỳnh,… Thanh Thảo đã góp phần tạo nên và hoàn thiện gương mặt của thế hệ trẻ chống Mĩ. Sau đại thắng 1975, Thanh Thảo vẫn tiếp tục con đường thơ của mình, đây là chặng đường của những trăn trở trong cuộc kiếm tìm và đổi mới tư duy nghệ thuật trong giai đoạn mới của văn học Việt Nam. Trong sự nghiệp sáng tác của mình, ông viết tới 9 trường ca: Những người đi tới biển (1976), Trẻ con ở Sơn Mỹ (1976-1978), Những nghĩa sĩ Cần Giuộc (1978-1980), Bùng nổ của mùa xuân (1980-1981), Đêm trên cát (1982), Trò chuyện vói nhân vật của mình (1983), Cỏ vẫn mọc (1983), Khối vuông Rubich (1985), Mêtrô (2009). Và 5 tập thơ: Tàu sắp vào ga (1986), Bạch đàn gửi bạch dương (1987), Từ một đến một trăm (1988), Thanh Thảo 1 2 3 (2007), Thanh Thảo 70 (2008).
Ngoài thơ ca, Thanh Thảo còn viết tiểu luận, phê bình văn học, từ đó khẳng định vị trí cũng như đóng góp của ông đối với nền văn học nước nhà. Tác giả được nhận giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1979 cho tập thơ Dấu chân qua trảng cỏ; Giải thưởng của Ban Văn học Quốc phòng An ninh, Hội Nhà văn Việt Nam cho tập trường ca Những ngọn sóng mặt trời (1955).2 Quá trình sáng tác của Thanh Thảo - Con đường thơ của Thanh Thảo trước 1975 Với gia tài khá đồ sộ là những tập thơ, trường ca và tiểu luận phê bình của Thanh Thảo, có thể kết luận rằng nghệ thuật là một chủ đề tư tưởng lớn trong sáng tác của tác giả sau năm 1975. Là nhà thơ có ý thức sâu sắc về nghệ thuật về sứ 9 mạng của người nghệ sĩ luôn khao khát mở đường, Thanh Thảo bày tỏ quan niệm nghệ thuật thể hiện rõ nét trên ba phương diện thẩm mỹ, bản chất và hình thức. Về mặt thẩm mỹ Thanh Thảo tìm đến cái đẹp “thô sơ và hực sáng” trong vô vàn vẻ đẹp khác vốn có của cuộc sống này.
“Thô sơ” trước hết là vẻ đẹp tiềm ẩn trong những gì giản dị nhất, mộc mạc nhất, đời thường nhất có khi đó chỉ là “tiếng gà bất chợt”, vang lên “bên bờ kinh hoang tàn” để khẳng định sự sống, là “ánh sáng bí ẩn” của “búp xà lách” xanh non như một sự khởi đầu, là hoa nhài tinh khiết, thơm một cách tự tin” giữa chợ đời xô bồ, là “tiếng khóc tiếng cười tan rất mau” của trẻ thơ để lại cho cuộc đời những dư vị nguyên sơ, thuần phác và trong trẻo. Cái đẹp thô sơ là cái đẹp từ bản chất, không giả dối và chân thành. Phẩm chất thứ hai trong quan niệm thẩm mĩ của Thanh Thảo đó chính là sự “hực sáng” vẻ đẹp của ánh sáng của sức nóng, bất ngờ, bùng nổ và quyết liệt. Có thể coi đó là khoảng khắc huy hoàng nhưng có sức soi chiếu và lan tỏa khôn cùng.
“Thô sơ và hực sáng” vừa tương phản vừa bao hàm như vẻ đẹp của hoa cúc đã được tôn vinh trong thơ Thanh Thảo “đầy dáng vẻ tầm thường đến tuyệt vời tinh tế/ kiêu hãnh vì đạm bạc”. Bên cạnh đó, cái đẹp trong thơ Thanh Thảo còn “lấp lánh chất người” đó là một vẻ đẹp sáng và thẳng. “Trải qua rét buốt lửa nồng Gia tài còn lại tấm lòng ấy thôi Những người mọc thẳng giữa đời Như rừng dương chắn ngang trời cát bay” (Những ngọn song mặt trời - Thanh Thảo) Những con người trong thơ Thanh Thảo đều ít nhiều có phẩm chất của một người nghệ sĩ, đặc biệt những nhà thơ rạng ngời vẻ đẹp nghĩa khí, vẻ đẹp của sự xả thân hi sinh vì tự do, vì cái đẹp như Cao Bá Quát, Nguyễn Đình Chiểu, L. Và bản thân Thanh Thảo cũng là một nhà thơ 10 nghĩa khí bởi khát vọng được cống hiến với cuộc đời và nghệ thuật.
Có thể thấy, cái đẹp thơ Thanh Thảo là những vẻ đẹp bình thường nhưng cao cả, lặng lẽ mà âm vang. Nó đánh thức cảm xúc, khơi gợi suy nghĩ của người đọc, mở ra đa tầng suy nghĩa của cuộc sống nó là “những vệt bùn làm vinh hạnh cho thơ”. Thanh Thảo quan niệm bản chất của thơ “mãi mãi là bí mật”. Có thể ta “mãi mãi dò tìm” nhưng “mãi mãi không thể nào chạm đáy”.
Nhà thơ khẳng định thơ là sự đối lập căng thẳng giữa tâm hồn và không có tâm hồn”. Nhưng tâm hồn thơ phải mang bản chất chân thành. Đó là sự thành thực của cảm xúc thơ.