chương 1 và chương 2 thì chương 3 góp phần làm nên cái nhìn tổng thể về Văn xuôi của Trần Thanh Cảnh từ góc nhìn văn hóa. KHÁI QUÁT VỀ HƯỚNG TIẾP CẬN VĂN HÓA TRONG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC VÀ VĂN XUÔI CỦA TRẦN THANH CẢNH 1. Hướng tiếp cận văn hóa trong nghiên cứu văn học 1. Khái niệm văn hóa và văn học 1.Văn hóa Sự có mặt của văn hóa cùng với sự xuất hiện của loài ngươi, văn hóa luôn đem lại giá trị nhận thức của nhân loại, bởi giá trị văn hóa đích thực bao giờ cũng có sức thu hút và cảm hóa mạnh mẽ cho con người luôn hướng đến cái chân – thiện – mỹ.
Hiện nay đã có rất nhiều cách hiểu khác nhau về văn hóa, điều đó còn phụ thuộc vào vị trí vùng miền, tức là vào không gian, thời gian, cũng như quan điểm của các nhà nghiên cứu khác nhau, nhưng chung qui đều đi đến một ý tưởng chung của các tác giả đều coi văn hóa và sự chuyển hóa giữa chúng đều hướng đến những gì tốt đẹp cho con người và đời sống xã hội. Vì thế mà có rất nhiều tên tuổi của các nhà văn hóa nổi tiếng trên thế giới thuộc các trường phái nhân văn như: Dilthey, Casirrer, Arnold, I.Eliot… và các trường phái thực chứng như: Taylor, Malinowski, Boas, Kroeber, Benedict, Durkheim… Năm 1952, hai nhà nhân loại học Mỹ là Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn trong cuốn sách Culture, a critical review of concept and definitions (Văn hóa, điểm lại bằng cái nhìn phê phán các khái niệm và định nghĩa) đã từng thống kê có tới 164 định nghĩa khác nhau về văn hóa trong các công trình nổi tiếng thế giới (Phan Ngọc, 2009). Còn đối với Phan Ngọc, tính đến nay trên thế giới đã có khoảng hơn 400 định nghĩa về văn hóa (Phan Ngọc, 2015). Dựa trên vấn đề đó, luận văn xin đưa ra một số định nghĩa tiêu biểu về văn hóa.
Các nhà khoa học thường chọn lấy định nghĩa của E. Tylor như một định nghĩa đầu tiên, cổ điển, tiêu biểu về văn hóa. Trong cuốn Văn hóa nguyên thủy (Primitive Culture, London), (1887), Tylor đã viết: “Khái niệm văn hóa hay văn minh dùng để chỉ định một toàn thể phức hợp bao gồm những tri thức khoa học, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục cùng những khả năng và những tập quán khác mà con người đã thực hiện được với tư cách là một thành viên xã hội” 18 (dẫn theo Nguyễn Thừa Hỷ, 2001). Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê (chủ biên), (Trung tâm Từ điển học), (2008) định nghĩa: 1.
Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. Những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần. Tri thức, kiến thức khoa học. Trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh.
Tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần của một thời kì lịch sử cổ xưa, được xác định trên cơ sở một tổng thể những di vật tìm thấy được có những đặc điểm giống nhau. Định nghĩa của Phan Ngọc về văn hóa ở trong cuốn Bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Văn hóa – Thông tin, (2013) như sau: “Văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng. Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn của các cá nhân hay các các tộc người khác” (Phan Ngọc, 2013). Trong cuốn Lí luận văn học của Huỳnh Như Phương, Nxb Đại học Quốc gia 19 Tp.
Hồ Chí Minh, (2010), đã định nghĩa: “Văn hóa liên quan đến toàn bộ những hoạt động dưới sự chi phối của các chuẩn mực khác nhau về mặt xã hội và lịch sử cũng như của các mẫu hình ứng xử được truyền giao trong cộng đồng người ấy” (Huỳnh Như Phương, 2010). Theo UNESCO, có đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Trong ý nghĩa rộng nhất, “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc, quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm cả nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng. Văn hóa đem lại cho con người khả năng soi xét về bản thân.
Chính văn hóa đã làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý. Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tìm tòi không biết mệt những giá trị văn hóa mới mẻ và sáng tạo ra những công trình vượt trội lên bản thân” (dẫn theo Tân Việt, 2013). Ngày 2-11-2011, trong Tuyên ngôn thế giới về đa dạng văn hóa đưa ra tại Paris, UNESCO đã khẳng định lại ý nghĩa về văn hóa của Hội nghị Văn hóa Thế giới [MONDIACULT] 1982 tại Mêhicô như sau: “…văn hóa cần phải được coi như là tập hợp các nét đặc trưng về mặt tinh thần và vật chất, về mặt trí tuệ và tình cảm, đặc trưng cho một xã hội hoặc một cộng đồng mang tính xã hội, và rằng, ngoài văn học và nghệ thuật, nó còn bao gồm lối sống, các cách chung sống cùng nhau, các hệ thống giá trị, các truyền thống và tín ngưỡng” (dẫn theo Nguyễn Văn Dân, 2011). Định nghĩa về văn hóa rất nhiều, phải nói có bao nhiêu nhà văn hóa thì có bấy nhiêu định nghĩa.
Nhưng dù hiểu văn hóa theo cách nào, thì nhìn chung vẫn thấy văn hóa chính là do con người sáng tạo nên, văn hóa chính là sản phẩm của con người. 20 Với phạm vi yêu cầu của đề tài chúng tôi đã thống nhất chọn cách hiểu về văn hóa qua định nghĩa của [UNESCO]. Văn học Trong từ điển thuật ngữ văn học, đã khái quát: Văn học là sự phản ánh của đời sống xã hội, thể hiện sự nhận thức và sáng tạo của con người. Và văn học lấy con người làm đối tượng nhận thức trung tâm.
Văn học nhận thức con người với toàn bộ tính tổng hợp, toàn vẹn sống động trong các mối quan hệ đời sống phong phú và phức tạp của nó, trên phương diện thẩm mĩ. Văn học còn là sản phẩm lịch sử, văn học tự nó cũng là một quá trình. Nó còn chịu sự chi phối mạnh mẽ của đời sống thực tại, chịu ảnh hưởng của các hình thái ý thức xã hội khác như chính trị, đạo đức, triết học, tôn giáo, khoa học v. Như vậy, văn học hiểu theo nghĩa hẹp, thì văn học là dạng văn bản được coi là một hình thức nghệ thuật.
Còn văn học được hiểu theo nghĩa rộng được xem là tương đồng với văn hóa, vì khi chúng ta đặt văn học vào bối cảnh rộng lớn của văn hóa – xã hội, nó sẽ làm nổi bật những sắc thái văn hóa, vì chủ thể sáng tác luôn tiếp thu những thành tố văn hóa ở cộng đồng, xã hội của toàn nhân loại. Trong cuốn sách Giải mã văn học từ mã văn hóa đã khẳng định: “Qua lớp bề mặt của ngôn ngữ tác phẩm, trên cở sở so sánh hiện thực và lịch sử, đi sâu khám phá nội hàm tâm lý văn hóa và hạt nhân văn hóa tiềm ẩn trong nhiều lớp trầm tích của tác phẩm, đối chiếu tổng thể trên nhiều bình diện, nhiều góc độ, nhà nghiên cứu có thể đánh giá hết cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn học và ý nghĩa quan trọng của văn học đối với cuộc sống của nhân loại” (Trần Lê Bảo, 2011). Mặt khác, văn học còn lấy ngôn từ làm chất liệu, nên văn học chỉ xây dựng được những hình tượng “phi vật thể”, cũng như các hình thức nghệ thuật giá trị văn hoá thể hiện ở hình thức biểu hiện: ngôn ngữ, nghệ thuật, thẩm mĩ, loại hình, thể loại, tu từ… Mà văn học ở mỗi dân tộc có hệ thống thể loại, hệ thống thi pháp, hệ thống biểu tượng đặc trưng riêng. Do đó, khi đọc bất cứ tác phẩm văn học nào chúng ta đều có thể nhận thấy giá trị văn hoá của nó thể hiện ở những yếu tố đó.
Nó có khả năng 21 tác động vào trí tuệ, vào liên tưởng của con người, chính vì thế mà giúp văn học đạt được tính vạn năng trong việc chiếm lĩnh đời sống và màu sắc văn hóa của văn học. Cũng như chức năng của văn học, các sáng tác cụ thể tuỳ lúc mà có thể thiên về chức năng này hoặc chức năng khác, làm cho giá trị văn hoá của văn học cũng thiên về từng phương diện, từng yếu tố. Ngoài những chức năng vốn có của văn học, chúng ta cần nhấn mạnh chức năng đổi mới tư duy, thăm dò các hình thức mới, thể loại mới và khả năng biểu đạt mới cho văn học. Bởi vì chính chức năng này có giá trị đem lại cho tác phẩm văn học những đổi mới văn hoá nghệ thuật trong bản thân của văn học.
Nói chung, văn học đã có những đóng góp tích cực trong vai trò động viên, cổ vũ, ca ngợi con người trong cuộc sống, cũng như trong công cuộc chiến đấu và chiến thắng trong cuộc chiến đấu cam go nhất, ác liệt nhất và tàn bạo nhất trong lịch sử. Dù trong hoàn cảnh nào thì thì văn học luôn hướng con người đến đến giá trị sống về chân – thiện – mĩ. Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học Như chúng ta được biết, mọi sáng tạo thuộc lĩnh vực nghệ thuật đều mang toàn bộ bóng dáng của đời sống văn hóa. Đặc biệt, đối với văn chương nghệ thuật, nền tảng của văn hóa có vai trò rất lớn mà văn học đã kết tinh những giá trị bất hủ trong lịch sử văn hóa mang lại: “Có thể nói, cách tiếp cận văn học bằng con đường văn hóa đã cung cấp thêm một con đường mới để đến với văn học.
Đây là một con đường đặc sắc nhưng cũng rất phức tạp, bởi lẽ văn hóa là nơi hội tụ của mọi ý tưởng sáng tạo của con người. Việc lựa chọn yếu tố văn hóa nào để lý giải cho văn học sẽ là một việc làm không dễ chút nào. Điều quan trọng là phải lý giải được động cơ và mục đích cuối cùng của sự lựa chọn các môtíp văn hóa của văn học” (Nguyễn Văn Dân, 2012).