Chương 1. VAN DE PHONG CÁCH VÀ PHONG CÁCH THƠ 1. Khái niệm Phong cách Từ xa xưa, phương Tây cũng như phương Đông, đã có quan niệm: Phong cách là bản thân con người, hay nói ngắn gọn hơn, Văn tức là người. (Văn như kỳ nhân) Tính chất cá thể ở đó là vô cùng rõ nét.
Tất nhiên, những nhận định đó có phần thiên lệch, nhưng nó đã cho thấy điều cơ bản nhất của phong cách: đó là nét riêng biệt, không trộn lẫn, như từng cá nhân trong lịch sử, mỗi người có một đặc tính, một hình dáng, một tính cách, một cách ứng xử, một quan niệm. Theo các nhà ngôn ngữ học, khái niệm về phong cách xuất hiện từ thời kỳ Hy Lạp và La Mã cô đại cùng với sự xuất hiện của khoa học về hùng biện. Phong cách ngôn ngữ là sự kết hợp của hai nhân tổ : “nói gi” và “nói như thé nào”, có nghĩa đây là sự tông hòa các phương tiện ngôn ngữ. “Ndi gi” là phạm trù về nội dung và “zói như thé nào ” là phạm trù về hình thức.
Như vay, phong cách là sự lựa chọn một cách có chủ đích của tác giả, dé nội dung và hình thức là một tổng thé nhuần nhuyễn và hoà hợp với nhau. Thuật ngữ văn học của Lại Nguyên Ân cho rằng “Phong cách là những nét chung, tương đối bên vững của hệ thống hình tượng, của các phương thức biểu hiện nghệ thuật, tiêu biểu cho bản sắc sảng tạo của một nhà văn, mot tac phẩm, một khuynh hướng văn học, một nên văn học nào đó. Phong cách có sự thể hiện cụ thể trực tiếp: những đặc điểm phong cách dường như hiện diện ở bê mặt tác phẩm, như là một sự thống nhất hiển thị và cảm giác được của tắt cả các yếu to chủ yếu thuộc hình thức nghệ thuật. Trong nghĩa rộng, phong cách là nguyên tắc xuyên suốt kiến trúc tác phẩm, khiến tác phẩm có tính chỉnh thé, có giọng điệu và màu sắc thống nhất rõ rệt.
Như vậy, phong cách không phải là những đặc điểm lẻ tẻ, biểu hiện một cách rời rạc, nó cần có tính thống nhất và bền vững của tất cả những đặc tính sáng tạo của một nhà văn hoặc một thời đại. Sự hiên thị và là dâu hiệu nhận 6 biết của nó nằm chính trong những thủ pháp nghệ thuật, trong cách thức sử dụng ngôn ngữ, xây dựng hình tượng, trong cả nhân sinh quan về cuộc sống,. - và tat cả cùng kết hop nhuan nhuẫn trong một chỉnh thé thống nhất, nó sẽ tiêu biểu cho từng chủ thé sáng tạo riêng biệt. Nhưng nhìn một cách bao quát, nó cũng sẽ góp phần tạo nên những nét riêng biệt của từng thời kì lịch sử.
Theo GS Phan Ngọc “Phong cách là một cấu trúc hữu cơ của tat cả các kiểu lựa chọn tiêu biểu, hình thành một cách lịch sử và chứa đựng một giá trị lịch sử, có thể cho phép ta nhận diện một thời đại, một thể loại, hay một tác gia” [25,22] Đây cũng là một quan niệm rất thú vị và đầy đủ, bao quát về phong cách. Sự quan trọng nam trong hai mật mã “kiểu lựa chọn tiêu biểu ” và “nhận điện ”. Phong cách của nhà van nằm ở sự lựa chọn của nhà văn đó trước một vốn ngôn ngữ, một vốn chất liệu đời sống như nhau. Nhưng cái khác biệt là ban thân “cdi tang” của nhà văn ay đã “lựa chon” cách di, cách viết, cách sáng tạo như thé nao, để tạo nên sự độc đáo và khác biệt của minh.
Đồng thời, nỗ lực lao động nghệ thuật của nhà văn cũng góp phần tạo nên sự lựa chọn ay, bởi lẽ, một nha nghệ thuật nghiêm túc sẽ phải luôn ý thức tìm toi sự mới mẻ, “khơi những nguôn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có ”. Đôi khi, hiện thực đời sống chỉ có vậy, nhưng tái tạo nó trên trang viết, lại phụ thuộc ở cách nhìn, cách thé hiện của người cầm bút. Trong một mối quan hệ biện chứng, chính những “sự //a chọn tiêu biểu ” ay, đã hình thành nên những nét riêng biệt, những đặc điểm phong cách mà người ta có thé soi roi vào đó dé phân biệt tác giả này với tác giả khác, thời đại này với thời đại khác. “Sw Iva chọn tiêu biểu” là thuộc về tác giả, còn sự “nhận diện ” lại thuộc về bạn đọc và những thước đo của thời gian.
Đỗ Lai Thuý cũng có quan niệm “Phong cách là cá tính của chủ thể sảng tạo, và sự tự do lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ dé thể hiện nó trong tác phẩm. Cá tinh, cái chút riêng biệt nhỏ nhoi ấy, là tat cả”. “Phong cách cũng là chỗ đặc di, nơi chứa đựng mật số của tác phẩm văn chương ”. Như vậy, có thé thấy rằng, dù bề mặt từ ngữ có thé chưa trùng khít, và dù cách tiếp cận có khác nhau, nhưng van đề nội hàm khái niệm “phong 7 cách” trong lí luận văn học dường như đã có một sự thống nhất nhất định.
Phong cách là nét riêng, là sự khu biệt, bản sắc của một cá nhân, một tác phẩm, hay một thời đại. Phong cách học, bộ môn của ngôn ngữ học ra đời với vai trò nghiên cứu phong cách vẫn đang trên tiến trình hoàn thiện những khái niệm cơ sở của phong cách như phong cách thể loại, phong cách thời đại, phong cách tác giả. Tìm hiểu về phong cách, chúng ta cũng cần làm rõ thêm từng khái niệm và môi quan hệ biện chứng giữa chúng. Phong cách tác giả Phải khăng định ngay răng không phải tác giả nào cũng có phong cách.
Tất cả những người cầm bút, thông thường ai cũng phải có một đặc điểm nào đó, nhưng phong cách thì chỉ đành cho một số rất ít. Để có được phong cách riêng, đó là thiên tài và nỗ lực lao động của người cầm bút. “Mộ: tac giả chỉ có được phong cách riêng khi đọc vài câu người ta có thể đoán biết tác giả là ai”, và “bản thân phong cách đó phải có mộtý nghĩa thiết thực với việc làm da dạng và phong phú đời sống văn học ”[25,24] Dé người ta có thé “đoán biết” thì trước hết, tác giả đó phải có một ngôn ngữ, một giọng điệu rõ nét, nồi bật, và phải khác biệt. Điểm khác biệt đó là yếu tố căn bản nhất để người đọc có thê nhận diện và gọi tên tác giả cũng như phong cách tác giả.
Trong đời sống văn học Việt Nam cũng như Phương Tây, không thiếu những trường hợp mà phong cách không chỉ được nhận biết, mà còn có thể gọi thành tên. Trong thời kì thơ Mới, Hoài Thanh đã “goi tén” phong cách của các nhà thơ vô cùng chuẩn mực “7i quyết rằng trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại phong phú như thời đại này. Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lan một hon thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng nh Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên, và thiết tha rao rực băn khoăn như Xuân Diệu” Điều đó cũng thé hiện rằng, trong dan hợp xướng chung của thơ Mới, mỗi nhà thơ đều có một âm chủ riêng, một sự độc đáo và mới lạ. Khi một cây 8 bút có phong cách riêng, bản thân cây bút đó đã có một sự đóng góp đáng quí vào tiễn trình phát triển của văn học, bởi lẽ, chính phong cách đó, sự độc đáo đó đã làm diện mạo nền văn học thay đôi, đa dạng, phong phú hơn, đồng thời, nó cũng kích thích sự đôi mới và vận động của cả một thời kì văn học đó.
Và đúng như Đỗ Lai Thúy tổng kết “Nếu cái nhìn nghệ thuật chung của cả dòng thơ như là một chuẩn, một phong cách chung cho cả “một thời đại trong thi ca”, thì mỗi cải nhìn nghệ thuật riêng cua mỗi thi nhân là một lệch chuẩn. Và chính sự lệch chuẩn này tạo nên phong cách riêng của mỗi nhà thơ. Chính ở nhận định này, đã cho thấy mối quan hệ biện chứng giữa phong cách tác giả và phong cách thời đại. Phong cách thời đại Cũng giống như phong cách tác giả, có thé thay răng, không phải thời đại nào cũng có phong cách.
Tuy rằng, ở từng thời điểm, từng dấu mốc lịch sử, những giai đoạn văn học có những đặc điểm khác nhau. Nhưng nó chỉ trở thành phong cách thời đại, khi thời đại đó tựu trung lại được những điểm độc đáo và nổi bật mà người ta không tìm thay ở thời đại khác. “Mối thời đại chỉ có được phong cách của minh sau khi đã có được một cách khám phá riêng cho nó mà đời trước chưa có [25,23]. Phong cách thời đại là một khái niệm rộng lớn, nó bao hàm diện mạo của cả một thời kì văn học kéo dài.
Cũng như vậy, nó phải là sự tập trung nhất, chat lọc cô đọng nhất những đặc điểm thống nhất và bền vững của nhiều những phong cách cá nhân khác nhau. Khi nghiên cứu về một phong cách tác giả, bao giờ chúng ta cũng đặt trong một trục biện chứng mối quan hệ tương tác với phong cách thời đại. Như Phan Ngọc đã nói, “phong cách của một nhà văn, dù vĩ đại đến đâu, cũng phải phản ánh phong cách thời dai”. Dé là điều tất yếu.
Bất cứ một nhà văn nào, cũng đều tổn tai, lao động và công hién trong mot khoang thoi gian cua tiễn trình lich sử phát triển của nhân loại và chịu sự tác động của các biến cố lịch sử, các quan niệm thời thế. Trào lưu Văn học nhân đạo chủ nghĩa nửa cuối thế ki XVIII nửa đầu thế ki XIX là một thời đại 9 văn học rực rỡ trong lịch sử văn học Việt Nam, khi mà ở đó, những yếu tố lich sử đã có một sức chi phối mạnh mẽ, tác động đến nhân sinh quan, thế giới quan của những người cầm bút. Vận mệnh đất nước nguy nan, chế độ phong kiến đang đến hồi mục rudng, xáo trộn, nhân dân lầm than trong bề khổ, số phan con người bị coi như cỏ cây, đó là lí do vì sao mà một loạt những tac phẩm thời đó, đều lên tiếng tô cáo xã hội phong kiến, đau xót cho con người va đòi quyền sống cho con người, đặc biệt là người phụ nữ. Một loạt những cây bút ghi dấu ấn sáng tạo như Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm, bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Gia Thiéu bằng những tác phẩm của mình, đều lên tiếng đấu tranh cho quyền được sống, quyền được yêu thương của con người, đã tạo thành phong cách của thời đại này.