mở đầu mơ ước của moi nhà văn” [37;8]. Cũng giống như những người đã một lần đến với truyện ngắn của Đỗ Bích Thuý, nhà văn Trung Trung Đỉnh thật sự ấn tượng về những dấu ấn văn hoá đặc sắc được chuyên tải duyên dáng và tinh tế trong văn của chị, ông viết: “Đỗ Bích Thuy có khả năng viết truyện về cảnh sinh hoạt truyền thống của người miền cao một cách tài tình. Không truyện nao là không kê về cách sống, lối sinh hoạt, nết ăn ở và cả quang cảnh sinh hoạt lễ hội, phong tục tập quán. Truyện nào cũng hay cũng mới, cũng lạ mặc dù tác giả không hề cố ý đưa vào chỉ tiết lạ.
Thế mà đọc đến đâu ta cũng sững sờ và bị chinh phục bởi những chỉ tiết rất đặc sắc chỉ người miền cao mới có” [37;8] Cái lạ mà nhà văn Trung Trung Đỉnh cảm nhận thấy cũng rất gần gũi với cảm giác về cái lạ của nhà văn Chu Lai khi đọc văn Đỗ Bích Thuý. Trong bài Cái duyên và sức gợi của hai giọng văn trẻ, nhà văn Chu Lai viết như đang say giữa những cảnh sắc và không gian đầy quyên rũ được khơi nguồn từ mạch văn của Đỗ Bích Thuý: “Đọc Thuý, người ta có cảm giác như được ăn một món ăn lạ, được sống trong một mảnh đất lạ mà ở đó tràn ngập những cái rất riêng đậm đặc chất dân gian của hương vị núi rừng, của con suối chảy ra từ khe đá lạnh, của mây trời sánh đặc như “một bay trăn trang đang quấn quyện vào nhau”, của mùi ngải đắng, man tang, của những nét ăn nét ở, phong tục tập quán còn giữ nguyên vẻ hoang sơ, thuần phác, của ánh trăng “giữa mùa cứ rọi vào nhà cả đêm, trăng đi một vòng cửa trước ra cửa sau”, của những trái tim con gái vật vã, cháy bùng theo tiếng khèn gọi tình dưới thung xa, của bếp lửa nhà sàn và tiếng m6 trâu gõ vào khuya khoắt, của những kiếp sống nhọc nhan và con bìm bip say thuốc, say rượu ngủ khì bên chân chủ. Ở cuốn sách này, Đỗ Bích Thuý vẫn rất thống nhất trong phong cách chung của chị, một văn phong 13 nền nã trong giọng điệu, đậm đà chat trữ tình và thấm sâu chất văn hoá đặc trưng của vùng miền. Nhà văn Nguyễn Hữu Quý viết: “Với BCCS, Đỗ Bích Thuý thêm một lần nữa chứng tỏ sự hiểu biết, gắn bó của mình đối với cuộc sống của những người Tày, người Dao ở vùng cực Bắc Hà Giang, nơi thượng nguồn con sông Lô huyền bí” [43;111].
Có thể thấy các bài viết đều đã chỉ ra những đặc điểm chung nhất trong lỗi viết của Đỗ Bích Thuý song đường như mới chỉ nhìn nhận theo cách riêng lẻ của từng tác phẩm hoặc từng cụm tác phẩm. Theo chúng tôi, bài Từ truyén ngắn của một người viết trẻ của nhà nghiên cứu, phê bình Lê Thành Nghị đăng trên báo VNT số 31 (31/7/2005), sau này được in lại trong phan đầu tuyên tập Tiếng dan môi sau bờ rào đá là bài viết mang tính bao quát sâu sắc và chính xác hơn cả. Và ở trong bài viết này, nhà nghiên cứu Lê Thành Nghị đã viết thành chữ, thành lời tất cả những cảm giác của người đọc khi bước vào thế giới truyện của Đỗ Bích Thuý: “Chúng ta sẽ bước vào một không gian lạ, không gian có núi cao, trời rộng của vùng rừng núi phía Bắc, nơi từ đó nhìn xuống, dòng sông Nho Qué chi còn “bé như sợi chỉ dưới chân núi Mã Pi Lèng”. Một không gian đầy hoa lá rừng: có tiếng gà gáy tách te trong bụi rậm, có những dòng suối trong suốt với những viên cuội đỏ, có những chàng trai thối sáo theo sau các cô gái khoác quay tau xuống chợ; những nồi thắng cố nghỉ ngút khói trong phiên chợ vùng cao đầy màu sắc; những đêm trăng sóng sánh, huyền ảo; những cụm man tang moc trong thung lũng; tiếng đàn môi réo rat sau bờ đá; lễ hội gầu tao với điệu hát gầu Plénh mê đắm của các cô gái,c hàng trai người Mông trên đỉnh núi.” Không gian Đỗ Bích Thuý đã tái tạo được trong tác pham cua minh chính là một không gian văn hoa day sức hút với độc giả mà nếu thiếu nó, thử hỏi sức nặng của triết lý va lẽ sống trong tác phẩm có còn đủ sức níu kéo người đọc nhiều đến thế không? Cùng với những bài viết đề cập đến nét văn hoá trong tác phẩm của Đỗ Bích Thuý, còn khá nhiều bài viết khác đề cập đến những vấn đề khác trong truyện ngắn của chị như bài Đồi điều tâm đắc về cuộc thi truyện ngắn VNQĐ 1998-1999 của Khuất Quang Thuy.
Tuy chỉ nhận xét về chùm ba truyện ngắn 14 được giải của Đỗ Bích Thuý nhưng nhà văn Khuất Quang Thuy đã chỉ ra được một vấn đề luôn trăn trở trong các tác phẩm của chị: “Sự biến động của thời đại mới đã tác động lên mọi số phận của người Việt Nam, ké cả những người sống ở những nơi thâm sơn cùng cốc. Cuộc sống đã đòi hỏi mọi người phải suy nghĩ, trăn trở để làm sao vừa hoà nhập được với thời đại, với đất nước vừa không đánh mắt đi những giá trị riêng của mỗi con người, mỗi cộng đồng dân tộc. Đó chính là thử thách lớn nhất của thời mở cửa” [47;100]. Từ những tan rã trong cuộc sống truyền thống khi đối mặt với thời mở cửa đó, nhà văn Chu Lai lại thay rằng, “Cảm hứng truyện ngắn của Thuý là cảm hứng trở về.
Mô típ xuyên suốt là mô típ người mẹ và gia đình. Hầu như chỉ sử dụng một ngôi thứ nhất là tôi” [40;104]. Còn tác giả Phạm Thuỳ Dương trong bài Cảm hứng cảm thương trong sáng tác của Đỗ Bích Thuỷ và Nguyễn Ngọc Tw [35;101] lại khai thác tính cảm thương trong các truyện ngắn của Đỗ Bich Thuý. Theo người viết, tính cảm thương đó được bộc lộ qua tình thương con trẻ, thương người phụ nữ, từ tính cảm thương, tác giả Phạm Thùy Dương nhìn nhận về giọng điệu cảm thương trong văn phong của chị, v.
Pham vi nghién cứu Truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư trong các tập truyện: Ngon đèn không tắt (Nxb Trẻ, 2000), Giao thừa (Nxb Trẻ, 2003), Nước chảy mây tréi (Nxb Văn Nghệ TP. Truyén ngắn Nguyễn Ngoc Tư (Nxb Văn hoá Sài Gòn, 2005) và CĐBT (Nxb Trẻ, 2006). Ngoài ra có tham khảo thêm một số tản văn của nhà văn như Ngày mai của những ngày mai (Nxb Phụ nữ, 2007), Sống chậm thời @ (In chung với Lê Thiếu Nhơn, Nxb Trẻ 2007), Tap văn Nguyễn Ngọc Tư (Nxb Trẻ - Thời báo kinh tế Sài Gòn, 2005). - Tập truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ rào đá (Nxb Công an nhân dân, 2005) và tiêu thuyết Bóng của cây sôi (Nxb Thanh niên, 2005) và các tản văn, tuỳ bút, phóng sự của nhà văn Đỗ Bích Thuý.
Phương pháp nghiên cứu - Phan tích, tong hợp và phê bình tác phẩm. 15 - Phương pháp so sánh đối chiếu. - Cac phương pháp hỗ trợ khác như thi pháp học thể loại, thống kê, so sánh. 16 PHẢN NỘI DUNG CHUONG I: TIẾP CAN TÁC PHAM VAN HỌC TỪ GÓC ĐỘ VĂN HOÁ 1.
Môi quan hệ biện chứng giữa văn hoá và văn học a. Moi quan hệ và sự chỉ phối giữa van hoá và văn học trong quan niệm của giới học giả thế giới và trong nước Không cần đợi đến khi có định nghĩa chính thức về văn hoá của UNESCO cho rằng, “văn hoá bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng.” [28] người ta mới nhìn thấy sự gắn kết đầy biện chứng giữa văn hoá và văn học. Văn học là một thành tố của văn hoá, “sáng tác văn học trước hết là một hành động văn hoá. Tác phẩm văn học, sự kiện văn học là một loại chứng tích văn hoá” [16] văn học tiếp nhận các giá trị của nền văn hoá bao chứa nó và do đó được tiếp sức bởi toàn bộ các giá trị phong phú của một nền văn hoá, khi văn học thoát ly khỏi cái cội rễ của nó là văn hoá, văn học sẽ trở nên chông chênh, thiêu sức sông.
Xem xét mối quan hệ giữa văn hoá và văn học, chúng tôi nhận thấy co su gặp gỡ khá lớn trong quan điểm của giới học thuật thé giới và trong nước ở luận điểm này. Văn học là một hình thái ý thức xã hội, nhà văn thông qua việc sáng tạo tác phẩm để gửi gắm những tư tưởng, suy ngẫm về các vấn đề trong hiện thực đời sống. Trong khi đó, văn hoá tiềm 4n rất sâu xa và dưới muôn dạng thức khác nhau của đời sống ay và nhiệm vụ của văn học là biểu dat được những giá trị văn hoá đó một cách tinh tế và phong phú nhất. Văn học nam trong văn hoá và chịu sự quy định, chi phối của toàn bộ nền văn hoá của một dân tộc và nền văn hoá đó luôn mang tính lịch sử, tính thời đại nhất định.
Chính vì lẽ đó mà khi xem xét bất cứ nền văn học nào, giai đoạn văn học nảo, trào lưu văn học nào cũng cần phải xem xét trong mối liên hệ với bối cảnh văn hoá. Về van dé này, nhà nghiên cứu người Nga Bakhtinne trong bài Một số van dé cần lưu ý khi nghiên cứu văn học quá khứ đã viết: “Trước hết, khoa nghiên cứu văn 17 học phải gắn bó chặt chẽ với lịch sử văn hoá. Văn học là một bộ phận không thể tách rời của văn hoá. Không thể hiểu nó ngoài cái mạch nguyên vẹn của toàn bộ văn hoá một thời đại trong đó nó ton tại.
Không được tách nó khỏi các bộ phận khác của văn hoá, cũng như không được, như người ta vẫn làm, là trực tiếp gắn bó các nhân tô xã hội, kinh tế, vượt qua đầu văn hoá, những nhân tố xã hội kinh tế tác động tới toàn bộ văn hoá nói chung và chỉ thông qua văn hoá, cùng với van hoá, mới tác động được tới văn học” [1;361]. Đặc biệt coi trọng yếu tố văn hoá, lịch sử và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của khoa học xã hội mà chủ yếu là Thực chứng luận của A. Comte (1789- 1857), nhà phê bình, nhà triết học Pháp H. Taine (1828-1893) đã đề xuất trường phái văn hoá — lịch sử trong nghiên cứu văn học.
Văn chương với Taine chi là “tâm ảnh của những phong tục tập quán và thước đo của tình trạng trí tuệ đương thời”. Khi nghiên cứu một nhà văn, Taine đưa ra ba nguyên lý cần phải áp dụng là chủng tộc, địa điểm và thời điểm.