Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn chuyên ngành Lí luận văn học (mã số: 92 22 01 20) của nghiên cứu sinh Lê Si Na, được thực hiện tại Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam vào năm 2023, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp, tập trung làm rõ đề tài “Cảm quan tôn giáo trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại”.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Theo dẫn giải của tác giả từ nhận định của Erich Fromm, vấn đề tôn giáo quy tụ về bản chất con người chứ không thuần túy là vấn đề Thượng đế. Văn học và tôn giáo có sự tương thông sâu sắc về mặt tư tưởng nhân văn, niềm tin và những trăn trở trước nỗi đau khổ nhân sinh. Lịch sử văn học thế giới từ thời cổ đại (sử thi Ấn Độ Ramayana, Mahabharata; sử thi Hy Lạp Iliad, Odyssey), qua thời trung đại, phong trào Phục Hưng (François Rabelais, Dante), phong trào Khai sáng cho đến các nhà văn hiện đại (Voltaire, L. Tolstoy, F. Dostoevsky, U. Eco, S. Rushdie, J. Wood) đều cho thấy tôn giáo là cơ sở tư tưởng và đối tượng phản ánh hoặc giải thiêng quan trọng.
Tại Việt Nam, các yếu tố Phật giáo, Nho giáo đã ảnh hưởng sâu sắc đến văn học trung đại; Kitô giáo cùng tín ngưỡng truyền thống tiếp tục tạo nên bức tranh đa sắc trong văn học đầu thế kỷ XX (tiêu biểu ở phong trào Thơ Mới và tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn). Sau cột mốc Đổi mới năm 1986, không khí dân chủ hóa đời sống xã hội và văn hóa nghệ thuật đã mở đường cho các đề tài tâm linh, tôn giáo quay trở lại một cách tự nhiên. Yếu tố tôn giáo trở thành chất liệu nghệ thuật, chi phối cái nhìn nghệ thuật của nhiều cây bút tiểu thuyết đương đại. Mặc dù mối quan hệ giữa tôn giáo và văn học đã được giới nghiên cứu chú ý từ trước năm 1975 ở miền Nam cũng như sau năm 1986 trên phạm vi cả nước, tác giả xác định cho đến thời điểm thực hiện luận án, vẫn chưa có một công trình nào đi sâu khảo sát toàn diện và chuyên biệt về phương diện cảm quan tôn giáo trong thể loại tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Đây chính là khoảng trống học thuật mà luận án hướng tới giải quyết.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích bao trùm của luận án là xác định quá trình hình thành cảm quan tôn giáo trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại; làm sáng tỏ những đặc điểm của hiện tượng này trên hai bình diện nội dung phản ánh và nghệ thuật biểu hiện; chỉ ra sự tiếp nối, biến đổi so với truyền thống; từ đó đánh giá đóng góp của bộ phận tiểu thuyết mang cảm quan tôn giáo đối với tiến trình vận động của văn học dân tộc.
Để hiện thực hóa mục đích trên, luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:
- Làm rõ khái niệm cảm quan và cảm quan tôn giáo như những công cụ nền tảng làm cơ sở phương pháp luận cho luận án.
- Thấy được quá trình hình thành nên cảm quan tôn giáo trong văn học nói chung cũng như trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại nói riêng.
- Tìm hiểu cảm quan tôn giáo trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại trên các bình diện: sự phản ánh hiện thực, con người, nghệ thuật biểu hiện.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Cảm quan tôn giáo trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại.
- Phạm vi thời gian và khái niệm: Thuật ngữ "đương đại" trong luận án được xác định từ sau năm 1975 hoặc từ thời kỳ Đổi mới 1986 đến nay. Địa hạt khảo sát trọng tâm là các tác phẩm tiểu thuyết xuất bản từ sau năm 1986, có liên hệ đối chiếu với tiểu thuyết giai đoạn trước Đổi mới.
- Phạm vi ngữ liệu: Tập trung khảo sát hệ thống tiểu thuyết của các tác giả tiêu biểu có dấu ấn tôn giáo rõ nét: Nguyễn Xuân Khánh, Võ Thị Hảo, Bảo Ninh, Hoàng Minh Tường, Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương, Vũ Huy Anh...
- Phạm vi tôn giáo khảo sát: Luận án bao quát hai nguồn tư tưởng tôn giáo chính yếu trong tiểu thuyết đương đại là Phật giáo và Ki tô giáo (Công giáo Rôma), đồng thời có kết hợp xem xét biểu tượng của tín ngưỡng bản địa (Đạo Mẫu) trong tương quan hòa đồng tín ngưỡng tại Việt Nam.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước trong và ngoài nước
Luận án đã hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu mối quan hệ giữa tôn giáo và văn học nghệ thuật thành hai khối tư liệu chính:
1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Từ cuối thế kỷ XIX, các nhà thần học và văn hóa học phương Tây đã công bố nhiều khảo cứu về sự hiện diện của thần học và tôn giáo trong văn học:
- W. Tyler (1874) với công trình Theology of the Greek Poets, phân tích thần học tự nhiên qua các tác phẩm thi ca Hy Lạp cổ đại.
- Stopford Augustus Brooke với Theology in the English Poets (1874) và Religion in Literature and Religion in Life (1901), đề xuất quan điểm thế tục và nhân văn về tôn giáo trong văn học, coi tôn giáo trong thơ ca là sự thể hiện lòng yêu thương, công lý và lý tưởng tự do, bình đẳng, bác ái.
- G. Wilson (1899) với Theology of Modern Literature; W. Shaw (1908) với Precinct of Religion in the Culture of Humanity.
- T.S. Eliot (1936) với tiểu luận Religion and literature trong tập Essays Ancient and Modern, nhấn mạnh phê bình văn học cần được hoàn thiện bằng điểm nhìn đạo đức và thần học, đồng thời phân biệt văn học tôn giáo mang tính giáo điều với văn học có yếu tố đạo đức Kitô giáo thể hiện một cách vô thức.
- Charles F. Thwing (2004) với bài viết Religion and Literature, chỉ ra mối liên hệ tương đồng giữa tôn giáo và văn học trong việc lý giải ý nghĩa cuộc sống.
- Anthony C. Yu (1987) và Larry D. Bouchard (2005) trong Encyclopedia of Religion, khẳng định truyền thống văn học phương Tây không thể tách rời huyền thoại Hy Lạp, tư tưởng Do Thái giáo cổ đại và Kitô giáo.
- Erich Fromm với Phân tâm học và Tôn giáo, tiếp cận tôn giáo từ góc nhìn bản chất con người và phân biệt tôn giáo độc đoán với tôn giáo nhân bản.
- Mircea Eliade (1956) với Thiêng và phàm bản chất của tôn giáo, phân tích thế giới thông qua các phạm trù không gian thiêng, thời gian thiêng và sự đối chiếu giữa con người tôn giáo với con người phàm tục.
- Các học giả giai đoạn gần đây: Mark Knight với hàng loạt công trình như Biblical Religion and the Novel, 1700-2000 (đồng chủ biên với Thomas Woodman, 2006), Nineteenth-Century Religion and Literature: An Introduction (viết chung với Emma Mason, 2006), An Introduction to Religion and Literature (2009); M.H. Abrams (1958) với Literature and Belief; Frank Burch Brown (2014) với The Oxford Handbook of Religion and the Arts; Alastair Morrison (2015) với luận án A Choice of Illusions: Belief, Relativism, and Modern Literature.
- Các cơ sở nghiên cứu và tạp chí chuyên ngành: Trung tâm Queen Mary Tôn giáo và Văn học Tiếng Anh (Đại học Queen Mary Luân Đôn, thành lập năm 2016); tạp chí Religion & Literature (Đại học Notre Dame); Trung tâm Tôn giáo và Văn học (Đại học Baylor); tạp chí Literature and Belief (Đại học Brigham Young do Paul E. Kerry và Jesse S. Crisler chủ biên).
Bên cạnh giới học giả lý thuyết, luận án điểm lại hai dòng cảm hứng sáng tác lớn của các nhà văn thế giới đối với tôn giáo:
- Cảm hứng chống tôn giáo và phê phán giáo hội: Thể hiện qua các tác gia thời Khai sáng và hiện thực như Voltaire (Candide), J.J. Rousseau (Émile), Denis Diderot (Nữ tu sĩ).
- Cảm hứng tôn giáo quay trở lại như một mỹ cảm nghệ thuật: Thể hiện trong chủ nghĩa lãng mạn qua Chateaubriand (Atala, René, Thần lực sáng tạo của đạo Kitô), Victor Hugo (Những người khốn khổ với hình tượng giám mục Myriel), và F. Dostoevsky (Tội ác và hình phạt với sự cứu chuộc tâm hồn của Raskolnikov qua hình tượng Sonya và đức tin Kitô giáo).
2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
- Khuynh hướng nghiên cứu ở đô thị miền Nam trước năm 1975: Chia thành hai nhánh rõ rệt:
- Nhánh chịu ảnh hưởng tư tưởng Phật giáo: Vận dụng triết lý nhân quả, luân hồi, duyên nghiệp, tứ diệu đế để giải mã văn học. Tiêu biểu có Phạm Xuân Sanh (1959), Nguyễn Đăng Thục (Thế giới thi ca Nguyễn Du, 1971; Bóng trăng thiền với Nguyễn Du, 1970), Thích Thiên Ân (Giá trị triết học tôn giáo trong Truyện Kiều, 1966), Thạch Trung Giả (1973), Minh Huy (1962), Cao Hữu Đính (1971), Phạm Thế Ngũ (1962), Phạm Văn Diêu (1970), Chơn Hạnh (1970), Thích Minh Châu (1972), Khiếu Đức Long (1974).
- Nhánh chịu ảnh hưởng tư tưởng Thiên Chúa giáo: Lấy giáo lý Kitô giáo làm hệ quy chiếu thẩm mỹ. Tiêu biểu có các nghiên cứu về thơ Hàn Mặc Tử của Trần Điền (1956), Võ Long Tê (1956), Lê Hữu Mục (1956), Đặng Tiến (Vũ trụ thơ); công trình lịch sử chuyên biệt Lịch sử văn học công giáo Việt Nam của Võ Long Tê (1965); nghiên cứu của Nguyễn Đình Tuyến về thơ Hữu Phương (1969) và Tạ Tỵ bàn về dấu ấn Kitô giáo trong văn chương Nhật Tiến (1972).
- Khuynh hướng nghiên cứu sau năm 1975 và thời kỳ Đổi mới:
- Hoàng Như Mai (1995) phân tích chất liệu Phật giáo trong tiểu thuyết Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng.
- Thích Tâm Pháp (1997) khảo sát tư tưởng Phật giáo trong văn học thành văn Việt Nam qua các văn bản chữ Hán, Nôm và Quốc ngữ.
- Nguyễn Công Lý (1998) nghiên cứu mối quan hệ giữa Phật giáo và văn học trung đại thời Lý - Trần.
- Phan Cự Đệ (2002) tái thẩm định yếu tố đức tin và biểu tượng Kinh thánh hòa quyện văn hóa truyền thống trong thơ Hàn Mặc Tử.
- Trần Thị An (2007) khảo sát tín ngưỡng dân gian và đạo Mẫu trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn của Nguyễn Xuân Khánh.
- Lê Dục Tú (2014) khái quát diện mạo cảm quan tôn giáo trong văn xuôi đương đại trên tạp chí Sông Hương.
- Phùng Phương Nga (2017) và Tống Thị Thanh (2018) nghiên cứu văn hóa tâm linh và chủ đề tôn giáo trong bộ ba tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh (Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng Ngàn, Đội gạo lên chùa).
| Giai đoạn / Khu vực |
Hướng tiếp cận chính |
Tác giả, công trình tiêu biểu |
| Nước ngoài (Cuối XIX - Hiện đại) |
Thần học văn học, đạo đức học tôn giáo, phân tâm học, văn hóa học tôn giáo |
W. Tyler (1874), S. Brooke (1874, 1901), T.S. Eliot (1936), E. Fromm, M. Eliade (1956), M. Knight (2006, 2009), A. Morrison (2015) |
| Miền Nam trước 1975 |
Phê bình văn học từ nhãn quan Phật giáo |
Nguyễn Đăng Thục (1970, 1971), Thích Thiên Ân (1966), Chơn Hạnh (1970), Thích Minh Châu (1972) |
| Miền Nam trước 1975 |
Phê bình văn học từ nhãn quan Thiên Chúa giáo |
Võ Long Tê (1956, 1965), Lê Hữu Mục (1956), Đặng Tiến, Tạ Tỵ (1972) |
| Việt Nam sau 1986 |
Khảo sát dấu ấn Phật giáo, tín ngưỡng dân gian, văn hóa tâm linh ở từng tác giả, tác phẩm cụ thể |
Hoàng Như Mai (1995), Nguyễn Công Lý (1998), Phan Cự Đệ (2002), Trần Thị An (2007), Lê Dục Tú (2014), Phùng Phương Nga (2017) |
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án giải quyết
Các công trình đi trước chủ yếu dừng lại ở các bài viết đơn lẻ, khảo sát một trường hợp tác giả/tác phẩm cụ thể, hoặc tiếp cận tôn giáo thuần túy dưới góc độ tôn giáo học, văn hóa học, lịch sử văn học trung đại. Chưa có một công trình nào khảo sát một cách có hệ thống, đồng bộ ở quy mô luận án tiến sĩ về cảm quan tôn giáo như một nhân tố thi pháp làm chuyển biến tư duy nghệ thuật của thể loại tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đương đại (từ sau 1986). Luận án của Lê Si Na được triển khai nhằm trực tiếp lấp đầy khoảng trống này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm cốt lõi
-
Quan niệm về tôn giáo và tín ngưỡng:
- Tôn giáo: Luận án dẫn xuất các định nghĩa từ F. Schleiermacher ("cảm thức về sự phụ thuộc tuyệt đối"), G.W.F. Hegel ("Tinh thần Linh thiêng có ý thức về Bản Ngã"), E.B. Tylor ("niềm tin vào những thực thể tinh thần"), É. Durkheim ("hệ thống niềm tin và thực tiễn thống nhất liên quan đến các sự vật linh thiêng"), Trác Tân Bình, Đặng Nghiêm Vạn và Từ điển tiếng Việt. Tôn giáo được định hình là một hệ thống văn hóa bao gồm niềm tin, hành vi, giáo lý, tổ chức và thực tiễn liên quan đến cái thiêng liêng, siêu nhiên.
- Tín ngưỡng và sự hợp nhất: Dựa trên quan điểm của Đặng Nghiêm Vạn và Ngô Đức Thịnh, luận án chỉ ra tôn giáo và tín ngưỡng có chung nền tảng nhận thức là niềm tin vào cái thiêng, cái siêu nhiên; ranh giới giữa hai khái niệm này ở Việt Nam có sự dung hợp sâu sắc, khó tách bạch tuyệt đối.
- Cảm quan và cảm quan tôn giáo: Cảm quan là cách nhìn nhận, thụ cảm, ý thức của chủ thể đối với thế giới. Cảm quan tôn giáo trong văn học là phương thức nhà văn quan sát, cắt nghĩa, tái hiện hiện thực đời sống và thân phận con người thông qua lăng kính, hệ giá trị hoặc các trải nghiệm tâm linh tôn giáo.
-
Đặc điểm tôn giáo và tín ngưỡng tại Việt Nam:
Tác giả luận án đúc kết 5 đặc điểm nền tảng chi phối tư duy nhà văn:
- Thứ nhất: Tôn giáo gắn liền với tâm thức tự nhiên, các quan niệm "ác giả ác báo", "ở hiền gặp lành", "có thờ có thiêng, có kiêng có lành", trở thành nơi nương tựa tinh thần.
- Thứ thứ hai: Các tôn giáo lớn đều là ngoại nhập (Phật giáo từ Ấn Độ và Trung Quốc, Thiên Chúa giáo từ phương Tây qua Hội Thừa sai Paris, Hồi giáo từ Tây Á, Tin Lành từ tổ chức CMA của Mỹ) nhưng đều trải qua quá trình bản địa hóa, hòa nhập với tâm thức người Việt.
- Thứ ba: Tính dung hợp, đan xen, hòa đồng ("Tam giáo đồng nguyên", kết hợp với tục thờ cúng tổ tiên; không có xung đột, chiến tranh tôn giáo).
- Thứ tư: Tính trội của yếu tố nữ (ảnh hưởng của tàn dư chế độ mẫu hệ và nền văn minh lúa nước, thể hiện qua hệ thống đền miếu thờ Mẫu, Tam phủ, Tứ phủ).
- Thứ năm: Truyền thống thần thánh hóa những người có công với gia đình, làng xóm, đất nước (thờ Thành hoàng làng, thờ Vua Hùng, triết lý "uống nước nhớ nguồn").
-
Hệ thống giáo lý cốt lõi của hai tôn giáo chính:
- Phật giáo: Là hệ thống triết học vô thần hướng con người dùng trí tuệ nhận thức chân lý và hướng thiện, lưu giữ trong Tam tạng (Kinh, Luật, Luận). Thế giới quan dựa trên thuyết duyên khởi, ngũ uẩn (sắc, thụ, tưởng, hành, thức do danh và sắc kết hợp), tam giới (dục giới, sắc giới, vô sắc giới), tính không, thập nhị nhân duyên, vô thường, vô ngã. Nhân sinh quan nhìn nhận con người là sự giả hợp tạm thời của ngũ uẩn; giải thích sự tồn tại qua thuyết nghiệp báo, luân hồi; con đường giải thoát kiếp khổ đau thông qua việc thực hành Tứ diệu đế (Khổ, Tập, Diệt, Đạo).
- Thiên Chúa giáo (Công giáo Rôma): Tôn giáo nhất thần thờ Thiên Chúa Ba Ngôi (tam vị nhất thể). Thế giới quan khẳng định vũ trụ được thụ tạo từ hư vô bởi Lời quyền năng của Thiên Chúa, lịch sử có khởi đầu (sáng thế) và kết thúc (ngày tận thế); phân định cõi đời này ngắn ngủi với cõi vĩnh cửu đời sau (Thiên đàng và Hỏa ngục). Nhân sinh quan nhìn nhận con người được tạo nên từ bụi đất kết hợp với sinh khí thần linh, mang phẩm giá cao quý, bình đẳng; tuy nhiên con người bị sa ngã do bất tuân (tội tổ tông) và chỉ nhận được ơn cứu chuộc qua Đức Giêsu Kitô.
-
Mối quan hệ giữa tôn giáo và văn học nghệ thuật:
- Về nguồn gốc lịch sử: Nghệ thuật sơ khai gắn liền với các hình thức tôn giáo nguyên thủy như Tô tem giáo (hình ảnh hóa trang chim tô-tem trên trống đồng Ngọc Lũ qua phân tích của Victor Goloubew), Bái vật giáo (thờ đá, cây thiêng, xá lỵ, thánh giá, bùa chú, tấm Trần Dà của Phật giáo Hòa Hảo, biểu tượng Thiên Nhãn của đạo Cao Đài), Ma thuật giáo và Vật linh giáo.
- Về sự tương đồng tư duy: Tôn giáo và văn học cùng chung phương thức tư duy hướng nội, chú trọng trực giác, giải phóng tưởng tượng; cả hai đều là hình thái ý thức xã hội nhận thức và phản ánh đời sống (văn học dùng hình tượng cụ thể, cảm tính; tôn giáo dùng biểu tượng trừu tượng, ý niệm siêu hình); cả hai đều hướng tới các giá trị nhân văn, tình yêu thương và sự cứu rỗi con người.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án thuộc khuynh hướng nghiên cứu định tính trong chuyên ngành Lí luận văn học, vận dụng phối hợp các phương pháp:
- Phương pháp thi pháp học: Phương pháp nghiên cứu then chốt, dùng để phân tích cảm quan tôn giáo trên hai bình diện chỉnh thể: nội dung tư tưởng (quan niệm hiện thực, quan niệm nhân sinh) và hình thức nghệ thuật (biểu tượng, ngôn ngữ, cấu trúc không gian).
- Phương pháp liên ngành: Vận dụng hệ thống tri thức từ tôn giáo học, văn hóa học, triết học và tâm lý học để soi chiếu các bình diện tâm linh trong tác phẩm văn học.
- Phương pháp cấu trúc hệ thống: Phân loại, sắp xếp các tác giả, tác phẩm theo tiến trình thời gian và theo từng loại hình tôn giáo, xây dựng hệ thống luận điểm có tính nhất quán logic.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh cảm quan tôn giáo giữa các giai đoạn văn học (trước và sau 1986); đối chiếu giữa thể loại tiểu thuyết với thơ ca, truyện ngắn; so sánh sự biểu hiện giữa hai hệ tư tưởng Phật giáo và Kitô giáo.
- Các thao tác nghiên cứu hỗ trợ: Thống kê văn bản, phân loại trường từ vựng tôn giáo, phân tích hình tượng và tổng hợp quy nạp.
Nguồn tư liệu và dữ liệu khảo sát
Ngữ liệu của luận án là hệ thống tiểu thuyết Việt Nam đương đại xuất bản từ sau năm 1986, tập trung vào các tác phẩm mang đậm chiều kích tôn giáo của các tác giả: Nguyễn Xuân Khánh (Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng Ngàn, Đội gạo lên chùa), Võ Thị Hảo (Giàn thiêu), Bảo Ninh (Nỗi buồn chiến tranh), Hoàng Minh Tường, Hồ Anh Thái (Đức Phật, Nàng Côn-thoa và tôi), Nguyễn Việt Hà (Cơ hội của chúa, Khải huyền muộn), Nguyễn Bình Phương, Vũ Huy Anh...
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương này dành toàn bộ dung lượng để tổng thuật lịch sử nghiên cứu đề tài. Tác giả chia bức tranh nghiên cứu thành hai mảng lớn: tình hình nghiên cứu ở nước ngoài và tình hình nghiên cứu ở Việt Nam. Ở phạm vi quốc tế, tác giả truy vết từ các công trình phê bình tôn giáo thế kỷ XIX - XX (W. Tyler, S. Brooke, T.S. Eliot, E. Fromm, M. Eliade, M. Knight), khảo sát các trung tâm nghiên cứu và tạp chí chuyên ngành về văn học - tôn giáo, đồng thời điểm qua hai dòng cảm hứng sáng tác đối lập: chống tôn giáo (thời Khai sáng) và đưa tôn giáo trở thành mỹ cảm nghệ thuật (thời Lãng mạn, Hiện thực). Ở phạm vi trong nước, tác giả phân chia rõ rệt thành tựu phê bình ở miền Nam trước năm 1975 (khuynh hướng phê bình theo nhãn quan Phật giáo và khuynh hướng phê bình theo nhãn quan Kitô giáo) và các nghiên cứu sau năm 1986 ở miền Bắc và toàn quốc. Từ việc chỉ ra những thành tựu và giới hạn của các công trình tiền nhiệm, chương 1 khẳng định vị trí độc lập và tính tất yếu của đề tài luận án.
Chương 2: Cơ sở lý luận và sự xuất hiện của cảm quan tôn giáo trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Chương 2 thiết lập khung lý thuyết cho toàn bộ công trình:
- Xác lập hệ khái niệm: Luận giải các định nghĩa về tôn giáo, phân tích mối quan hệ thống nhất giữa tôn giáo và tín ngưỡng, từ đó xác lập nội hàm khái niệm “cảm quan tôn giáo” trong sáng tạo văn học.
- Phân tích tiền đề văn hóa - lịch sử: Phân tích 5 đặc điểm của tôn giáo tại Việt Nam và làm rõ giáo lý căn bản của hai tôn giáo lớn là Phật giáo và Kitô giáo trên cả hai trục thế giới quan và nhân sinh quan.
- Mối quan hệ giữa tôn giáo và văn nghệ: Phân tích sự gắn kết lịch sử giữa tôn giáo với nghệ thuật từ thời nguyên thủy (các hình thái Tô tem giáo, Bái vật giáo, Ma thuật giáo) đến các thể loại văn học lớn như sử thi (Ramayana, Mahabharata) và thơ ca thiền tông.
- Nguyên nhân xuất hiện trong tiểu thuyết đương đại: Sự cởi mở về chính sách văn hóa, tôn giáo của Đảng và Nhà nước thời kỳ Đổi mới; nhu cầu dân chủ hóa đời sống văn học; sự khủng hoảng tinh thần và nhu cầu tìm kiếm điểm tựa tâm linh của con người trong bối cảnh xã hội chuyển đổi; sự đổi mới tư duy thể loại tiểu thuyết trong việc tiếp cận các tầng vỉa sâu kín của tâm lý và vô thức.
Chương 3: Cảm quan tôn giáo trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại nhìn từ sự phản ánh về con người và thế giới hiện thực
Chương 3 triển khai khảo sát nội dung phản ánh của tiểu thuyết đương đại qua lăng kính tôn giáo trên hai bình diện:
- Cảm quan về con người:
- Con người được huyền thoại hóa: Nhân vật được bao phủ bởi màn sương tâm linh, gắn với các tiền kiếp, điềm báo, nhân duyên kỳ ảo.
- Con người mang niềm tin tôn giáo: Nhân vật tìm đến chùa chiền, giáo đường, thực hành nghi lễ như một cứu cánh để thanh lọc tâm hồn, hóa giải bi kịch.
- Con người trong mối quan hệ thiện ác: Sự xung đột giữa bản năng vị kỷ và lòng hướng thiện; quy luật nhân quả, nghiệp báo đóng vai trò điều chỉnh hành vi đạo đức.
- Con người mất chúa - đổ vỡ niềm tin: Phản ánh tâm trạng hoang mang, bơ vơ của con người thế tục khi rơi vào khủng hoảng giá trị sống trong xã hội hiện đại.
- Con người khát vọng: Khát vọng vươn tới sự an lạc, tự do tinh thần và sự giải thoát bản ngã khỏi những ràng buộc phàm trần.
- Con người mang tinh thần giải thiêng tôn giáo: Nhìn nhận các chức sắc tôn giáo, các tín điều dưới góc độ con người trần thế với đầy đủ dục vọng, yếu đuối, không thần thánh hóa một chiều.
- Cảm quan về thế giới hiện thực:
- Thế giới nhiều bất trắc, vô thường: Hiện thực đời sống được nhìn nhận qua ý niệm vô thường của Phật giáo; mọi sự vật, số phận đều biến dịch, nổi trôi, không có gì bất biến.
- Thế giới thiêng liêng: Không gian tâm linh được phục hồi, ranh giới giữa cõi sống và cõi chết, giữa người trần và linh hồn trở nên mờ nhạt.
- Thế giới mang giáo lý và lễ nghi: Sự xuất hiện dày đặc của các sinh hoạt tôn giáo, nghi lễ tụng niệm, sám hối, cầu nguyện, xưng tội trong đời sống thường nhật của nhân vật.
Chương 4: Cảm quan tôn giáo trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại nhìn từ nghệ thuật biểu hiện
Chương 4 tập trung làm rõ các phương thức thi pháp biểu hiện cảm quan tôn giáo:
- Hệ thống biểu tượng:
- Biểu tượng Mẫu - như một biểu tượng tôn giáo bản địa: Hình tượng người Mẹ, Đất Mẹ, dòng sông, các giá đồng thể hiện sự sinh sôi, bảo bọc và tính nữ quyền bản địa.
- Biểu tượng của Phật giáo: Tòa sen, tiếng chuông chùa, bến mê, bờ giác, ánh trăng thiền, bóng cà sa, vòng luân hồi.
- Biểu tượng của Thiên Chúa giáo: Cây Thánh giá, giọt máu cứu chuộc, ngọn nến phục sinh, chuông nhà thờ, hang đá, chén thánh.
- Hệ thống ngôn ngữ:
- Ngôn ngữ Phật giáo: Sử dụng dày đặc thuật ngữ triết học Phật giáo (nghiệp, duyên, sắc, không, vô thường, sám hối, giải thoát) và giọng điệu mang tính chiêm nghiệm, tỉnh thức.
- Ngôn ngữ Thiên Chúa giáo: Tiếp nhận hệ thống kinh kệ, lời nguyện cầu, các khái niệm thần học (cứu rỗi, hồng ân, sám hối, tội lỗi, ngày phán xét) và văn phong mang âm hưởng khải huyền.
- Tổ chức không gian tôn giáo:
- Không gian Phật giáo: Cửa chùa, mái thiền viện, rừng trúc, chốn thâm nghiêm tịch mịch - nơi thanh lọc bụi trần và đối thoại với nội tâm.
- Không gian Thiên Chúa giáo: Tháp chuông, thánh đường, tòa giải tội, không gian làng đạo với những quy chuẩn giáo luật nghiêm cẩn.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Luận án đã tổng hợp các quan niệm lý thuyết đa chiều về tôn giáo và tín ngưỡng của các học giả trong và ngoài nước, từ đó đề xuất định nghĩa và xác định cụ thể nội hàm khoa học của khái niệm “cảm quan tôn giáo” trong nghiên cứu văn học.
- Đặt nền móng lý luận cho việc tiếp cận tiểu thuyết Việt Nam đương đại từ điểm nhìn tôn giáo học và thi pháp học liên ngành, khẳng định tôn giáo không đơn thuần là đề tài hay chất liệu ngoại tại mà đã chuyển hóa thành một thành tố nghệ thuật chi phối cấu trúc tác phẩm.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Luận án đã tiến hành thống kê, phân loại và hệ thống hóa diện mạo các tác giả, tác phẩm tiểu thuyết Việt Nam tiêu biểu từ sau năm 1986 mang đậm dấu ấn tôn giáo.
- Làm sáng tỏ các đặc trưng của cảm quan tôn giáo trong việc biến đổi tư duy tiểu thuyết: làm thay đổi quan niệm về con người (con người tâm linh, đa chiều, giải thiêng) và quan niệm về hiện thực (hiện thực vô thường, hiện thực đa tầng tâm linh).
- Chỉ ra bước chuyển về thi pháp thể loại tiểu thuyết đương đại thông qua việc mở rộng hệ thống biểu tượng tôn giáo, du nhập ngôn ngữ tôn giáo vào diễn ngôn nghệ thuật và kiến tạo các chiều kích không gian tâm linh đặc thù.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Về công tác nghiên cứu và giảng dạy: Luận án kiến nghị đưa hướng tiếp cận phê bình tôn giáo - văn hóa vào chương trình đào tạo ngữ văn ở bậc đại học và sau đại học, giúp người học có cái nhìn toàn diện, khách quan về các giá trị tinh thần trong văn học.
- Về quản lý văn hóa: Cần duy trì cái nhìn cởi mở, tôn trọng tự do sáng tạo nghệ thuật đối với các đề tài văn hóa tâm linh và tín ngưỡng, nhìn nhận cảm quan tôn giáo như một nhu cầu nhân văn chính đáng trong hành trình nhận thức con người của nhà văn.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế xuất phát từ phạm vi nghiên cứu:
Luận án tập trung chủ yếu vào thể loại tiểu thuyết từ sau mốc Đổi mới 1986 đến nay, do đó chưa thể bao quát toàn bộ các thể loại văn xuôi khác như truyện ngắn, ký, hồi ký hoặc kịch bản văn học đương đại.
Về mặt loại hình tôn giáo, công trình tập trung khảo sát sâu vào hai hệ tư tưởng chiếm ưu thế áp đảo là Phật giáo và Ki tô giáo (kết hợp biểu tượng đạo Mẫu bản địa), vì vậy chưa có điều kiện khảo sát sâu các tôn giáo nội sinh (như Cao Đài, Hòa Hảo) hay các hiện tượng tín ngưỡng mới xuất hiện trong đời sống văn học những năm gần đây.
- Hướng nghiên cứu tiếp nối:
Mở rộng phạm vi nghiên cứu cảm quan tôn giáo sang các thể loại truyện ngắn, thơ đương đại; đồng thời nghiên cứu so sánh cảm quan tôn giáo trong tiểu thuyết Việt Nam với tiểu thuyết của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á và Đông Á có cùng nền tảng văn hóa tương đồng.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Ngữ văn, Lí luận văn học:
Luận án là tài liệu tham khảo hệ thống về phương pháp luận nghiên cứu thi pháp học kết hợp văn hóa học và tôn giáo học; cung cấp nguồn thư mục phong phú về các công trình nghiên cứu tôn giáo và văn học của thế giới và Việt Nam qua các thời kỳ.
- Đối với giảng viên và nhà nghiên cứu văn học:
Chương 3 và Chương 4 là nguồn tư liệu phân tích văn bản hữu ích để tham khảo trong các chuyên đề giảng dạy về Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975, Văn học Việt Nam thời kỳ Đổi mới, hoặc các học phần chuyên sâu về Thi pháp học hiện đại.
- Đối với người làm công tác văn hóa và chính sách tư tưởng:
Phần phân tích đặc điểm tôn giáo ở Việt Nam và mối quan hệ giữa tôn giáo với đời sống tinh thần cung cấp thêm cơ sở khoa học để đánh giá đúng đắn chức năng nhân văn, đạo đức của tôn giáo trong đời sống văn học nghệ thuật xã hội chủ nghĩa.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định đối tượng và phạm vi khảo sát chính là gì?
Luận án nghiên cứu cảm quan tôn giáo trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Phạm vi thời gian tập trung vào giai đoạn từ sau năm 1986 đến nay, khảo sát các tác phẩm tiểu thuyết mang dấu ấn tôn giáo rõ nét của các tác giả như Nguyễn Xuân Khánh, Võ Thị Hảo, Bảo Ninh, Hoàng Minh Tường, Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương, Vũ Huy Anh... Hai hệ tư tưởng tôn giáo chính được khảo sát là Phật giáo và Ki tô giáo, có kết hợp đối chiếu với tín ngưỡng đạo Mẫu bản địa.
2. Tác giả luận án đúc kết những đặc điểm căn bản nào của tôn giáo tại Việt Nam?
Luận án đúc kết 5 đặc điểm chính:
- Tôn giáo bắt nguồn từ tâm thức tự nhiên, gắn với đạo lý nhân quả "ác giả ác báo", "ở hiền gặp lành", là điểm tựa tinh thần của con người.
- Các tôn giáo lớn đều du nhập từ bên ngoài nhưng đã được Việt Nam hóa, hòa quyện với phong tục truyền thống.
- Luôn thể hiện tính dung hợp, đan xen, hòa đồng ("Tam giáo đồng nguyên", kết hợp tục thờ cúng tổ tiên, lịch sử không có chiến tranh tôn giáo).
- Thể hiện tính trội của yếu tố nữ do dấu ấn chế độ mẫu hệ và văn minh lúa nước (tín ngưỡng thờ Mẫu, Tam phủ, Tứ phủ).
- Có truyền thống thần thánh hóa những người có công với gia đình, làng bản và đất nước (thờ cúng Vua Hùng, Thành hoàng làng).
3. Cảm quan về con người trong tiểu thuyết đương đại được luận án phân tích qua các khía cạnh nào?
Luận án phân tích cảm quan con người qua 6 bình diện cụ thể:
- Con người được huyền thoại hóa;
- Con người mang niềm tin tôn giáo;
- Con người trong mối quan hệ thiện ác;
- Con người mất chúa - đổ vỡ niềm tin;
- Con người khát vọng;
- Con người mang tinh thần giải thiêng tôn giáo.
4. Luận án vận dụng những phương pháp nghiên cứu khoa học nào?
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính với các phương pháp chính: phương pháp thi pháp học (phương pháp then chốt để nghiên cứu nội dung và nghệ thuật thể hiện), phương pháp tiếp cận liên ngành (kết hợp triết học, văn hóa học, tôn giáo học), phương pháp cấu trúc hệ thống và phương pháp so sánh đối chiếu; kết hợp các thao tác thống kê, phân loại, phân tích văn bản.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Lê Si Na là công trình nghiên cứu chuyên sâu và có hệ thống đầu tiên về cảm quan tôn giáo trong thể loại tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đương đại. Bằng việc kết hợp phương pháp thi pháp học với góc nhìn liên ngành văn hóa - tôn giáo học, công trình đã làm sáng tỏ quá trình du nhập, chuyển hóa của các tư tưởng Phật giáo, Kitô giáo và tín ngưỡng dân gian vào thế giới nghệ thuật của các nhà tiểu thuyết sau năm 1986. Luận án khẳng định cảm quan tôn giáo là một nhân tố quan trọng góp phần đổi mới quan niệm về con người, hiện thực và phương thức biểu hiện, phản ánh bước chuyển biến dân chủ và phong phú của văn học Việt Nam trong tiến trình hội nhập.