Cảm quan tôn giáo trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại - Phân tích từ luận án tiến sĩ

Tài liệu chuyên sâu Cảm quan tôn giáo trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại: ..., phân tích đa chiều, cung cấp kiến thức nền tảng vững chắc cho chuyên

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Lí luận văn học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

165
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

0.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

0.2. Những công trình nghiên cứu về tôn giáo

0.3. Những nhà văn tiêu biểu viết về tôn giáo

0.4. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

1.2. Những công trình nghiên cứu về tôn giáo

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ SỰ XUẤT HIỆN CỦA CẢM QUAN TÔN GIÁO TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

2.1. Những quan niệm về tôn giáo và cảm quan tôn giáo

2.1.1. Quan niệm về tôn giáo

2.1.2. Quan niệm hợp nhất tôn giáo với tín ngưỡng

2.1.3. Về khái niệm “cảm quan” và “cảm quan tôn giáo”

2.2. Cơ sở lịch sử - xã hội, văn hóa - văn học của cảm quan tôn giáo trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại

2.3. Một số vấn đề về tôn giáo ở Việt Nam

2.4. Mối quan hệ giữa tôn giáo với văn học nghệ thuật

2.5. Ảnh hưởng của tôn giáo trong văn học Việt Nam

2.6. Những yếu tố ảnh hưởng đến cảm quan tôn giáo trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại

3. CHƯƠNG 3: CẢM QUAN TÔN GIÁO TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI NHÌN TỪ SỰ PHẢN ÁNH VỀ CON NGƯỜI VÀ THẾ GIỚI HIỆN THỰC

3.1. Cảm quan về con người

3.1.1. Con người được huyền thoại hóa

3.1.2. Con người mang niềm tin tôn giáo

3.1.3. Con người trong mối quan hệ thiện ác

3.1.4. Con người mất chúa - đổ vỡ niềm tin

3.1.5. Con người khát vọng

3.1.6. Con người mang tinh thần giải thiêng tôn giáo

3.2. Cảm quan về thế giới hiện thực

3.2.1. Thế giới nhiều bất trắc, vô thường

3.2.2. Thế giới thiêng liêng

3.2.3. Thế giới mang giáo lý và lễ nghi

4. CHƯƠNG 4: CẢM QUAN TÔN GIÁO NHÌN TỪ NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN

4.1. Biểu tượng Mẫu- như một biểu tượng Tôn giáo bản địa

4.2. Biểu tượng của Phật giáo

4.3. Biểu tượng của Thiên Chúa giáo

4.4. Ngôn ngữ Phật giáo

4.5. Ngôn ngữ Thiên Chúa giáo

4.6. Không gian tôn giáo

4.6.1. Không gian Phật giáo

4.6.2. Không gian Thiên Chúa giáo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ

Tóm tắt

I. Cảm quan tôn giáo trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại

Cảm quan tôn giáo là một khái niệm trung tâm trong luận án, được phân tích qua các tác phẩm tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Luận án khẳng định rằng cảm quan tôn giáo không chỉ là yếu tố nghệ thuật mà còn là phương tiện để nhà văn phản ánh hiện thực và khám phá thế giới nội tâm con người. Các tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh, Võ Thị Hảo, và Bảo Ninh được xem là tiêu biểu cho sự kết hợp giữa tôn giáo và văn học, tạo nên một bức tranh đa dạng về tư tưởng và nghệ thuật.

1.1. Quan niệm về tôn giáo và cảm quan tôn giáo

Luận án đề cập đến các quan niệm về tôn giáocảm quan tôn giáo, nhấn mạnh sự hợp nhất giữa tôn giáo và tín ngưỡng trong văn hóa Việt Nam. Cảm quan tôn giáo được hiểu là cách nhìn, cách cảm nhận của nhà văn về thế giới thông qua lăng kính tôn giáo. Điều này thể hiện rõ trong các tác phẩm văn học, nơi tôn giáo không chỉ là yếu tố tâm linh mà còn là công cụ để phản ánh hiện thực xã hội.

1.2. Cơ sở lịch sử xã hội của cảm quan tôn giáo

Luận án phân tích cơ sở lịch sử - xã hội của cảm quan tôn giáo trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Từ sau năm 1986, sự dân chủ hóa trong đời sống và văn học đã tạo điều kiện cho tôn giáo trở thành một thành tố nghệ thuật quan trọng. Các tác phẩm của Nguyễn Bình Phương và Hồ Anh Thái là minh chứng cho sự ảnh hưởng sâu sắc của tôn giáo trong việc khám phá thế giới tinh thần con người.

II. Cảm quan tôn giáo nhìn từ sự phản ánh về con người và thế giới hiện thực

Luận án tập trung phân tích cảm quan tôn giáo qua cách nhìn về con người và thế giới hiện thực trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Con người trong các tác phẩm này thường được huyền thoại hóa, mang niềm tin tôn giáo, và đối mặt với mâu thuẫn thiện - ác. Thế giới hiện thực được miêu tả qua lăng kính tôn giáo, với những bất trắc, vô thường, và sự thiêng liêng.

2.1. Con người trong cảm quan tôn giáo

Luận án nhấn mạnh sự xuất hiện của con người mang niềm tin tôn giáocon người mất chúa - đổ vỡ niềm tin trong các tác phẩm. Nhân vật trong tiểu thuyết thường đối mặt với khủng hoảng tâm linh, khát vọng tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống. Điều này thể hiện rõ trong các tác phẩm của Nguyễn Việt Hà và Vũ Huy Anh, nơi tôn giáo trở thành phương tiện để khám phá nội tâm con người.

2.2. Thế giới hiện thực qua lăng kính tôn giáo

Thế giới hiện thực trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại được miêu tả qua cảm quan tôn giáo, với những yếu tố như sự vô thường, bất trắc, và thiêng liêng. Các tác phẩm của Tạ Duy Anh và Nguyễn Bình Phương là ví dụ điển hình cho việc sử dụng tôn giáo để phản ánh hiện thực xã hội phức tạp.

III. Cảm quan tôn giáo nhìn từ nghệ thuật biểu hiện

Luận án phân tích cảm quan tôn giáo qua các yếu tố nghệ thuật như biểu tượng, ngôn ngữ, và không gian trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Các biểu tượng tôn giáo như Mẫu, Phật giáo, và Thiên Chúa giáo được sử dụng để truyền tải thông điệp tâm linh và đạo đức. Ngôn ngữ và không gian tôn giáo cũng góp phần tạo nên chiều sâu nghệ thuật cho tác phẩm.

3.1. Biểu tượng tôn giáo trong tiểu thuyết

Các biểu tượng tôn giáo như Mẫu, Phật giáo, và Thiên Chúa giáo được sử dụng rộng rãi trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Những biểu tượng này không chỉ mang ý nghĩa tâm linh mà còn là công cụ để nhà văn phản ánh hiện thực xã hội và khám phá thế giới nội tâm con người.

3.2. Ngôn ngữ và không gian tôn giáo

Luận án nhấn mạnh vai trò của ngôn ngữ tôn giáokhông gian tôn giáo trong việc tạo nên chiều sâu nghệ thuật cho tác phẩm. Các tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh và Võ Thị Hảo là ví dụ điển hình cho việc sử dụng ngôn ngữ và không gian tôn giáo để truyền tải thông điệp tâm linh và đạo đức.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 1. Những công trình nghiên cứu về tôn giáo Như chúng ta biết, nghiên cứu tôn giáo đã có từ thời cổ đại với các công trình thần học của Platon và Aristote, nhưng nghiên cứu tôn giáo trong mối quan hệ với đời sống xã hội và nghệ thuật thì nó mới xuất hiện trong phạm vi của ngành văn hóa học ra đời từ cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, trong đó, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa tôn giáo với văn học có một vị trí quan trọng. Trong lĩnh vực văn hóa học văn học này, có thể nói việc phê bình đối với văn học từ góc nhìn tôn giáo chính là phê bình đối với tác phẩm văn học có yếu tố tôn giáo và theo tiêu chuẩn đánh giá về đạo đức và tôn giáo.

Nói cách khác, văn học có yếu tố tôn giáo chính là đối tượng của phê bình văn học từ góc nhìn tôn giáo, hay có thể gọi ngắn gọn kiểu phê bình này là “phê bình tôn giáo văn học”. Từ cuối thế kỷ XIX, nhiều nhà thần học và văn hóa học ở phương Tây đã công bố các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa tôn giáo và văn học. Có thể kể ra các công trình của các nhà khoa học như: W. Tyler (Hoa Kỳ), Theology of the Greek Poets (Thần học của các nhà thơ Hy Lạp), Andover, Warren F.

Brooke (Anh), Theology in the English Poets: Cowper, Coleridge. Wordsworth, and Burns (Thần học trong các nhà thơ Anh: Cowper, Coleridge. Wordsworth, and Burns), London, 1874; S. Brooke, Religion in Literature and Religion in Life (Tôn giáo trong văn học và tôn giáo trong đời sống), London, 1901; G.

Wilson (Hoa Kỳ), Theology of Modern Literature (Thần học của văn học hiện đại), New York, 1899; W. Shaw (Anh), Precinct of Religion in the Culture of Humanity (Phạm vi tôn giáo trong văn hoá của nhân loại), London, New York, 1908; S. Eliot, “Religion and literature” (Tôn giáo và văn học), trong Essays Ancient and Modern, London, 1936;. Trong công trình Thần học của các nhà thơ Hy Lạp, nhà thần học William Seymour Tyler (1810-1897) cho rằng: “Thần học tự nhiên có thể được xem xét từ hai góc độ, và như thế nó có thể được xem xét trong hai khía cạnh.

Chúng ta có thể xem xét nó từ góc nhìn của sự quan sát và lý trí của riêng chúng ta dưới ánh sáng của khoa học hiện đại và của đạo Cơ Đốc; song chúng ta cũng có thể suy xét nó như khi nó phát triển trong văn học và trong lịch sử của các dân tộc ngoại đạo, và như khi nó xuất hiện trước con mắt của những người không có được sự khải huyền Cơ Đốc giáo. Khảo cứu theo cách thứ nhất sẽ là, hoặc có thể là, một khoa học [thần học].) Quan sát theo cách thứ hai sẽ là, hoặc có thể là, một khoa học lịch sử.) Tập sách này có ý định đóng góp cho thần học tự nhiên theo cả hai hình thức trên” [152, tr. Về mục đích của việc phê bình thần học văn học của mình, Tyler khẳng định: “Chúng ta phải nhận ra nhiều điều ở các nhà thơ cổ đại này hơn mức mà chính bản thân họ ý thức được về chúng, bởi vì chúng ta có thể nhìn thấy cuộc đời và thời đại của họ bằng ánh sáng của lịch sử tiếp theo; giống như với sự trợ giúp của kính thiên văn hiện đại, chúng ta có thể nhìn thấy các thiên thể trong những khía cạnh và các mối quan hệ mới, và thậm chí còn phát hiện ra sự gần gũi trong suy đoán của họ trước đây về các thiên thể đó với hệ thống thiên văn của Copernicus” [152, tr. Đối với giả định cho rằng ông bênh vực quá nhiều cho đạo Cơ Đốc, ông cho biết: “Đạo Cơ Đốc ít nhất là một sự kiện có thật; và nó không thể bị bỏ qua hoặc để sang một bên.) Trong cuốn sách này không hề có chỗ nào biện 7 hộ cho đạo Cơ Đốc, hoặc thậm chí là bảo vệ nó, mà chỉ là minh hoạ cho vị trí đúng đắn của nó trong văn học và lịch sử” [152, tr.

Có thể nói đây là xu hướng phê bình ghi nhận vai trò của tôn giáo trong văn học. Mục sư người Anh Stopford Augustus Brooke (1832-1916) cũng dành nhiều công trình cho đề tài tôn giáo với văn học, trong đó có hai công trình quan trọng là Theology in the English Poets (Thần học trong các nhà thơ Anh, 1874) và Religion in Literature and Religion in Life (Tôn giáo trong văn học và tôn giáo trong đời sống, 1901). Trong công trình Tôn giáo trong văn học và tôn giáo trong đời sống, Brooke lại có một quan điểm rất thế tục về tôn giáo trong văn học. Ông cho rằng tôn giáo là những tư tưởng về lòng yêu thương và nhân đạo chứ không phải là các giáo lý thần học.

Ông nói: tôn giáo “không thể là cuộc sống tinh thần nội tâm mà con người sống với Chúa ở trong sâu thẳm tâm hồn. Điều này thể hiện khác nhau trong mỗi nhà văn, nếu như nhà văn hoàn toàn có nó; và qua thuật ngữ tôn giáo, ở đây chúng ta đang nói đến một sự việc gì đó thuộc về các tầng lớp người; một sự việc thuộc giống loài chứ không phải sự việc cá nhân; một tập hợp các ý tưởng chung của nhiều người và được thể hiện và trình bày bởi nhà thơ. Tôi cũng không coi nó là một mớ học thuyết và lễ nghi của bất cứ một Nhà thờ nào hay bất cứ một giáo phái hay một dân tộc nào nói chung, giống như chúng ta quan niệm khi nói đến tôn giáo Tin lành hay đạo Thiên Chúa La Mã” [139, tr. Tôn giáo trong văn học, theo Brooke, chính là cuộc sống lý tưởng, là sự thật, sự cao thượng, lòng tin, lòng yêu thương, sự khoan dung, sự tha thứ, là những tư tưởng “tự do, bình đẳng, bác ái” của cuộc Cách mạng Pháp, là cuộc sống giản dị gần gũi với thiên nhiên.

Brooke đã dẫn các nhà thơ Anh thế kỷ XVIII-XIX để cho thấy rằng những tư tưởng tôn giáo này đã được thể hiện lúc đậm lúc nhạt trong các nhà thơ khác nhau và ở những thời điểm khác nhau. Và thơ ca phải biến những ý tưởng tôn giáo đó thành cái đẹp để khuyến khích con người đến với cuộc sống lý tưởng với tư cách là mục đích cao cả và hạnh phúc vĩnh hằng của nhân loại [139, tr. Đó chính là quan niệm của Brooke về tôn giáo trong văn học. Nhưng theo chúng tôi, đây là quan niệm mang tính nhân văn chủ nghĩa hơn là tôn giáo.

8 Trong khi đó, các nhà phê bình tôn giáo văn học hiện đại ở đầu thế kỷ XX, điển hình là nhà thơ và là nhà phê bình người Anh Thomas Stearns Eliot (1888-1965), lại là những người có ý thức về việc phải nghiên cứu văn học từ góc nhìn đạo đức tôn giáo. Trong bài tiểu luận “Tôn giáo và văn học” in trong tập sách Tiểu luận về cổ đại và hiện đại xuất bản năm 1936, Eliot đã viết: “Phê bình văn học cần phải được hoàn thiện bằng một kiểu phê bình từ góc nhìn đạo đức và thần học nhất định. Trong chừng mực mà ở bất cứ thời đại nào có sự thoả thuận chung về các vấn đề đạo đức và thần học, thì chừng đó phê bình văn học mới có thể tồn tại thực sự.) Sự cao quý của văn học không thể được xác định chỉ bởi các tiêu chuẩn văn học. Cho dù chúng ta cần phải nhớ rằng việc một cái gì có phải là văn học hay không thì có thể được xác định chỉ bằng các tiêu chuẩn văn học” [140, tr.

Ông nói tiếp: “Trong thời gian mấy thế kỷ qua, chúng ta đã ngầm hiểu rằng giữa văn học và thần học không hề có một mối quan hệ nào. Điều này không làm chúng ta phủ nhận một điều là văn học - tôi muốn nói trước hết đến những tác phẩm tưởng tượng - đã, đang và có lẽ sẽ luôn được đánh giá bằng một số tiêu chuẩn đạo đức. Nhưng những đánh giá về đạo đức đối với tác phẩm văn học chỉ được thực hiện theo các chuẩn mực đạo đức của mỗi thế hệ, bất kể họ có sống theo các chuẩn mực này hay không. Trong một thời đại chấp nhận một quan điểm thần học rõ ràng, thì các chuẩn mực chung có thể mang tính chính thống rõ rệt” [140, tr.

Eliot cũng xác định rõ là cần phải phân biệt văn học tôn giáo với văn học có yếu tố tôn giáo. Ông nói: “Ở đây, tôi không quan tâm đến văn học tôn giáo (tiếng Anh: “religious literature”) mà là tôi quan tâm đến việc áp dụng tôn giáo của chúng ta để phê bình bất cứ một tác phẩm văn học nào”. Cũng như ông chỉ quan tâm đến mối quan hệ giữa tôn giáo với văn học thôi. Tức là ông cho rằng phê bình tôn giáo đối với văn học không quan tâm đến loại văn học mang ý thức tôn giáo như Kinh thánh chẳng hạn, mà nó quan tâm đến loại văn học thể hiện thái độ đạo đức tôn giáo trong vô thức của nhà văn.

Ông tuyên bố: “Điều tôi muốn là một tác phẩm văn học phải mang tính Cơ Đốc 9 giáo một cách vô thức chứ không phải là theo cách có chủ ý và mang tính thách thức” [140, tr. Từ đó Eliot phê phán văn học hiện đại Anh là loại văn học thế tục chủ nghĩa, xa rời các chuẩn mực đạo đức Cơ Đốc. Ông phê phán văn học hiện đại là chỉ quan tâm đến giá trị vật chất trần tục mà không quan tâm đến giá trị tinh thần. Và phê bình tôn giáo phải áp dụng các tiêu chuẩn đạo đức và thần học để đánh giá văn học.

Người ta cho rằng phê bình tôn giáo văn học chính là một phản ứng chống lại phong trào phê bình thuần tuý duy mỹ lúc bấy giờ. Các nhà khoa học muốn đưa phê bình văn học trở về với đời sống xã hội của con người. Như thế, phê bình tôn giáo văn học là kiểu phê bình có khuynh hướng tư tưởng rõ ràng chứ không phải là một kiểu phê bình thuần tuý, không phải là chỉ đơn thuần đi tìm yếu tố tôn giáo trong văn học một cách tự thân, không mục đích. Như vậy có thể nói đây là xu hướng phê phán văn học thế tục chủ nghĩa và khẳng định sự cần thiết phải có sự tham gia của tôn giáo trong tác phẩm văn học để phát huy giá trị đạo đức của văn học.

Đó cũng là một quan điểm phê bình rất đáng ghi nhận cho các nhà phê bình tôn giáo văn học sau này.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ "Cảm quan tôn giáo trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại" là một nghiên cứu chuyên sâu, khám phá cách các yếu tố tôn giáo được thể hiện và phản ánh trong nền văn học hiện đại Việt Nam. Tác phẩm không chỉ phân tích sự tác động của tôn giáo đến cấu trúc và nội dung tiểu thuyết mà còn làm nổi bật vai trò của nó trong việc định hình tư tưởng và cảm xúc của nhân vật. Độc giả sẽ được mở rộng hiểu biết về mối quan hệ giữa văn học và tôn giáo, đồng thời nhận thức sâu sắc hơn về bối cảnh văn hóa-xã hội Việt Nam đương đại.

Để khám phá thêm các góc nhìn liên quan, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ tiểu thuyết Lê Lựu thời kỳ đổi mới, nghiên cứu về sự chuyển mình của văn học trong giai đoạn lịch sử quan trọng. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ đặc điểm truyện ngắn Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới cung cấp cái nhìn chi tiết về phong cách và chủ đề của một trong những nhà văn tiêu biểu. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ thơ nữ Việt Nam sau 1975 những tìm tòi và cách tân sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về sự đổi mới và sáng tạo trong văn học nữ giới. Mỗi tài liệu là một cánh cửa mở ra những khám phá mới, giúp bạn đào sâu hơn vào thế giới văn học Việt Nam.