Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Đề tài "Nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Khải sau 1985" do sinh viên Nguyễn Thị Huyền thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. La Nguyệt Anh tại Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 (năm 2017), thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam.
Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn
Trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam, hình tượng người phụ nữ là đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều thế hệ cầm bút. Sau cột mốc năm 1985, cùng với công cuộc Đổi mới đất nước và sự cởi mở trong tư duy nghệ thuật, văn học Việt Nam chuyển dịch mạnh mẽ từ cảm hứng sử thi, lãng mạn sang cảm hứng thế sự và đời tư. Thay vì tập trung vào những biến cố cộng đồng lớn lao, các nhà văn quay về khám phá con người cá nhân giữa những lo toan thường nhật, khát vọng hạnh phúc đời thường và những chấn thương tinh thần.
Nguyễn Khải là một trong những cây bút tiêu biểu của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại. Nếu ở giai đoạn trước 1985, nhân vật của ông chủ yếu là những con người trẻ tuổi, tràn đầy nhiệt huyết công dân, tự tin khẳng định tương lai giữa công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và kháng chiến; thì sau năm 1985, ngòi bút của ông hướng sâu vào những con người từng trải, những số phận "lạc thời", đơn độc, chịu nhiều thiệt thòi nhưng bền bỉ gìn giữ nhân cách. Nhà văn đo cái đẹp bằng nhãn quan văn hóa mà trung tâm là vẻ đẹp nữ tính. Việc nghiên cứu thế giới nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Khải giai đoạn này giúp nhận diện sâu sắc sự chuyển biến trong quan niệm nghệ thuật về con người của tác giả, đồng thời cung cấp nguồn tư liệu học thuật phục vụ giảng dạy các tác phẩm của Nguyễn Khải trong chương trình Ngữ văn.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Khóa luận hướng đến việc làm rõ những đóng góp của nhà văn Nguyễn Khải trong việc xây dựng hình tượng nhân vật nói chung và hình tượng nhân vật nữ nói riêng trong giai đoạn văn học sau Đổi mới, qua đó khẳng định vị trí và phong cách nghệ thuật độc đáo của ông trong nền văn học hiện đại Việt Nam.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Khảo sát và phân loại toàn diện hệ thống nhân vật nữ trong các sáng tác truyện ngắn của Nguyễn Khải sau năm 1985.
- Phân tích các phương thức nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật nữ (ngôn ngữ, điểm nhìn trần thuật, giọng điệu) nhằm chỉ ra nét đặc sắc và cá tính sáng tạo riêng biệt của tác giả.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống nhân vật nữ và phương thức nghệ thuật xây dựng nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Khải giai đoạn sau 1985.
- Phạm vi nghiên cứu: Căn cứ vào mục tiêu nghiên cứu, khóa luận tập trung khảo sát các truyện ngắn của Nguyễn Khải được tuyển chọn trong Tuyển tập Nguyễn Khải (Tập III) do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 1996 tại Hà Nội.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm công cụ
Khóa luận xây dựng nền tảng nghiên cứu dựa trên các công trình lý luận và từ điển văn học chuyên ngành:
- Khái niệm nhân vật văn học: Được xác định theo Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán chủ biên) – nhân vật là hình tượng con người cụ thể được nhà văn sáng tạo nhằm phản ánh hiện thực, khái quát tính cách và thể hiện lý tưởng thẩm mỹ; kết hợp với giáo trình Lí luận văn học (Tập 2) do GS. Trần Đình Sử chủ biên – xem nhân vật là hình tượng cá thể được nhận thức và biểu hiện bằng phương tiện ngôn từ nghệ thuật.
- Phân loại nhân vật: Tiếp cận tiêu chí phân loại nhân vật chính, nhân vật phụ dựa trên vai trò đối với cốt truyện; nhân vật chính diện, nhân vật phản diện dựa trên hệ giá trị tư tưởng, kết hợp quan niệm của Mikhail Bakhtin về tính chất đa diện, phức tạp, không rạch ròi thiện - ác tuyệt đối của nhân vật trong văn học hiện thực.
- Khái niệm "thiên tính nữ": Tiếp thu định nghĩa của tác giả Nguyễn Xuân Kháng, xác định thiên tính nữ là tính mềm mại, nhu thuận, tấm lòng bao dung, bản năng làm mẹ và đức hy sinh của người phụ nữ được duy trì và bộc lộ qua hình tượng văn học.
- Tiến trình vận động của hình tượng phụ nữ: Khóa luận điểm lại sự phát triển của hình tượng phụ nữ từ văn học dân gian (cổ tích, ca dao), truyện truyền kỳ trung đại (Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ), văn học hiện thực và lãng mạn 1930–1945 (Tự Lực văn đoàn, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nam Cao) đến văn học sử thi 1945–1975 (Nguyễn Thi, Anh Đức, Nguyễn Minh Châu) nhằm làm nổi bật tính chất thế sự - đời tư của nhân vật nữ sau 1985.
Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu văn học cụ thể:
- Phương pháp khảo sát, thống kê và phân loại: Áp dụng để lập danh mục các tác phẩm, thống kê các nhân vật nữ chính và nhân vật nữ phụ trong phạm vi tư liệu.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Đi sâu phân tích các chi tiết tính cách, hành động, số phận nhân vật, sau đó tổng hợp thành các phẩm chất, khát vọng và ý nghĩa biểu tượng.
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: Đối chiếu nhân vật nữ sau 1985 với nhân vật của chính Nguyễn Khải giai đoạn trước 1985 và với nhân vật nữ của các tác giả cùng thời (Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp).
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Vận dụng để phân tích các phương diện hình thức nghệ thuật như ngôn ngữ nhân vật, nghệ thuật trần thuật và giọng điệu.
Nguồn dữ liệu
Nguồn ngữ liệu khảo sát trực tiếp là văn bản các truyện ngắn trong Tuyển tập Nguyễn Khải (Tập III) (NXB Văn học, Hà Nội, 1996). Nguồn tài liệu tham khảo bổ trợ gồm các bài viết, chuyên luận của các nhà nghiên cứu: Bích Thu (Tạp chí Văn học, số 10/1997), Nguyễn Văn Long (Tạp chí Văn nghệ Quân đội), Đào Thủy Nguyên, Nguyễn Đăng Mạnh và Vương Trí Nhàn.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Giới thuyết chung
Chương này dành cho việc xác lập hệ thống cơ sở lý thuyết, điểm qua cuộc đời, sự nghiệp của tác giả và tiến hành khảo sát thực chứng hệ thống tác phẩm.
- Khái niệm và phân loại nhân vật: Tác giả khóa luận làm rõ các định nghĩa cốt lõi về nhân vật văn học, chỉ ra nhân vật là sản phẩm tinh thần mang tính ước lệ, là nơi hội tụ tư tưởng thẩm mỹ của nhà văn. Việc phân chia thành nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật trung tâm cùng các tiêu chí giá trị đạo đức giúp định hình cấu trúc tiếp cận tác phẩm.
- Cuộc đời và sự nghiệp Nguyễn Khải: Nhà văn sinh năm 1930 tại Hà Nội, quê cha ở Nam Định, quê mẹ ở Hưng Yên. Khóa luận phân tích hoàn cảnh "vợ lẽ con thêm" cay đắng thời niên thiếu của ông, tạo nên tâm lý nhạy cảm, ý thức tự trọng cao độ và sự hình thành hai vùng thẩm mỹ trong cùng một ngòi bút: sự xót xa, uất hận của lớp người bình dân cùng kiệt và sự ưa chuộng vẻ lịch lãm, cao sang của tầng lớp trí thức thành thị. Hành trình sáng tác được phân kỳ thành hai giai đoạn rõ rệt: trước 1985 (hướng về đề tài nông thôn, xây dựng chủ nghĩa xã hội và chiến tranh cách mạng với cái nhìn sử thi) và sau 1985 (hướng về con người cá nhân đời thường, triết lý nhân sinh và sự suy thoái chuẩn mực đạo đức trong kinh tế thị trường).
- Khảo sát truyện ngắn sau 1985 của Nguyễn Khải: Tác giả tiến hành thống kê các nhân vật nữ trong 14 truyện ngắn tiêu biểu thuộc Tuyển tập tập III (1996) để làm căn cứ thực chứng cho toàn bộ khóa luận.
| STT |
Tên tác phẩm |
Nhân vật nữ chính |
Nhân vật nữ phụ |
| 1 |
Đời khổ |
Chị Vách |
Bà vợ ông Cậy, Bà chủ quán cơm |
| 2 |
Ông cháu |
— |
Cô con gái |
| 3 |
Đổi đời |
Chị Tần |
— |
| 4 |
Một thời gió bụi |
Vợ Tú |
Con gái Tú, Cô con dâu |
| 5 |
Cặp vợ chồng ở chân động Từ Thức |
Vợ Toàn |
— |
| 6 |
Chuyện tình của mỗi người |
Chị Quê, Ngoạn (vợ Dụ) |
Bà Xuân Thái |
| 7 |
Một người Hà Nội |
Cô Hiền |
— |
| 8 |
Nếp nhà |
Bà cô |
Cô con dâu, Vợ Lộc |
| 9 |
Chúng tôi và bọn hắn |
Vợ Phúc |
— |
| 10 |
Tiền |
Hiền |
Liên (con dâu bà Tuất) |
| 11 |
Người của nghề |
Bà Tuất |
— |
| 12 |
Chút phấn ở đời |
Mẹ Tuấn |
— |
| 13 |
Người vợ |
Chị Khuê (vợ ông Trần Dần) |
— |
| 14 |
Nắng chiều |
Bà Bơ |
Bà Đại |
Chương 2: Thế giới nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Khải sau 1985
Chương 2 là phần trọng tâm triển khai việc phân tích nội dung hình tượng nhân vật nữ qua ba phương diện: cách thể hiện phẩm chất, khát vọng đời thường và vị trí trong các mối quan hệ gia đình - xã hội.
- Cách lựa chọn và thể hiện nhân vật: Khác với nhân vật lý tưởng hóa thời chiến, Nguyễn Khải thời kỳ này nhìn nhận người phụ nữ đa diện, phức tạp giữa đời sống thường nhật. Họ không cần lập nên chiến công lẫy lừng mà được nâng niu như những "hạt bụi vàng", những giá trị văn hóa bền vững.
- Phẩm chất của nhân vật nữ:
- Sự lam lũ, nhẫn nhục và giàu đức hy sinh: Chị Vách (Đời khổ) là hiện thân của người phụ nữ nông thôn gánh chịu bất hạnh cùng cực: chồng là sĩ quan về già bị tai biến mất sớm, con gái đầu 25 tuổi chưa ai ngó, con gái thứ hai bị tật nhảy lò cò, con trai lớn đi buôn mất trí hóa điên; một mình chị bươn chải nuôi cả nhà nhưng không bao giờ than vãn. Vợ Phúc (Chúng tôi và bọn hắn) chịu đựng người chồng gia trưởng, quên ăn quên ngủ, thân thể khô đét để giành giật mạng sống cho con gái bên bờ vực cái chết. Chị Khuê (Người vợ) tận tụy chăm sóc người chồng bại liệt và kiên định nguyên tắc giáo dục con cái. Người mẹ trong Chút phấn ở đời chấp nhận sống bên người chồng nhạt nhẽo để đổi lấy sự yên ấm gia đình.
- Bản lĩnh, tự lập và thức thời: Nhân vật Hiền (Tiền) – một cô nhân viên kế toán cửa hàng ăn uống, từng trải qua cảnh bần hàn đến mức phải bán cả con chó để trả viện phí; chị vươn lên làm chủ kinh tế, đanh đá giương vuốt bảo vệ quyền lợi chính đáng và cương quyết không sống dựa dẫm vào con cái lúc về già.
- Trí tuệ, nếp sống văn hóa và cốt cách thanh cao: Bà Hiền (Một người Hà Nội) xuất thân tiểu thư khuê các, chọn lấy một ông giáo tiểu học hiền lành, nuôi dạy con cái giữ gìn lễ nghi đất Tràng An và sẵn sàng cho hai con trai tòng quân nhập ngũ vì lòng tự trọng công dân. Bà cô (Nếp nhà) đóng vai trò "túi khôn", gìn giữ kỷ cương nề nếp cho gia đình nhiều thế hệ sống chung một mái nhà giữa thời buổi đồng tiền chi phối.
- Nhân vật nữ với những khát vọng hằng thường: Nhân vật nữ không mang khát vọng trừu tượng mà hướng về những nhu cầu nhân bản, bình dị. Đó là khát vọng tình yêu và hạnh phúc muộn màng của bà Bơ tuổi bảy mươi (Nắng chiều); tấm lòng thủy chung, vị tha hy sinh cả thanh xuân của chị Quê (Chuyện tình của mỗi người); hay mong muốn kinh tế gia đình ổn định để con cái đỡ khổ của vợ Tần (Đổi đời).
- Nhân vật nữ trong các mối quan hệ:
- Trong gia đình: Người phụ nữ đóng vai trò "nội tướng", trụ cột tinh thần, định hướng lối sống và hóa giải xung đột giữa các thành viên.
- Ngoài xã hội: Thể hiện sự thức thời, linh hoạt ứng biến trước thời cuộc mà không đánh mất nhân cách; tiêu biểu như việc bà Hiền bán bớt nhà, chọn nghề làm hoa giấy để thích nghi với hoàn cảnh xã hội mới mà vẫn bảo tồn nếp sống thanh lịch.
Chương 3: Phương thức thể hiện nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Khải sau 1985
Chương 3 đi sâu nghiên cứu các thủ pháp thi pháp nghệ thuật làm nên sức hấp dẫn của hình tượng nhân vật nữ.
- Ngôn ngữ nhân vật: Ngôn ngữ được cá thể hóa sinh động, bộc lộ rõ xuất thân, trình độ và tính cách của từng nhân vật:
- Cô Hiền (Một người Hà Nội): Lời ăn tiếng nói chuẩn mực, đài các, sắc sảo, tự tin và mang tính triết lý sâu sắc ("tao có bộ mặt tư sản, nhưng lại không bóc lột ai thì làm sao thành tư sản được").
- Chị Vách (Đời khổ): Mang đậm phương ngữ nông thôn, mộc mạc, hay nói chữ một cách tếu táo để xua tan bi kịch ("Người khôn nhọc lo, người dại ăn no lại nằm. Tôi mới là người sướng chứ chú").
- Chị Khuê (Người vợ): Điềm tĩnh, nhẫn nại, nén chịu, thấm đẫm trải nghiệm cuộc đời ("Sông có khúc, người có lúc, không ai sướng được mãi, cũng không ai phải khổ mãi").
- Ngôn ngữ người kể chuyện và điểm nhìn trần thuật: Nhà văn chủ yếu lựa chọn kiểu trần thuật chủ quan từ ngôi thứ nhất (nhân vật "tôi"). Người kể chuyện thường đóng vai trò là nhân chứng thân cận: người cháu họ (trong Một người Hà Nội, Nắng chiều), người hàng xóm (trong Đời khổ), hoặc một nhà văn từng trải. Ngôi kể này tạo ra khoảng cách tiếp cận gần gũi, vừa đảm bảo tính chân thực của câu chuyện, vừa cho phép người kể trực tiếp bày tỏ thái độ, suy tư và niềm đồng cảm đối với nhân vật.
- Giọng điệu trần thuật: Tác phẩm có sự đan xen hài hòa giữa hai sắc thái giọng điệu chính:
- Giọng điệu xót xa, cảm thông, chia sẻ: Lắng đọng sâu sắc trước những nghịch cảnh éo le của người phụ nữ (như cảnh ngộ của vợ chồng Toàn mù trong Cặp vợ chồng ở chân động Từ Thức hay tiếng khóc nấc của chị Vách khiến người kể nôn thốc miếng xôi vì nghẹn ngào).
- Giọng điệu hài hước, hóm hỉnh: Thể hiện qua các màn đối thoại thông minh, những nhận xét sắc sảo, hóm hỉnh giúp giải tỏa không khí căng thẳng, mang lại cái nhìn bao dung, lạc quan đối với kiếp người.
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu cụ thể
- Hệ thống hóa thành công diện mạo nhân vật nữ trong 14 truyện ngắn giai đoạn sau 1985 của Nguyễn Khải, chứng minh sự áp đảo và vai trò trung tâm của nhân vật nữ trong việc chuyên chở các thông điệp nhân sinh của tác giả.
- Chỉ ra bước chuyển căn bản trong quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Khải: từ con người lý tưởng thời chiến sang con người đời tư - thế sự mang vẻ đẹp dung dị, bản lĩnh, giao hòa giữa truyền thống và hiện đại.
- Làm rõ các đặc trưng thi pháp nổi bật: nghệ thuật cá thể hóa ngôn ngữ đối thoại, phương thức trần thuật ngôi thứ nhất giàu tính tự truyện, và sự đan cài giữa hai giọng điệu xót xa - thương cảm với hóm hỉnh - hài hước.
Giải pháp và kiến nghị của tác giả khóa luận
- Đề xuất ứng dụng kết quả nghiên cứu vào việc giảng dạy các tác phẩm văn xuôi của Nguyễn Khải trong nhà trường phổ thông (đặc biệt là truyện ngắn Một người Hà Nội thuộc chương trình Ngữ văn lớp 12).
- Khuyến nghị tiếp cận tác phẩm của Nguyễn Khải từ góc độ thi pháp học và nhãn quan văn hóa học thay vì chỉ đóng khung trong các phân tích xã hội học lịch sử thuần túy.
Đóng góp mới của khóa luận
Khóa luận đã bổ sung một nghiên cứu chuyên biệt, có tính hệ thống về mảng hình tượng nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Khải sau 1985 – một mảng nội dung mà các công trình nghiên cứu phê bình trước đó của Bích Thu, Nguyễn Văn Long hay Đào Thủy Nguyên mới chỉ đề cập rời rạc qua từng bài viết tạp chí hoặc khảo sát chung về phong cách tác giả.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của đề tài: Tác giả khóa luận tự nhìn nhận công trình còn chịu ảnh hưởng bởi những khó khăn về nguồn tài liệu, kinh nghiệm nghiên cứu và điều kiện kinh tế của sinh viên. Về mặt ngữ liệu, khóa luận mới chỉ giới hạn khảo sát trong phạm vi các truyện ngắn thuộc Tuyển tập Nguyễn Khải (Tập III) xuất bản năm 1996, chưa mở rộng ra các truyện ngắn xuất bản ngoài tuyển tập cũng như các tác phẩm sau năm 1996.
- Hướng mở nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng đối tượng khảo sát sang mảng tiểu thuyết cùng giai đoạn của Nguyễn Khải (như Cha và con và..., Thượng đế thì cười) để có cái nhìn toàn diện hơn về hình tượng người phụ nữ.
- Thực hiện nghiên cứu so sánh đối chiếu hình tượng nhân vật nữ của Nguyễn Khải với nhân vật nữ của các tác giả tiêu biểu cùng thời kỳ Đổi mới như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Lê Minh Khuê để chỉ ra những nét tương đồng và dị biệt mang tính quy luật của văn học thời kỳ này.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng sử dụng: Khóa luận là tài liệu tham khảo thiết thực dành cho sinh viên, học viên cao học ngành Sư phạm Ngữ văn, Văn học Việt Nam, Lý luận văn học khi làm tiểu luận, khóa luận tốt nghiệp về văn xuôi thời kỳ Đổi mới. Đồng thời, giáo viên môn Ngữ văn cấp Trung học phổ thông có thể sử dụng công trình như một tài liệu bổ trợ chuyên sâu khi soạn bài và giảng dạy truyện ngắn Một người Hà Nội.
- Các phần nội dung có giá trị tham khảo cao:
- Bảng thống kê chi tiết 14 tác phẩm và danh sách nhân vật nữ chính, nữ phụ tại Chương 1.
- Phân tích chuyên sâu về tính cách và số phận các nhân vật tiêu biểu: bà Hiền (Một người Hà Nội), chị Vách (Đời khổ), chị Khuê (Người vợ), bà cô (Nếp nhà) tại Chương 2.
- Phân tích cấu trúc điểm nhìn trần thuật ngôi thứ nhất và sự dịch chuyển giọng điệu của Nguyễn Khải tại Chương 3.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận khảo sát hệ thống nhân vật nữ của Nguyễn Khải dựa trên nguồn văn bản nào?
Khóa luận khảo sát hệ thống nhân vật nữ dựa trên 14 truyện ngắn được in trong Tuyển tập Nguyễn Khải (Tập III), do Nhà xuất bản Văn học ấn hành tại Hà Nội vào năm 1996.
2. Sự khác biệt cơ bản giữa nhân vật nữ của Nguyễn Khải trước và sau năm 1985 là gì?
Ở giai đoạn trước 1985, nhân vật nữ của Nguyễn Khải (như cô Đào trong Mùa lạc, Tấm trong Đứa con nuôi) chủ yếu là những người trẻ tuổi, mang phẩm chất sử thi, gắn liền với cộng đồng và công cuộc xây dựng chế độ mới. Sau năm 1985, nhân vật nữ chuyển sang những con người đời thường, nhiều người lớn tuổi, chịu nhiều cơ cực, bất hạnh nhưng giàu trải nghiệm sống, bản lĩnh và gìn giữ cốt cách văn hóa truyền thống.
3. Nhân vật bà Hiền trong "Một người Hà Nội" được tác giả khóa luận nhìn nhận như thế nào?
Bà Hiền được xem là biểu tượng cho "hạt bụi vàng" của cốt cách văn hóa Hà thành. Trong gia đình, bà là người mẹ nghiêm khắc, dạy con từ phép tắc nhỏ nhất và đề cao tinh thần tự trọng. Ngoài xã hội, bà ứng xử thức thời, chọn lối sống vừa đủ ăn, làm hoa giấy để thích nghi hoàn cảnh nhưng kiên quyết bảo vệ lòng tự trọng khi ủng hộ hai con trai nhập ngũ bảo vệ đất nước.
4. Tác giả khóa luận phân tích nhân vật chị Vách trong truyện ngắn "Đời khổ" ở những điểm gì nổi bật?
Chị Vách được khắc họa là người phụ nữ nông thôn chịu nhiều bất hạnh dồn dập (chồng mất sớm vì tai biến, ba người con lần lượt gặp bất hạnh về bệnh tật, hôn nhân và thần kinh). Tuy nhiên, chị nổi bật với sự nhẫn nại phi thường, tinh thần tháo vát, lòng nhân hậu và thái độ sống lạc quan, thể hiện qua cách nói chuyện hóm hỉnh, tếu táo nhằm vượt lên bi kịch.
5. Phương thức trần thuật nào đóng vai trò chủ đạo trong việc thể hiện nhân vật nữ của Nguyễn Khải sau 1985?
Nguyễn Khải chủ yếu sử dụng phương thức trần thuật chủ quan ở ngôi thứ nhất (nhân vật xưng "tôi"). Người kể chuyện thường là người thân, họ hàng hoặc người hàng xóm chứng kiến sự việc, giúp rút ngắn khoảng cách thẩm mỹ, tạo độ chân thực cao và cho phép nhà văn trực tiếp bộc lộ sự xót xa, đồng cảm đối với nhân vật.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp "Nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Khải sau 1985" của tác giả Nguyễn Thị Huyền là công trình nghiên cứu nghiêm túc, có hệ thống về một mảng nội dung đặc sắc trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Khải thời kỳ Đổi mới. Thông qua việc khảo sát 14 tác phẩm tiêu biểu, tác giả đã làm rõ chân dung đa diện của người phụ nữ với vẻ đẹp dung hòa giữa phẩm chất truyền thống và bản lĩnh hiện đại, đồng thời chỉ ra sự tương thích nhuần nhuyễn giữa nội dung thế sự với các phương thức nghệ thuật ngôn ngữ, điểm nhìn và giọng điệu trần thuật. Công trình góp phần khẳng định vị trí quan trọng của Nguyễn Khải trong việc đổi mới tư duy văn học và là nguồn tài liệu học thuật có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác học tập, nghiên cứu và giảng dạy văn học Việt Nam hiện đại.