CHƯƠNG 1: GIỚI THUYẾT CHUNG 1. Khái niệm vàcách phân loại nhân vật văn học 1. Khái niệm nhân vật Theo Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán chủ biên) nhân vật văn học là con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học. Đó chính là nơi “tác giả gửi gắm thông điệp và độc giả tiếp nhận,“giải mã” những vấn đề hiện thực cốt yếu đặt ra trong tác phẩm” [5,235], nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó với con người có thật trong đời sống.
Chức năng cơ bản của nhân vật văn học là khái quát tính cách của con người. Nhân vật văn học còn thể hiện quan điểm nghệ thuật và lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn về con người. Vì thế, nhân vật luôn gắn chặt với chủ đề của tác phẩm. Theo cuốn Lí luận văn học (tập 2) (Trần Đình Sử chủ biên) nhân vật văn học là khái niệm dùng để chỉ hình tượng các cá thể con người trong tác phẩm văn học - cái đã được nhà văn nhận thức, tái tạo, thể hiện bằng các phương tiện riêng của nghệ thuật ngôn từ [8,114].
Nhân vật văn học luôn hiện hữu trong các tác phẩm văn học. Đó là những nhân vật có tên như Tấm, Cám, bà Hiền, chị Bơ. hay những nhân vật không tên như chị vợ của Tràng trong Vợ nhặt của Kim Lân, thằng bán tơ trong Truyện Kiều, nhân vật bà cô trong Nếp nhà của Nguyễn Khải. Nhân vật có thể được thể hiện bằng những hình thức khác nhau nhất.
Đó có thể là những con người được miêu tả đầy đặn cả ngoại hình lẫn nội tâm, có tính cách, có tiểu sử như một khách thể thường thấy trong tác phẩm tự sự, kịch. Đó có thể là những người thiếu hẳn những nét đó, nhưng lại có tiếng nói, giọng điệu, cái nhìn như nhân vật người trần thuật, hoặc chỉ có cảm xúc, nỗi niềm, ý nghĩ, cảm nhận như nhân vật trữ tình trong thơ trữ tình. 6 Nhân vật do đó không chỉ là hình thức cơ bản thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người mà còn là hình thức cơ bản để khái quát những qui luật của đời sống và là nơi tập trung mọi giá trị - tư tưởng của nghệ thuật. Qua nhân vật, người đọc có thể hiểu được tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm và cá tính sáng tạo của nhà văn.
Nhân vật là đứa con tinh thần, là sản phẩm, là vốn sống trực tiếp của nhà văn, là nơi thể hiện rõ nhất quan điểm nghệ thuật cũng như quan niệm của nhà văn về cuộc đời và con người. Cách phân loại nhân vật văn học Nhân vật văn học là một hiện tượng đa dạng cho nên các phương diện loại hình của nhân vật cũng hết sức đa dạng. Căn cứ vào những tiêu chí khác nhau, có thể phân chia thành các loại hình nhân vật khác nhau. Chẳng hạn, căn cứ vào vị trí đối với nội dung cụ thể, với cốt truyện của tác phẩm, nhân vật văn học được chia thành nhân vật chính, nhân vật phụ; căn cứ vào đặc điểm của tính cách, việc truyền đạt lí tưởng của nhà văn, nhân vật văn học được chia thành nhân vật chính diện và nhân vật phản diện,… 1.
Nhân vật chính, nhân vật phụ Nhân vật chính là nhân vật đóng vai trò chủ chốt, xuất hiện nhiều, giữ vị trí then chốt của cốt truyện hoặc tuyến cốt truyện. Đó là con người liên can đến các sự kiện chủ yếu của tác phẩm, là cơ sở để tác giả triển khai đề tài cơ bản của mình. Nhân vật chính trong Một người Hà Nội của Nguyễn Khải là bà Hiền, nhân vật tôi,… đó là những người tham gia vào những sự kiện chính trong tác phẩm. Trong các nhân vật chính của tác phẩm lại có thể nhận thấy nổi lên những nhân vật trung tâm xuyên suốt tác phẩm về mặt ý nghĩa, đó là nơi quy tụ các mối mâu thuẫn của tác phẩm, là nơi thể hiện vấn đề trung tâm của tác phẩm.
Chẳng hạn như bà Bơ trong Nắng chiều, chị Khuê trong Người vợ, bà Hiền trong Một người Hà Nội. 7 Ngoài nhân vật chính, trong tác phẩm văn học còn có nhân vật phụ. Các nhân vật có tính cách, tình tiết như nhân vật “tôi” trong Một người Hà Nội, người vợ trong Cặp vợ chồng ở chân động Từ Thức, bà Xuân Thái trong Chuyện tình của mỗi người. Bên cạnh đó, còn có nhân vật phụ chỉ thấp thoáng trong các tình tiết như: Huy, Thành, Đồi trong Một thời gió bụi.
Nhân vật phụ mang các tình tiết, sự kiện, tư tưởng có tính chất phụ trợ, bổ sung, họ chẳng những là một bộ phận không thể thiếu trong bức tranh chung, mà nhiều khi, nhân vật phụ hàm chứa những tư tưởng quan trọng của tác phẩm. Nhân vật chính diện và nhân vật phản diện Xét về phương diện hệ giá trị, về quan hệ đối với lí tưởng, các nhân vật lại có thể chia ra thành nhân vật chính diện (còn gọi là nhân vật tích cực) và nhân vật phản diện (còn gọi là nhân vật tiêu cực). Sự phân biệt nhân vật chính diện và nhân vật phản diện gắn liền với những mâu thuẫn đối kháng trong đời sống xã hội, hình thành trên cơ sở đối lập về quan điểm tư tưởng và lí tưởng sống. Nhân vật chính diện mang lí tưởng, quan điểm tư tưởng, đạo đức tốt đẹp của thời đại.
Ngược lại, nhân vật phản diện lại mang những phẩm chất xấu xa, trái với đạo lí và lí tưởng, đáng lên án và phủ định. Hai loại nhân vật này luôn đối kháng nhau như nước với lửa và nó thường được in dấu rõ nét trong hệ thống các truyện cổ tích, truyền thuyết. Trong văn học hiện thực, nhiều khi không dễ dàng tách bạch nhân vật chính diện và phản diện. Theo Bakhtin “cần phải thống nhất trong bản thân mình vừa các đặc điểm chính diện lẫn đặc điểm phản diện, vừa cái tầm thường lẫn cái cao cả, vừa cái buồn cười lẫn cái nghiêm túc” [9,132].
Nhân vật phản diện trong văn học hiện thực nhiều khi không phải là do làm việc xấu, thiếu đạo đức, mà chủ yếu là do thiếu tính người, thiếu ý thức người. Nhân vật nữ Phụ nữ từ lâu được xem là biểu tượng của cái đẹp, hiện thân của sự sinh tồn và luân chuyển sự sống. Hình tượng người phụ nữ luôn là một đề tài quen thuộc nhất và dường như phụ nữ là một nguồn cảm hứng vô tận mà văn học muôn đời vẫn chưa khai thác hết. Văn học truyền thống Việt Nam mọi thời đều dụng công khám phá đề tài người phụ nữ.
Trong văn học dân gian, nhân vật nữ đại diện cho lí tưởng thẩm mĩ của nhân dân hiện lên trong các câu chuyện cổ tích thường có sốphận bi thảm nhưng luôn tỏa sáng những nét đẹp: hiền lành, chăm chỉ, giàu đức hi sinh, giàu lòng nhân ái và cuối cùng chắc chắn sẽ được hưởng hạnh phúc. Người phụ nữ trong ca dao lại mang vẻ đẹp đằm thắm ý nhị, dịu dàng và kín đáo nhưng đồng thời cũng là hiện thân cho những bi kịch, phải gánh chịu số phận bất hạnh, không có quyền tự quyết định cho cuộc đời mình. Đến văn học trung đại đã có biết bao tiếng nói xót xa, thương cảm cho thân phận người phụ nữ bị chà đạp, vùi dập trong xã hội phong kiến. Trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ là hình ảnh những người phụ nữ đức hạnh, đẹp người, tốt nết luôn khát khao một cuộc sống bình yên, hạnh phúc nhưng bị những thế lực cường quyền và cả thế lực phong kiến khắc nghiệt xô đẩy đến những cảnh ngộ éo le, ngang trái bất hạnh.
Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 tiếp tục khai thác đề tài về người phụ nữ. Sáng tác của Tự Lực Văn Đoàn, đặc biệt là của Nhất Linh đã xuất hiện hình ảnh những người phụ nữ mới, đòi quyền tự do yêu đương vượt lên mọi lễ giáo phong kiến như Nhung trong Lạnh lùng (Nhất Linh), Loan trong Đoạn tuyệt (Nhất Linh),… Văn học hiện thực phê phán giai đoạn này đi tìm hiểu những bi kịch khác nhau trong cuộc đời của người phụ nữ. Đó là cuộc đời đầy cơ cực, lắm đắng cay của chị Dậu trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Tám Bính trong Bỉ vỏ của Nguyên Hồng, hay thân phận của một “dị nữ” như 9 Thị Nở trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao. Người phụ nữ trong các tiểu thuyết, truyện ngắn của các nhà văn hiện thực hiện lên như một biểu tượng trong văn học về nỗi khổ đau, bất hạnh chồng chất của kiếp người và cuộc đời họ bao giờ cũng kết thúc trong sự tuyệt vọng, bế tắc.
Đến văn học giai đoạn 1945 - 1975, nhân vật nữ tiếp tục được phản ánh và được làm nổi bật trong mối quan hệ với các vấn đề chung của thời đại. Tắm mình trong bầu không khí hào hùng của dân tộc, người phụ nữ góp phần không nhỏ làm nên những chiến thắng vẻ vang. Đó là chị Sứ trong Hòn đất của Anh Đức, chị Út Tịch trong Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi, Nguyệt trong Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu. Có thể thấy, nhân vật nữ trong giai đoạn này là con người của cộng đồng, của xã hội, gắn với cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc được soi rọi dưới cái nhìn lí tưởng mang tính sử thi.
Sau năm 1985, văn học có xu hướng trở về cái đời thường muôn mặt, cảm hứng sử thi nhạt dần thay thế vào đó là cảm hứng thế sự - đời tư. Vấn đề các nhà văn quan tâm không phải là cuộc sống chiến đấu dũng cảm vì dân vì nước của người phụ nữ nữa mà là những lo toan thường nhật, nỗi đau đớn mất mát của họ. Nhân vật nữ xuất hiện đa dạng, phong phú và mỗi nhà văn tìm thấy cho mình một hướng đi riêng. Qua đây, chúng ta thấy hình tượng nhân vật nữ là hình tượng xuyên suốt và nổi bật trong nền văn học Việt Nam, gắn liền với sự vận động trong quan niệm nghệ thuật về con người qua các giai đoạn văn học.
Có một đặc điểm là người phụ nữ luôn là hình ảnh tích cực, được nhà văn gửi gắm nhiều tình cảm thương yêu trân trọng: nhẫn nại, đa cảm, thua thiệt và chủ động, đó dường như là nét tiêu biểu của nhân vật nữ trong văn học Việt Nam ở mọi thời. Có thể thấy, nhân vật nữ trong các tác phẩm văn học luôn mang trong mình thiên tính nữ. Theo tác giả Nguyễn Xuân Kháng “Thiên tính nữ đơn thuần là tính mềm mại, tính nhu, uyển chuyển của người phụ nữ” [3,164].