Phân tích sâu sắc nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Khải giai đoạn sau 1985

Khóa luận tốt nghiệp phân tích nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Khải sau 1985, khám phá sự thay đổi và ý nghĩa xã hội qua các tác phẩm.

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2017

56
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Lịch sử vấn đề

0.3. Mục đích nghiên cứu

0.4. Nhiệm vụ nghiên cứu

0.5. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

0.6. Đóng góp của khóa luận

0.7. Cấu trúc khóa luận

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THUYẾT CHUNG

1.1. Khái niệm và cách phân loại nhân vật văn học

1.1.1. Khái niệm nhân vật

1.1.2. Cách phân loại nhân vật văn học

1.1.2.1. Nhân vật chính, nhân vật phụ
1.1.2.2. Nhân vật chính diện và nhân vật phản diện

1.1.3. Nhân vật nữ

1.2. Khái quát cuộc đời và sự nghiệp nhà văn Nguyễn Khải

1.2.1. Khái quát cuộc đời

1.2.2. Sự nghiệp sáng tác

1.2.2.1. Giai đoạn trước năm 1978
1.2.2.2. Giai đoạn sau năm 1978

1.3. Khảo sát những truyện ngắn sau 1985 của Nguyễn Khải

2. CHƯƠNG 2: THẾ GIỚI NHÂN VẬT NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN KHẢI SAU 1985

2.1. Cách lựa chọn và thể hiện nhân vật nữ của Nguyễn Khải

2.2. Phẩm chất của nhân vật nữ

2.3. Nhân vật nữ với những khát vọng hằng thường

2.4. Nhân vật nữ trong các mối quan hệ

2.4.1. Nhân vật nữ trong mối quan hệ gia đình

2.4.2. Nhân vật nữ trong mối quan hệ xã hội

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN KHẢI SAU 1985

3.1. Ngôn ngữ nhân vật

3.2. Ngôn ngữ người kể chuyện

3.3. Giọng điệu xót xa, cảm thông chia sẻ

3.4. Giọng điệu hài hước, hóm hỉnh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Khải sau 1985

Nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Khải sau 1985 được khám phá ở nhiều chiều kích khác nhau. Họ là những người phụ nữ giữa bộn bề lo toan cuộc sống, khát vọng được yêu thương trọn vẹn, và hành trình tìm kiếm hạnh phúc đời thường. Mỗi nhân vật mang một số phận riêng, hoàn cảnh riêng, không ai giống ai. Qua mỗi trang viết, mỗi thân phận là bức thông điệp thú vị về cuộc sống, dù có đau đớn, mất mát nhưng vẫn thấm đẫm chất nhân văn. Nguyễn Khải đã khắc họa hình ảnh người phụ nữ với những nét đẹp, những cái chưa đẹp, và cả những cái cao cả nhưng rất đỗi đời thường.

1.1. Phẩm chất của nhân vật nữ

Phẩm chất của nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Khải được thể hiện qua sự hi sinh, lòng nhân ái, và khát vọng hạnh phúc. Những người phụ nữ như người mẹ trong 'Mẹ và các con' hi sinh cả đời vì con cái, hay người vợ trong 'Đời khổ' sống như nô lệ bên ông chồng gia trưởng. Họ là hiện thân của sự chịu đựng, nhưng cũng là biểu tượng của sự mạnh mẽ và kiên cường. Nguyễn Khải đã khéo léo lồng ghép những phẩm chất này vào từng nhân vật, tạo nên bức tranh đa dạng về người phụ nữ Việt Nam.

1.2. Nhân vật nữ trong các mối quan hệ

Nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Khải được đặt trong các mối quan hệ gia đình và xã hội. Trong gia đình, họ là người mẹ, người vợ với trách nhiệm và sự hi sinh vô bờ. Trong xã hội, họ là những người phụ nữ đấu tranh với số phận, tìm kiếm sự công bằng và hạnh phúc. Nguyễn Khải đã khắc họa rõ nét những mối quan hệ này, qua đó làm nổi bật vai trò và vị thế của người phụ nữ trong xã hội hiện đại.

II. Phương thức thể hiện nhân vật nữ

Phương thức thể hiện nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Khải sau 1985 được thể hiện qua ngôn ngữ nhân vật và giọng điệu trần thuật. Nguyễn Khải sử dụng ngôn ngữ giản dị, gần gũi để khắc họa tính cách và tâm lý nhân vật. Giọng điệu của ông thường mang sắc thái xót xa, cảm thông, chia sẻ với những số phận bất hạnh. Đồng thời, ông cũng sử dụng giọng điệu hài hước, hóm hỉnh để làm nổi bật những nét đẹp và sự mạnh mẽ của người phụ nữ.

2.1. Ngôn ngữ nhân vật

Ngôn ngữ nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Khải được sử dụng một cách tinh tế để thể hiện tính cách và tâm lý của nhân vật. Ngôn ngữ của người kể chuyện thường mang sắc thái cảm thông, chia sẻ với những số phận bất hạnh. Nguyễn Khải đã khéo léo sử dụng ngôn ngữ để làm nổi bật những nét đẹp và sự mạnh mẽ của người phụ nữ, qua đó tạo nên sự đồng cảm sâu sắc với độc giả.

2.2. Giọng điệu trần thuật

Giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Khải thường mang sắc thái xót xa, cảm thông với những số phận bất hạnh. Đồng thời, ông cũng sử dụng giọng điệu hài hước, hóm hỉnh để làm nổi bật những nét đẹp và sự mạnh mẽ của người phụ nữ. Nguyễn Khải đã khéo léo kết hợp các sắc thái giọng điệu để tạo nên sự đa dạng và phong phú trong cách thể hiện nhân vật.

III. Giá trị và ứng dụng thực tiễn

Giá trị của khóa luận tốt nghiệp về nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Khải sau 1985 nằm ở việc làm rõ hơn phong cách nghệ thuật của Nguyễn Khải trong việc xây dựng hình tượng nhân vật nữ. Khóa luận cũng là một tư liệu thiết thực và có ý nghĩa trong học tập và giảng dạy những tác phẩm có liên quan đến Nguyễn Khải ở môn Ngữ văn THPT. Qua đó, độc giả có thể hiểu rõ hơn về hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trong văn học hiện đại.

3.1. Giá trị học thuật

Giá trị học thuật của khóa luận tốt nghiệp nằm ở việc làm rõ hơn phong cách nghệ thuật của Nguyễn Khải trong việc xây dựng hình tượng nhân vật nữ. Khóa luận đã góp phần làm sáng tỏ những đóng góp của Nguyễn Khải đối với văn học Việt Nam hiện đại, qua đó khẳng định vị trí của ông trong nền văn học nước nhà.

3.2. Ứng dụng thực tiễn

Ứng dụng thực tiễn của khóa luận tốt nghiệp nằm ở việc cung cấp tư liệu thiết thực cho việc học tập và giảng dạy những tác phẩm có liên quan đến Nguyễn Khải ở môn Ngữ văn THPT. Qua đó, học sinh và giáo viên có thể hiểu rõ hơn về hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trong văn học hiện đại, đồng thời nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập môn Ngữ văn.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: GIỚI THUYẾT CHUNG 1. Khái niệm vàcách phân loại nhân vật văn học 1. Khái niệm nhân vật Theo Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán chủ biên) nhân vật văn học là con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học. Đó chính là nơi “tác giả gửi gắm thông điệp và độc giả tiếp nhận,“giải mã” những vấn đề hiện thực cốt yếu đặt ra trong tác phẩm” [5,235], nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó với con người có thật trong đời sống.

Chức năng cơ bản của nhân vật văn học là khái quát tính cách của con người. Nhân vật văn học còn thể hiện quan điểm nghệ thuật và lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn về con người. Vì thế, nhân vật luôn gắn chặt với chủ đề của tác phẩm. Theo cuốn Lí luận văn học (tập 2) (Trần Đình Sử chủ biên) nhân vật văn học là khái niệm dùng để chỉ hình tượng các cá thể con người trong tác phẩm văn học - cái đã được nhà văn nhận thức, tái tạo, thể hiện bằng các phương tiện riêng của nghệ thuật ngôn từ [8,114].

Nhân vật văn học luôn hiện hữu trong các tác phẩm văn học. Đó là những nhân vật có tên như Tấm, Cám, bà Hiền, chị Bơ. hay những nhân vật không tên như chị vợ của Tràng trong Vợ nhặt của Kim Lân, thằng bán tơ trong Truyện Kiều, nhân vật bà cô trong Nếp nhà của Nguyễn Khải. Nhân vật có thể được thể hiện bằng những hình thức khác nhau nhất.

Đó có thể là những con người được miêu tả đầy đặn cả ngoại hình lẫn nội tâm, có tính cách, có tiểu sử như một khách thể thường thấy trong tác phẩm tự sự, kịch. Đó có thể là những người thiếu hẳn những nét đó, nhưng lại có tiếng nói, giọng điệu, cái nhìn như nhân vật người trần thuật, hoặc chỉ có cảm xúc, nỗi niềm, ý nghĩ, cảm nhận như nhân vật trữ tình trong thơ trữ tình. 6 Nhân vật do đó không chỉ là hình thức cơ bản thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người mà còn là hình thức cơ bản để khái quát những qui luật của đời sống và là nơi tập trung mọi giá trị - tư tưởng của nghệ thuật. Qua nhân vật, người đọc có thể hiểu được tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm và cá tính sáng tạo của nhà văn.

Nhân vật là đứa con tinh thần, là sản phẩm, là vốn sống trực tiếp của nhà văn, là nơi thể hiện rõ nhất quan điểm nghệ thuật cũng như quan niệm của nhà văn về cuộc đời và con người. Cách phân loại nhân vật văn học Nhân vật văn học là một hiện tượng đa dạng cho nên các phương diện loại hình của nhân vật cũng hết sức đa dạng. Căn cứ vào những tiêu chí khác nhau, có thể phân chia thành các loại hình nhân vật khác nhau. Chẳng hạn, căn cứ vào vị trí đối với nội dung cụ thể, với cốt truyện của tác phẩm, nhân vật văn học được chia thành nhân vật chính, nhân vật phụ; căn cứ vào đặc điểm của tính cách, việc truyền đạt lí tưởng của nhà văn, nhân vật văn học được chia thành nhân vật chính diện và nhân vật phản diện,… 1.

Nhân vật chính, nhân vật phụ Nhân vật chính là nhân vật đóng vai trò chủ chốt, xuất hiện nhiều, giữ vị trí then chốt của cốt truyện hoặc tuyến cốt truyện. Đó là con người liên can đến các sự kiện chủ yếu của tác phẩm, là cơ sở để tác giả triển khai đề tài cơ bản của mình. Nhân vật chính trong Một người Hà Nội của Nguyễn Khải là bà Hiền, nhân vật tôi,… đó là những người tham gia vào những sự kiện chính trong tác phẩm. Trong các nhân vật chính của tác phẩm lại có thể nhận thấy nổi lên những nhân vật trung tâm xuyên suốt tác phẩm về mặt ý nghĩa, đó là nơi quy tụ các mối mâu thuẫn của tác phẩm, là nơi thể hiện vấn đề trung tâm của tác phẩm.

Chẳng hạn như bà Bơ trong Nắng chiều, chị Khuê trong Người vợ, bà Hiền trong Một người Hà Nội. 7 Ngoài nhân vật chính, trong tác phẩm văn học còn có nhân vật phụ. Các nhân vật có tính cách, tình tiết như nhân vật “tôi” trong Một người Hà Nội, người vợ trong Cặp vợ chồng ở chân động Từ Thức, bà Xuân Thái trong Chuyện tình của mỗi người. Bên cạnh đó, còn có nhân vật phụ chỉ thấp thoáng trong các tình tiết như: Huy, Thành, Đồi trong Một thời gió bụi.

Nhân vật phụ mang các tình tiết, sự kiện, tư tưởng có tính chất phụ trợ, bổ sung, họ chẳng những là một bộ phận không thể thiếu trong bức tranh chung, mà nhiều khi, nhân vật phụ hàm chứa những tư tưởng quan trọng của tác phẩm. Nhân vật chính diện và nhân vật phản diện Xét về phương diện hệ giá trị, về quan hệ đối với lí tưởng, các nhân vật lại có thể chia ra thành nhân vật chính diện (còn gọi là nhân vật tích cực) và nhân vật phản diện (còn gọi là nhân vật tiêu cực). Sự phân biệt nhân vật chính diện và nhân vật phản diện gắn liền với những mâu thuẫn đối kháng trong đời sống xã hội, hình thành trên cơ sở đối lập về quan điểm tư tưởng và lí tưởng sống. Nhân vật chính diện mang lí tưởng, quan điểm tư tưởng, đạo đức tốt đẹp của thời đại.

Ngược lại, nhân vật phản diện lại mang những phẩm chất xấu xa, trái với đạo lí và lí tưởng, đáng lên án và phủ định. Hai loại nhân vật này luôn đối kháng nhau như nước với lửa và nó thường được in dấu rõ nét trong hệ thống các truyện cổ tích, truyền thuyết. Trong văn học hiện thực, nhiều khi không dễ dàng tách bạch nhân vật chính diện và phản diện. Theo Bakhtin “cần phải thống nhất trong bản thân mình vừa các đặc điểm chính diện lẫn đặc điểm phản diện, vừa cái tầm thường lẫn cái cao cả, vừa cái buồn cười lẫn cái nghiêm túc” [9,132].

Nhân vật phản diện trong văn học hiện thực nhiều khi không phải là do làm việc xấu, thiếu đạo đức, mà chủ yếu là do thiếu tính người, thiếu ý thức người. Nhân vật nữ Phụ nữ từ lâu được xem là biểu tượng của cái đẹp, hiện thân của sự sinh tồn và luân chuyển sự sống. Hình tượng người phụ nữ luôn là một đề tài quen thuộc nhất và dường như phụ nữ là một nguồn cảm hứng vô tận mà văn học muôn đời vẫn chưa khai thác hết. Văn học truyền thống Việt Nam mọi thời đều dụng công khám phá đề tài người phụ nữ.

Trong văn học dân gian, nhân vật nữ đại diện cho lí tưởng thẩm mĩ của nhân dân hiện lên trong các câu chuyện cổ tích thường có sốphận bi thảm nhưng luôn tỏa sáng những nét đẹp: hiền lành, chăm chỉ, giàu đức hi sinh, giàu lòng nhân ái và cuối cùng chắc chắn sẽ được hưởng hạnh phúc. Người phụ nữ trong ca dao lại mang vẻ đẹp đằm thắm ý nhị, dịu dàng và kín đáo nhưng đồng thời cũng là hiện thân cho những bi kịch, phải gánh chịu số phận bất hạnh, không có quyền tự quyết định cho cuộc đời mình. Đến văn học trung đại đã có biết bao tiếng nói xót xa, thương cảm cho thân phận người phụ nữ bị chà đạp, vùi dập trong xã hội phong kiến. Trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ là hình ảnh những người phụ nữ đức hạnh, đẹp người, tốt nết luôn khát khao một cuộc sống bình yên, hạnh phúc nhưng bị những thế lực cường quyền và cả thế lực phong kiến khắc nghiệt xô đẩy đến những cảnh ngộ éo le, ngang trái bất hạnh.

Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 tiếp tục khai thác đề tài về người phụ nữ. Sáng tác của Tự Lực Văn Đoàn, đặc biệt là của Nhất Linh đã xuất hiện hình ảnh những người phụ nữ mới, đòi quyền tự do yêu đương vượt lên mọi lễ giáo phong kiến như Nhung trong Lạnh lùng (Nhất Linh), Loan trong Đoạn tuyệt (Nhất Linh),… Văn học hiện thực phê phán giai đoạn này đi tìm hiểu những bi kịch khác nhau trong cuộc đời của người phụ nữ. Đó là cuộc đời đầy cơ cực, lắm đắng cay của chị Dậu trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Tám Bính trong Bỉ vỏ của Nguyên Hồng, hay thân phận của một “dị nữ” như 9 Thị Nở trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao. Người phụ nữ trong các tiểu thuyết, truyện ngắn của các nhà văn hiện thực hiện lên như một biểu tượng trong văn học về nỗi khổ đau, bất hạnh chồng chất của kiếp người và cuộc đời họ bao giờ cũng kết thúc trong sự tuyệt vọng, bế tắc.

Đến văn học giai đoạn 1945 - 1975, nhân vật nữ tiếp tục được phản ánh và được làm nổi bật trong mối quan hệ với các vấn đề chung của thời đại. Tắm mình trong bầu không khí hào hùng của dân tộc, người phụ nữ góp phần không nhỏ làm nên những chiến thắng vẻ vang. Đó là chị Sứ trong Hòn đất của Anh Đức, chị Út Tịch trong Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi, Nguyệt trong Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu. Có thể thấy, nhân vật nữ trong giai đoạn này là con người của cộng đồng, của xã hội, gắn với cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc được soi rọi dưới cái nhìn lí tưởng mang tính sử thi.

Sau năm 1985, văn học có xu hướng trở về cái đời thường muôn mặt, cảm hứng sử thi nhạt dần thay thế vào đó là cảm hứng thế sự - đời tư. Vấn đề các nhà văn quan tâm không phải là cuộc sống chiến đấu dũng cảm vì dân vì nước của người phụ nữ nữa mà là những lo toan thường nhật, nỗi đau đớn mất mát của họ. Nhân vật nữ xuất hiện đa dạng, phong phú và mỗi nhà văn tìm thấy cho mình một hướng đi riêng. Qua đây, chúng ta thấy hình tượng nhân vật nữ là hình tượng xuyên suốt và nổi bật trong nền văn học Việt Nam, gắn liền với sự vận động trong quan niệm nghệ thuật về con người qua các giai đoạn văn học.

Có một đặc điểm là người phụ nữ luôn là hình ảnh tích cực, được nhà văn gửi gắm nhiều tình cảm thương yêu trân trọng: nhẫn nại, đa cảm, thua thiệt và chủ động, đó dường như là nét tiêu biểu của nhân vật nữ trong văn học Việt Nam ở mọi thời. Có thể thấy, nhân vật nữ trong các tác phẩm văn học luôn mang trong mình thiên tính nữ. Theo tác giả Nguyễn Xuân Kháng “Thiên tính nữ đơn thuần là tính mềm mại, tính nhu, uyển chuyển của người phụ nữ” [3,164].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Phân tích nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Khải sau 1985" mang đến cái nhìn sâu sắc về hình tượng nhân vật nữ trong tác phẩm của nhà văn Nguyễn Khải, đặc biệt là sau năm 1985. Tác giả không chỉ phân tích các đặc điểm tâm lý, tính cách mà còn làm nổi bật vai trò của những nhân vật này trong việc phản ánh xã hội và văn hóa Việt Nam thời kỳ đổi mới. Qua đó, bài viết giúp độc giả hiểu rõ hơn về sự phát triển của nhân vật nữ trong văn học, cũng như những thông điệp sâu sắc mà tác giả muốn truyền tải.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về các tác phẩm văn học khác, hãy tham khảo thêm bài viết Luận văn thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Võ Hồng, nơi khám phá nghệ thuật và phong cách của một tác giả khác trong cùng thời kỳ. Bên cạnh đó, bài viết Luận văn thạc sĩ khoa học xã hội và nhân văn thế giới nghệ thuật truyện ngắn Bảo Ninh sẽ giúp bạn hiểu thêm về cách mà các nhà văn khác đã xây dựng nhân vật và nghệ thuật trong tác phẩm của họ. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu về Khóa luận tốt nghiệp Hoa dọc chiến hào của Xuân Quỳnh từ góc nhìn thẩm mỹ, một tác phẩm nổi bật khác, để thấy được sự đa dạng trong cách thể hiện nhân vật nữ trong văn học Việt Nam.