mở đầu, có kết thúc. Người ta có thể miêu tả thời gian đúng như tiến trình tự nhiên khách quan của nó, nhưng người ta cũng có thể miêu tả các đoạn thời gian cách quãng (bỏ qua những khoảng cách lớn về thời gian giữa các lớp, các màn kịch hoặc giữa các chương tiểu thuyết). Sự khác nhau giữa thời gian nghệ thuật trong văn học với thời gian thực tại (vật lí) ở chỗ thời gian nghệ thuật là cảm nhận của con người, tùy vào tâm trạng con người mà thời gian nhanh hay chậm. Thời gian nghệ thuật không chỉ được tạo thành bởi các quan hệ các sự kiện, các đoạn thời gian của sự kiện mà còn được tạo thành bởi sự tương quan của thời gian trần thuật.
Thời gian trần thuật không có nhịp độ riêng: nhanh, chậm hay ngừng trôi đó chỉ là cảm giác chủ quan của con người. Theo Lê Thị Tuyết Hạnh: “Truyện xét về mặt sự kiện bao giờ cũng được xem là kết thúc, là đã thuộc về quá khứ so với hành vi kể (hành vi trần thuật). Do vậy, truyện bao giờ cũng là những truyện được kể lại. Rõ ràng phải có một người kể, một thời gian kể tồn tại để làm nên truyện.
Thời gian người kể thực hiện hành vi kể chuyện, kể lại câu chuyện cho tất cả các thính giả hoặc độc giả của mình (tức là thời gian nói hoặc viết)” [7; tr. Vì vậy, thời gian trần thuật không đảo ngược chỉ có một thời gian ở hiện tại, đó là thời gian nhà văn bỏ ra kể một câu chuyện mà bản thân sự kể chuyện đã là một nghệ thuật. Tuy việc trần thuật là không có nhịp độ, nhưng trong từng tác phẩm cụ thể, ta cũng dễ dàng nhận ra nhịp độ thời gian có lúc nhanh lúc chậm, lúc đều đặn, êm đềm hay biến động căng thẳng. Thời gian trong văn chương không giống với thời gian khách quan vì nó được chi phối bởi chủ quan của tác giả cho nên nó có thể được ép mỏng hay kéo căng thời gian ra tuỳ theo dụng ý nghệ thuật của mình.
Có thể là một sự kiện nhỏ xảy ra trong một ngày nhưng nhà văn có thể miêu tả và kéo dài thời gian của sự kiện đó ra hàng chục trang giấy trong vài ba chương. Và 18 ngược lại, có khi biến cố cả cuộc đời của nhân vật mà tác giả chỉ dồn nén trong một thời gian ngắn. Việc dồn nén hay kéo căng thời gian sự kiện trong văn chương tùy theo ý muốn chủ quan của tác giả. Điều đó mang lại một ý nghĩa thẩm mĩ, tạo cho bạn đọc có những cảm giác thật như chính bản thân mình cũng đang sống trong tác phẩm.
Nhịp độ thời gian nhân vật thường phù hợp với nhịp điệu thời gian sự kiện. Khi thời gian sự kiện gấp khúc, dồn dập thì thời gian hành động của nhân vật luôn hối hả khẩn trương. Chẳng hạn, trong Vợ Nhặt của Kim Lân: sự kiện nạn đói năm 1945 ào ạt tràn đến đã làm thay đổi tính cách của các nhân vật. Chỉ với bốn bát bánh đúc và những lời đùa cợt, bông đùa mà Tràng và người phụ nữ không tên đã trở thành vợ chồng.
Qua những chi tiết đó, đã cho chúng ta thấy một xã hội nghèo nàn, đói rách … Ngược lại, khi sự kiện trì chậm thì nhịp điệu thời gian cũng thong thả và thư thái. Thời gian nhân vật trong một tác phẩm là rất quan trọng, nó làm cho người đọc ý thức được sự tồn tại của nhân vật. Sự kết hợp giữa thời gian được trần thuật và thời gian trần thuật đã làm nên chỉnh thể thời gian nghệ thuật trong tác phầm. Thời gian trần thuật chịu sự chi phối của tác giả, nó chỉ có thể ở hiện tại chứ không thể đảo ngược được.
Thời gian trần thuật thường ngắn hơn thời gian được trần thuật. Tuy nhiên có lúc thời gian được trần thuật ít hơn thời gian trần thuật. Đó là những lúc nhà văn dừng lại miêu tả thiên nhiên, tâm trạng con người, thời gian dường như ngừng trôi nhưng thời gian kể chuyện thì cứ trôi đi. Nó cho thấy điểm nhìn của tác giả, có hiệu lực thẩm mĩ riêng.
Điểm nhìn ở đây là cách lựa chọn thời gian phù hợp của tác giả khi kể chuyện. Điểm nhìn của tác giả (người kể) vừa mang tính chủ quan lại vừa mang tính khách quan. Vì vậy, người kể phải sắp xếp bố cục các sự kiện đó sao cho phù hợp nhưng ít nhiều có liên quan đến quan điểm lập trường chính trị xã hội của nhà văn, ngay từ 19 điểm nhìn xuất phát của hiện thực được lựa chọn. Tất cả những gì mà người kể có thể cảm nhận, chứng kiến trong thế giới đều được họ thuật lại chi tiết.
Qua điểm nhìn đã cho thấy vị trí mà người kể dựa vào để quan sát và thuật lại các sự kiện, các nhân vật trong tác phẩm của họ. Điểm nhìn thời gian là tác giả đứng ở thời hiện tại dõi theo những sự kiện đang diễn ra, hoặc có thể ngược dòng nhìn lại quá khứ rồi sau đó kể lại câu chuyện bằng điểm nhìn hiện tại. Điểm nhìn trần thuật gắn bó mật thiết với ngôi kể, nhưng rộng hơn ngôi kể. Bởi vì có khi truyện kể theo ngôi thứ ba, nhưng nhiều khi ngôi thứ ba kết hợp điểm nhìn của nhân vật.
Có những lúc, thời gian xuất hiện trong tác phẩm không phải là thời gian nghệ thuật. Nó chỉ trở thành thời gian nghệ thuật khi được kết hợp với kết cấu, cốt truyện, … qua đó cho thấy quan niệm của nhà văn về con người, về cuộc đời. Tóm lại, khi nghiên cứu thời gian nghệ thuật, cần quan tâm tới mối liên hệ giữa thời gian trần thuật và thời gian được trần thuật. Chính sự so le của thời gian cho ta thấy tác giả tập trung phản ánh thời điểm nào của nhân vật hay sự kiện.
Thời gian nghệ thuật đã góp phần làm cho tác phẩm trở nên sinh động, hấp dẫn hơn. Không gian nghệ thuật. Khái niệm không gian nghệ thuật. Từ điển thuật ngữ văn học đã nêu lên: “Không gian nghệ thuật là hình thức bên trong của hiện tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó.
Sự miêu tả, trần thuật trong nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn, diễn ra trong những trường nhìn nhất định, qua đó thế giới nghệ thuật cụ thể, cảm tính bộc lộ toàn bộ quảng tính của nó: cái này bên cạnh cái kia, liên tục, cách quãng, tiếp nối, cao, thấp, xa, gần, rộng, dài, tạo thành viễn cảnh nghệ thuật. Không gian nghệ thuật gắn với cảm thụ về không gian, nên mang tính 20 chủ quan. “Không gian nghệ thuật có tính độc lập tương đối, không quy được vào không gian địa lí. Không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học có tác dụng mô hình hoá các mối liên hệ của bức tranh thế giới như thời gian, xã hội, đạo đức, tôn ti trật tự.
Không gian nghệ thuật có thể mang tính địa điểm, phân giới (dùng để mô hình hoá các phạm trù thời gian như bước đường đời, con đường cách mạng), có thể mang tính cản trở (để mô hình hoá các kiểu tính cách con người), có thể là không có tính cản trở (như trong cổ tích làm cho ước mơ, công lí được thực hiện dễ dàng). Ngôn ngữ của không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn chương rất đa dạng và phong phú. Các cặp phạm trù cao – thấp, xa – gần, rộng – hẹp, cong – thẳng, bên này – bên kia, vững chắc – bập bênh, ngay - lệch … đều được dùng để biểu hiện các phạm vi giá trị phẩm chất của đời sống xã hội. Không gian nghệ thuật chẳng những cho thấy cấu trúc nội tại của tác phẩm văn học, các ngôn ngữ tượng trưng, mà còn cho thấy quan niệm về thế giới chiều sâu cảm thụ của tác giả hay của một giai đoạn văn học.
Nó cung cấp cơ sở khách quan để khám phá tính độc đáo cũng như nghiên cứu loại hình của các hiện tượng nghệ thuật. Các loại không gian nghệ thuật. a, Không gian bối cảnh. Không gian trong tác phẩm văn học được phân biệt rõ với không gian vật chất bên ngoài.
Xuất hiện trong các tác phẩm văn chương nghệ thuật là không gian bối cảnh. Đó là nơi mà các sự kiện, hoạt động diễn ra. Không gian bối cảnh có thể là bối cảnh thiên nhiên hay bối cảnh xã hội, mở hay khép, động hay tĩnh. Không gian thiên nhiên bao gồm núi, sông, cây cối, … những sự vật đó vận động theo quy luật của tạo hóa, tuy nhiên nhờ có sự cải tạo của con người đã thành mái trường, con đường, bờ đê, … Con người sống trong thế giới vì vậy thiên nhiên hiện lên gắn bó mật thiết với nhân vật từ cử chỉ, cách cảm, 21 cách nghĩ đồng thời gây hứng thú cho người đọc, người kể.
Thiên nhiên có thể rộng lớn như “Trời thu xanh ngắt mấy từng cao” hay cũng có thể nhỏ bé như “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo”. Không chỉ là thiên nhiên rộng lớn bao la, trong văn chương nghệ thuật còn có không gian nhỏ hẹp như ao làng, giếng nước, hồ vườn, quán nước, bờ rào, … Không gian không chỉ còn là cái phông nền cho tác phẩm mà nó đã mang tính nghệ thuật, biểu đạt chủ đề của tác phẩm. Thiên nhiên trong thơ trữ tình rất nên thơ “Thi trung hữu họa”, chỉ bằng vài dòng thơ thi nhân đã làm hiện lên thiên nhiên tươi đẹp: “Trong làn nắng ửng khói mơ tan Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng Sột soạt gió trêu tà áo biếc Trên giàn thiên lí bóng xuân sang” (Mùa xuân chín – Hàn Mặc Tử) Còn trong văn xuôi lãng mạn, thiên nhiên được vẽ bằng những nét bút tuyệt đẹp. Trong Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng, thiên nhiên hiện lên “phía tây sau dãy đồi cỏ biếc, sắc trời đỏ ửng lấp loáng qua các khe đám lá xanh đen.
Mái chùa rêu phong đã lẫn màu cùng đất, cùng cây, cùng cỏ. Khoảnh khắc, mấy bức tường và mấy cái cột gạch quét vôi chỉ còn lờ mờ in hình trong cái cảnh nhuộm đồng một màu tím thẫm” [10, tr. Bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp vừa có nét cổ kính rêu phong, vừa có nét hiện đại của tường vôi trắng. Khoảnh khắc thiên nhiên ở đây đang chuyển giao giữa ngày và đêm, sáng và tối; dường như Khái Hưng muốn giới thiệu cho bạn đọc biết chính nơi yên tĩnh đượm mùi thiền của Phật giáo này sẽ nảy sinh một mối tình đẹp đẽ thanh cao giữa chú tiểu Lan và Ngọc.
Cảnh vật thiên nhiên hiện lên rất chân thực đồng thời nó còn giúp cho bạn đọc cảm nhận sâu sắc những diễn biến tâm lí của nhân vật.