Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chương 2: Diễn ngôn phƣơng Tây – phƣơng Đông của Phạm Quỳnh Chương 3: Diễn ngôn phƣơng Tây – phƣơng Đông của Nhất Linh. luan an 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cở sở lý luận 1. Khái niệm “Diễn ngôn” của Micheal Foucault và những định hướng ứng dụng 1 Trong các ngành khoa học xã hội nhân văn, diễn ngôn là một khái niệm đƣợc sử dụng với nhiều quan điểm phức tạp nhƣ quan điểm của David Crystal và Micheal Stubbs - phát triển theo quan điểm của F.
de Sausure hay quan điểm của Bakhtin về các thể loại lời nói… Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận án, khái niệm diễn ngôn đƣợc sử dụng với ý nghĩa bắt nguồn từ quan niệm của Micheal Foucault và nhắc đến diễn ngôn theo quan điểm của Foucault, chúng ta thấy có ba điểm cần lƣu ý: Ở điểm thứ nhất, theo Foucault, diễn ngôn bao gồm “tất cả các nhận định nói chung” - “tất cả các phát ngôn hoặc văn bản mang nghĩa và có một hiệu lực giúp chúng ta nhận thức về thế giới. Foucault không phủ nhận thực tại khách quan. Ông thừa nhận có một khu vực ngoài diễn ngôn (non-discursive) nhƣng chỉ có điều ông lƣu ý rằng chúng ta không cách nào chạm đƣợc vào thế giới khách thể một cách trực tiếp. Chúng ta chỉ biết về nó một cách có hệ thống và có ý nghĩa thông qua hệ thống những diễn ngôn.
Đối với Foucault, “một diễn ngôn là một khu vực đƣợc đóng khung chặt chẽ bởi khung kiến thức xã hội, là một hệ thống các phát ngôn mà trong đó thế giới có thể đƣợc biểu hiện. Mấu chốt của vấn đề là ở chỗ: thế giới không phải chỉ đơn giản là "ở đó" [có sẵn] để đƣợc nói đến, đúng hơn là chính thông qua diễn ngôn thế giới đƣợc biểu hiện” [149, 71]. Chính các diễn ngôn đã hình thành cảm quan của chúng ta về thực tại. Cũng chính nhờ diễn ngôn mà cả ngƣời nói - ngƣời nghe, ngƣời viết - ngƣời đọc đến với một sự hiểu biết về bản thân, mối quan hệ của họ với nhau và vị trí của họ trong thế giới (xây dựng tính chủ quan).
Đây là "sự phức hợp của các ký hiệu và thực hành cái mà thiết lập nên tồn tại xã hội và tái thiết lập xã hội" [149, 71]. Chúng ta có thể thấy rõ điều này khi tìm hiểu lịch sử khái niệm phƣơng Tây – 1 Phần này được dẫn nhập từ mục từ Discourse trong Key Concepts In Post–colonial Studies, của Bill Ashcroft, Gareth Griffiths and Helen Tiffin Routledge xuất bản, 2001; tham khảo thêm các tài liệu số [62], [139] trong Thư mục tham khảo. luan an 8 phƣơng Đông 2. Đọc bộ tiểu thuyết nổi tiếng của tác giả Ngô Thừa Ân Tây du ký, chúng ta hiểu rằng đối với ngƣời Trung Hoa và ngƣời Việt xƣa, phƣơng Tây là Ấn Độ.
Ngƣời Hy lạp cổ đại cũng từng tự cho mình là trung tâm của vũ trụ, họ hoàn toàn chƣa biết đến những "tân châu lục" nên họ đã gọi các khu vực ở phía đông của mình tức là phía mặt trời mọc là phƣơng Đông, còn gọi các khu vực ở phía Tây của mình tức là phía mặt trời lặn là phƣơng Tây. Phƣơng Đông trong tiếng Anh là Orient - một thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng Latin oriens - hƣớng đông, nghĩa bóng là sự mọc lên, ám chỉ hướng đông – hướng mặt trời mọc, phƣơng Tây là Occident - một thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng Latin occidens - hƣớng tây, nghĩa bóng là sự hạ/lặn xuống, ám chỉ hướng tây – hướng mặt trời lặn. Khái niệm Phƣơng Đông đƣợc quan niệm ngày một rộng ra. Trong lịch sử thế giới, đối với khảo cổ học châu Âu, phƣơng Đông thời Thƣợng cổ bao gồm: những nền văn minh phát triển ở bờ Địa Trung Hải phía Đông (Ba Tƣ, Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập.) - Trung cận Đông ngày nay nói chung.
Khái niệm phƣơng Đông ngày nay bao gồm châu Á và phần Đông Bắc châu phi chia thành các khu vực nhỏ khác nhau. Nói đến Phƣơng Đông là nói đến nền văn minh châu thổ với bốn nền văn hóa văn minh cổ đại lớn (Ai Cập, Lƣỡng Hà, Ấn Độ và Trung Quốc). Tƣơng tự nhƣ vậy, trƣớc đây phƣơng Tây để chỉ châu Âu với nền văn minh Hy Lạp và La Mã. Sau này khái niệm phƣơng Tây bao gồm các quốc gia châu Âu và các quốc gia có nguồn gốc thuộc địa châu Âu ở châu Mỹ và châu Đại Dƣơng.
Rõ ràng không phải tồn tại một “Phƣơng Đông” hay “Phƣơng Tây” “có sẵn” “bất biến” để chúng ta nhận thức về mà khái niệm phƣơng Đông – phƣơng Tây trƣớc hết mang tính quy ƣớc chỉ phƣơng hƣớng, chỉ ranh giới địa lí của những cộng đồng ngƣời trong quá trình nhận thức về thế giới và các khái niệm này. Phƣơng Đông – phƣơng Tây chỉ thực sự trở thành những khái niệm định danh một nhóm các dân tộc – những cộng đồng có quan hệ mật thiết trên các phƣơng diện nguồn gốc, lịch sử, văn hóa và ngôn ngữ nhƣ chúng ta biết hiện nay khi chủ nghĩa tƣ bản phát triển ở phƣơng Tây. Vì thế, quá trình định hình khái niệm Phƣơng Đông và phƣơng Tây gắn liền với quá trình ngƣời phƣơng Tây khám phá thế giới để khai thác kinh tế và chiếm thuộc địa. Theo bƣớc chân khám phá thế giới và xâm chiếm thuộc địa của 2 Dẫn nhập từ chƣơng II trong tài liệu số [83].
luan an 9 các nƣớc phƣơng Tây, những thuật ngữ này đã đến với các nƣớc phƣơng Đông và trở nên phổ biến đến ngày hôm nay. Điểm lƣu ý thứ hai của Foucault về diễn ngôn là: diễn ngôn có thể tồn tại trong một hệ thống - một nhóm những nhận định đƣợc tổ chức theo một cách thức nào đó, có một mạch lạc và một hiệu lực chung. Ví dụ: diễn ngôn thuộc địa, diễn ngôn nữ quyền, diễn ngôn tính dục, diễn ngôn đồng tính…Diễn ngôn trong cách hiểu này vì thế đƣợc dùng ở số nhiều (discourses). Cũng trong cách hiểu này, Foucault có mở rộng khái niệm diễn ngôn khi lƣu ý đến diễn ngôn điện ảnh, diễn ngôn âm nhạc, diễn ngôn hội họa… khi chúng cùng có mục đích biểu đạt chung trong một nhóm chủ đề.
Điều lƣu ý thứ ba của Foucault về diễn ngôn là những qui tắc và cấu trúc tạo ra những nhận định, những diễn ngôn cụ thể. Với Foucault, nhận diện diễn ngôn đã quan trọng nhƣng quan trọng hơn là sự kiểm soát, điều chỉnh các hoạt động tạo lập – luân chuyển của diễn ngôn. Lƣu ý thứ ba này sẽ dẫn đến phạm trù mà Foucault đặc biệt quan tâm là mối quan hệ tay ba giữa diễn ngôn – tri thức và quyền lực. Các diễn ngôn có vai trò hợp pháp hóa, tạo lập nên những sự thật hiện hành – tri thức hệ (nền tảng tƣ tƣởng mà nó chứ không phải các tƣ tƣởng khác trong thời điểm đó đƣợc thừa nhận là tri thức - vừa cho phép chúng ta nhận thức về thực tại, vừa giới hạn tƣ duy của chính chúng ta) bởi những liên hệ quyền lực đi kèm theo chúng.
Diễn ngôn theo Foucault liên quan đến quyền lực vì nó hiện diện theo nguyên tắc loại trừ. Khi một diễn ngôn đƣợc phát biểu với quyền lực và khung tri thức gắn liền với nó, nó có thể loại trừ các diễn ngôn khác. Ngƣời viết/ ngƣời nói luôn luôn có “căn cứ” để trở thành “đúng đắn”. Thực chất, việc định hình một diễn ngôn, cũng chính là thiết lập một quan hệ quyền lực: giữa ngƣời thiết lập và kẻ bị thiết lập, giữa ngƣời thống trị và kẻ bị gạt bỏ.
Diễn ngôn bị chi phối bởi đối tƣợng (cái đƣợc nói đến), trình tự, nơi chốn, cách thức nó đƣợc phát ngôn và đặc quyền (quyền ƣu tiên - ai là ngƣời có thể nói). Theo Foucault, tri thức thƣờng là sản phẩm của sự chinh phục các đối tƣợng, hoặc nó có thể đƣợc coi nhƣ tiến trình mà qua đó các chủ thể đƣợc thiết lập nhƣ là kẻ bị chinh phục. Chẳng hạn diễn ngôn của thực dân là một công cụ giá trị để mô tả hệ thống mà trong đó một loạt các thực hành đƣợc gọi là “thuộc địa” hình thành. Diễn ngôn thực dân hành chức nhƣ một phƣơng tiện quyền lực phục vụ luan an 10 những mƣu đồ của thực dân vì thế chúng có xu hƣớng loại trừ những phát ngôn tố cáo tội ác của thực dân mà chú trọng hơn đến diễn ngôn khai hóa để hợp thức hóa quan hệ thực dân - thuộc địa.
Chính quyền lực từ diễn ngôn thực dân đã loại trừ những phát ngôn mang ý nghĩa trái ngƣợc – ví dụ diễn ngôn đến từ các dân tộc là thuộc địa. Theo Foucault, mỗi một thời điểm khác nhau trong lịch sử, quyền lực và tri thức hệ lại có sự thay đổi bởi ngƣời nắm quyền lực (tại thời điểm đó) là ngƣời tạo ra tri thức. Chân lý hay bản chất đều đƣợc tạo ra do các diễn ngôn vì vậy chúng không thuộc phạm trù đúng - sai. Điều mà Foucault quan tâm không phải là điều gì là sự thật mà là “cái đƣợc gọi là sự thật” đƣợc nói ra nhƣ thế nào (how can the truth be told?).
Tuy nhiên, Foucault cũng nhấn mạnh: ở đâu có sự thống trị, ở đó có sự phản kháng (vì quyền lực không chỉ có một chiều từ trên xuống mà còn đi từ dƣới lên). Vì vậy, nghiên cứu diễn ngôn không phải chỉ là nghiên cứu tri thức đƣợc kiến tạo bởi những ngƣời nắm giữ quyền lực mà một nhiệm vụ rất quan trọng là nghiên cứu diễn ngôn từ nhóm yếu thế nhƣ “giới nữ”, “giới tính thứ ba”, “dân tộc thiểu số”, “thuộc địa”, … Tựu chung lại, quan niệm của Foucault đã tạo ra những thay đổi lớn trong tƣ duy về thế giới – thế giới đƣợc tạo lập từ những văn bản và ảnh hƣởng sâu đậm đến nghiên cứu văn học khi văn học đƣợc đặt trong mối liên hệ tổng thể với những diễn ngôn thuộc các lĩnh vực khác cùng chịu những tác động của quyền lực – tri thức trong thời đại diễn ngôn đƣợc thực hiện (nhƣ đạo đức, tôn giáo hay triết học, …). Chúng ta không chỉ tìm hiểu văn bản nhƣ những hình thức ngôn từ mà còn cố gắng nghiên cứu các cơ chế tạo lập, tác động, chi phối chúng. Bởi diễn ngôn đóng vai trò trung gian, là đƣờng dẫn của nhiều tƣơng quan quyền lực và tri thức (Tham khảo thêm tài liệu số [139]).
Nghiên cứu của Foucault làm dấy lên những hoài nghi về những sự thật đã đƣợc kiến tạo bởi những ngƣời nắm giữ quyền lực nhƣ thực dân, ngƣời da trắng, nam giới, ….