Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Diễn ngôn phương Tây - phương Đông của Phạm Quỳnh và Nhất Linh" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Lê Thị Vân Anh tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (chuyên ngành Văn học Việt Nam, mã số: 9.21), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Đình Chú và PGS.TS. Trần Văn Toàn, bảo vệ năm 2019.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX vận động dựa trên nền tảng cuộc tiếp xúc giữa phương Đông và phương Tây, trọng tâm là trục quan hệ Pháp - Việt. Cuộc tiếp xúc này đặt người Việt vào tình thế phải nhận thức lại về "kẻ khác" (phương Tây / thực dân Pháp) và "chính mình" (phương Đông / dân tộc Việt Nam), qua đó hình thành các hệ thống diễn ngôn về bản sắc, dân tộc, văn minh và hiện đại. Phạm Quỳnh (1892 - 1945) và Nhất Linh (1906 - 1963) là hai gương mặt trí thức tiêu biểu, đại diện cho hai thế hệ trí thức hoạt động công khai tiếp nối nhau: thế hệ 1907 và thế hệ 1925.

Cả hai tác giả đều chịu ảnh hưởng trực tiếp từ văn hóa phương Tây, sử dụng phương tiện truyền thông hiện đại (báo chí, dịch thuật, trước thuật, sáng tác văn học) để can dự vào đời sống xã hội, kiến tạo ý niệm cộng đồng và tìm kiếm giải pháp dung hòa Đông - Tây. Tuy nhiên, trong lịch sử tiếp nhận, cả hai nhân vật đều phải chịu những đánh giá trái chiều, thậm chí khen - chê đối lập gay gắt gắn liền với các biến động chính trị. Khoảng trống nghiên cứu mà tác giả luận án chỉ ra là: trước đây chưa có công trình chuyên biệt nào đặt đồng thời Phạm Quỳnh và Nhất Linh vào cùng một trục nghiên cứu diễn ngôn dưới góc độ lý thuyết văn hóa hậu thuộc địa, nhằm chỉ ra sự tương đồng, khác biệt và sự tiếp biến văn hóa giữa hai thế hệ trí thức thuộc địa trong nỗ lực tìm kiếm con đường phát triển cho dân tộc.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Văn bản luận án xác định mục đích và các nhiệm vụ cụ thể được đánh số và phân định như sau:

Mục đích nghiên cứu: Thông qua lý thuyết nghiên cứu diễn ngôn của Michel Foucault kết hợp vận dụng các kết quả nghiên cứu của chủ nghĩa hậu thuộc địa để tìm hiểu thái độ ứng xử với phương Tây của Phạm Quỳnh và Nhất Linh, từ đó nghiên cứu sâu hơn ý niệm về phương Đông, về dân tộc và nỗ lực kiến tạo con đường đi cho tương lai văn hóa dân tộc của hai tác giả; thuật tả khách quan, nguyên trạng ngữ nghĩa văn bản để chỉ ra sự tương đồng và tiếp biến văn hóa giữa hai thế hệ.

Nhiệm vụ chính:

  1. Thuật tả, làm rõ nội dung diễn ngôn Đông - Tây của Phạm Quỳnh: nhận thức về phương Tây, nhận thức về phương Đông, nỗ lực kiến tạo diện mạo mới cho văn hóa dân tộc (chủ yếu trên phương diện định hướng tư tưởng).
  2. Thuật tả, làm rõ nội dung diễn ngôn Đông - Tây của Nhất Linh: nhận thức về phương Tây, nhận thức về phương Đông, nỗ lực kiến tạo diện mạo mới cho văn hóa dân tộc (chủ yếu trên phương diện thực hành văn hóa, văn học).
  3. So sánh để nhận ra những điểm tương đồng và những điểm tiếp biến trong diễn ngôn phương Đông, phương Tây của Phạm Quỳnh và Nhất Linh.

Nhiệm vụ bổ trợ:

  1. Tìm hiểu nội hàm của hai khái niệm phương Đông và phương Tây trong vận động lịch sử.
  2. Tìm hiểu lý thuyết diễn ngôn của Michel Foucault và một số kết quả nghiên cứu của chủ nghĩa hậu thuộc địa để tạo công cụ xử lý vấn đề.
  3. Tìm hiểu bối cảnh xã hội Việt Nam thời kỳ xuất hiện diễn ngôn Đông - Tây của Phạm Quỳnh và Nhất Linh.
  4. Tìm hiểu với thái độ khách quan, trung tính về tình hình tiếp nhận văn nghiệp của Phạm Quỳnh và Nhất Linh.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Diễn ngôn phương Tây - phương Đông của Phạm Quỳnh và Nhất Linh thể hiện qua các trước thuật, tác phẩm báo chí và văn học.
  • Phạm vi không gian và thời gian: Xã hội Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX (tập trung khảo sát các trước thuật của Phạm Quỳnh giai đoạn 1917 - 1932 và các sáng tác, bài báo của Nhất Linh giai đoạn trước năm 1945).
  • Phạm vi ngữ liệu khảo sát: Được tác giả thống kê cụ thể gồm các ấn phẩm sách, tạp chí đã xuất bản và bộ sưu tập số hóa của Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
Tác giả Nguồn tài liệu và tác phẩm khảo sát chính
Phạm Quỳnh - Sách chuyên khảo, tập luận văn, nhật ký: 10 ngày ở Huế (NXB Văn hóa, 2001); Luận giải văn học và triết học (NXB Thông tin, 2003); Pháp du hành trình nhật ký (NXB Hội Nhà văn, 2004); Thượng Chi văn tập (NXB Văn học, 2007); Phạm Quỳnh tiểu luận viết bằng tiếng Pháp (NXB Tri thức, 2007).
- Tạp chí báo chí: Bộ số hóa Tạp chí Nam Phong (Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội).
Nhất Linh - Tiểu thuyết trước 1945: Gánh hàng hoa (viết chung Khái Hưng, 1934), Đời mưa gió (viết chung Khái Hưng, 1934), Nắng thu (1934), Đoạn tuyệt (1934 - 1935), Lạnh lùng (1935 - 1936), Đôi bạn (1936 - 1937), Bướm trắng (1938 - 1939).
- Tập truyện: Truyện ngắn Nhất Linh (NXB Văn học, 2018), Người quay tơ (NXB Đời nay, 1970).
- Tác phẩm du ký: Đi Tây (1935).
- Tạp chí báo chí: Bộ số hóa Tạp chí Phong Hóa và Tạp chí Ngày Nay (Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng thuật chi tiết lịch sử nghiên cứu về diễn ngôn và sự nghiệp của Phạm Quỳnh và Nhất Linh theo các khuynh hướng đánh giá trong lịch sử tiếp nhận.

Tình hình nghiên cứu về Phạm Quỳnh

Tác giả phân loại lịch sử tiếp nhận văn nghiệp và diễn ngôn của Phạm Quỳnh thành 4 khuynh hướng rõ rệt:

  1. Khuynh hướng phủ nhận và luận tội chính trị: Xuất hiện sớm từ những người đương thời như Ngô Đức Kế với bài Luận về chánh học cùng tà thuyết (báo Hữu thanh, số 21, năm 1924), Huỳnh Thúc Kháng với bài Chánh học cùng tà thuyết có phải là vấn đề quan hệ chung không (báo Tiếng dân, số 317, năm 1930). Về sau, quan điểm này được tiếp nối bởi Đặng Thai Mai trong Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX (1960), cùng các nhà nghiên cứu Trương Chính, Vũ Ngọc Khánh, Nguyễn Văn Hoàn, Vũ Đức Phúc; Thiếu Sơn (trong bài Bài học Phạm Quỳnh, 1973); Trần Đình Hượu và Lê Chí Dũng trong giáo trình Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 - 1930; Nguyễn Văn Trung tại miền Nam với chuyên luận Chủ đích Nam Phong (1972); và gần đây là các bài viết của Mai Quốc Liên trên tạp chí Hồn Việt (2018). Khuynh hướng này đồng nhất hoàn toàn trước thuật văn hóa của Phạm Quỳnh với mưu đồ phục vụ chính sách thực dân Pháp, xem các diễn ngôn bảo tồn quốc túy, đề cao Truyện Kiều là thủ đoạn đánh lạc hướng đấu tranh cách mạng.
  2. Khuynh hướng ghi nhận đóng góp trên lĩnh vực văn hóa: Bắt đầu từ Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu (1941); Lê Thanh trong Cuốn sổ văn học (1944); Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại (1942); Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (1965); Thanh Lãng trong Bảng lược đồ văn học Việt Nam (1967). Sau năm 1975, Trần Đình Sử trong Lí luận, phê bình văn học Việt Nam thế kỷ XX thừa nhận vị trí mở đầu của Phạm Quỳnh trong nền lý luận phê bình hiện đại. Tiếp đó là các nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Thiện, Nguyễn Huệ Chi, Trần Văn Toàn, Bùi Việt Thắng, Trần Mạnh Tiến, Trịnh Bá Đĩnh, Trần Văn Chánh; Từ điển Văn học (bộ mới, 2004); các luận văn của Nguyễn Thị Hiền (2008), Đinh Quang Thiều (2009), và công trình Văn trên Nam Phong tạp chí của Nguyễn Đức Thuận. Khuynh hướng này tách bạch hoạt động chính trị với giá trị thực tế của công cuộc xây dựng văn xuôi quốc ngữ và truyền bá tri thức Đông - Tây.
  3. Khuynh hướng chiêu tuyết, biện hộ: Nhấn mạnh động cơ ái quốc và ý thức dân tộc ẩn sau các hoạt động văn hóa của Phạm Quỳnh. Tiêu biểu là Nguyễn Văn Khoan với cuốn Phạm Quỳnh một góc nhìn (2011); Khúc Hà Linh với Phạm Quỳnh con người và thời gian; Vương Trí Nhàn với các bài viết nhìn lại tạp chí Nam Phong; nhận định của Nguyễn Trần Huân trong Văn học Việt Nam dẫn luận; cùng các tư liệu lưu trữ của gia tộc họ Phạm.
  4. Khuynh hướng khách quan, nhìn nhận vai trò "trí thức trung gian": Tiêu biểu là công trình Ba thế hệ trí thức người Việt (1862 - 1954) của GS. Trịnh Văn Thảo, nhìn nhận Phạm Quỳnh thuộc thế hệ 1907 đứng ở vị thế trung gian giữa cựu học và tân học, giữa thỏa hiệp chính trị và chủ nghĩa vị lợi văn hóa. Cùng với đó là bài viết Nhân 100 năm Nam Phong tạp chí, thử tìm một cách lý giải (2017) của GS. Nguyễn Đình Chú, đặt Phạm Quỳnh vào quy luật tồn tại phụ thuộc lẫn nhau (interdépendant) song hành với quy luật độc lập (indépendant) để đánh giá thỏa đáng hiệu quả văn hóa lâu dài.

Tình hình nghiên cứu về Nhất Linh

Các đánh giá về Nhất Linh và nhóm Tự Lực văn đoàn được luận án lược thuật thành 2 khuynh hướng chính:

  1. Khuynh hướng ghi nhận ảnh hưởng phương Tây và nỗ lực hiện đại hóa: Đánh giá cao vai trò của Nhất Linh trong việc cải cách tiểu thuyết, đưa kỹ thuật viết phương Tây vào văn xuôi tiếng Việt, giải phóng cá nhân và canh tân xã hội.
  2. Khuynh hướng nhìn nhận đóng góp kèm theo phê phán hạn chế: Ghi nhận sự cách tân nghệ thuật nhưng chỉ ra tính chất cải lương, phiến diện và bế tắc về mặt lý tưởng xã hội, đặc biệt khi phong trào Tự Lực văn đoàn đối diện với các mâu thuẫn xã hội gay gắt của thời kỳ thuộc địa.

Khoảng trống luận án giải quyết

Phần lớn các công trình trước đây đánh giá Phạm Quỳnh và Nhất Linh một cách riêng rẽ, tiếp cận chủ yếu dưới góc độ lịch sử văn học truyền thống, thi pháp học hoặc xã hội học chính trị mang tính nhị nguyên. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: đặt hai tác giả đại diện cho hai thế hệ trí thức tiếp nối (thế hệ 1907 và thế hệ 1925) vào một cấu trúc nghiên cứu so sánh đồng bộ; sử dụng công cụ lý thuyết diễn ngôn và chủ nghĩa hậu thuộc địa để khảo sát cách thức họ kiến tạo tri thức về phương Tây và phương Đông, từ đó giải mã những mâu thuẫn, giới hạn và sự tiếp biến văn hóa trong hoàn cảnh thuộc địa.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

Luận án xây dựng cơ sở lý luận dựa trên sự kết hợp giữa lý thuyết diễn ngôn của Michel Foucault và hệ thống khái niệm của chủ nghĩa hậu thuộc địa:

  1. Lý thuyết Diễn ngôn của Michel Foucault:

    • Diễn ngôn (discourse) không đơn thuần là lời nói hay văn bản ngôn ngữ học, mà là một hệ thống phát ngôn được đóng khung bởi tri thức xã hội, qua đó thực tại được biểu hiện và kiến tạo.
    • Mối quan hệ tay ba giữa Diễn ngôn - Tri thức - Quyền lực (Discourse - Knowledge - Power): Quyền lực thiết lập tri thức hệ và vận hành thông qua cơ chế loại trừ (exclusion). Kẻ nắm quyền lực áp đặt tính đúng đắn cho phát ngôn của mình và gạt bỏ các diễn ngôn đối kháng. Tuy nhiên, quyền lực vận hành hai chiều; ở đâu có thống trị thì ở đó xuất hiện sự phản kháng từ bên dưới, mở đường cho việc nghiên cứu phát ngôn của các nhóm yếu thế, trong đó có người bản địa thuộc địa.
  2. Chủ nghĩa hậu thuộc địa (Postcolonialism):

    • Edward Said (Đông phương luận - 1978; Văn hóa và chủ nghĩa bá quyền - 1993): Chỉ ra cách phương Tây kiến tạo ra một "phương Đông" nhược tiểu, cảm tính, thụ động đối lập với "phương Tây" duy lý, văn minh để hợp thức hóa ách thống trị thực dân. Đồng thời, Said phân tích phản ứng của các dân tộc bị trị qua việc xây dựng "đối - Đông phương học" (counter-orientalism) nhằm giành lại quyền định nghĩa lịch sử và bản sắc của cộng đồng.
    • Gayatri Chakravorty Spivak (Can the Subaltern Speak? - 1988): Khái niệm "kẻ nhược tiểu" (subaltern) và tình thế bị tước đoạt tiếng nói; đặt ra vấn đề người trí thức thuộc địa có thể đại diện hay cất lên tiếng nói đích thực cho cộng đồng bản xứ hay không.
    • Homi K. Bhabha (The Location of Culture - 1994): Bổ sung các khái niệm then chốt về sự tương tác văn hóa thuộc địa:
      • Tính lai ghép (Hybridity): Sự pha trộn, cấy ghép văn hóa không thể đảo ngược giữa thực dân và bản địa.
      • Sự bắt chước (Mimicry): Sự sao chép mô hình phương Tây của người thuộc địa, tạo ra bản sao "gần giống nhưng không hoàn toàn" (almost the same, but not quite), qua đó làm xáo trộn tính thuần nhất của quyền lực thực dân.
      • Tính chất nước đôi (Ambivalence): Trạng thái tâm lý vừa ngưỡng mộ, vừa đề kháng trước kẻ thống trị.
      • Không gian thứ ba (Third Space): Không gian biên giới văn hóa nơi diễn ra sự thương thảo và kiến tạo những căn tính mới.
  3. Khung phân tích lịch sử văn hóa Việt Nam:

    • Khái niệm ba thế hệ trí thức của GS. Trịnh Văn Thảo (xác định vị thế của Phạm Quỳnh thuộc thế hệ 1907 và Nhất Linh thuộc thế hệ 1925).
    • Quy luật tồn tại "độc lập" (indépendant) và "phụ thuộc lẫn nhau" (interdépendant) của GS. Nguyễn Đình Chú trong việc phân tích các phương thức giành lại vị thế dân tộc bằng bạo động hoặc phi bạo động văn hóa.
    • Phân tích của Nguyễn Văn Trung về các "huyền thoại thực dân" (huyền thoại khai hóa, huyền thoại Pháp - Việt đề huề) và sự thức tỉnh ngược lại của người bản địa khi sử dụng chính phương tiện của thực dân.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án áp dụng bốn phương pháp nghiên cứu định tính và liên ngành:

  • Phương pháp tiếp cận hệ thống: Tập hợp, phân loại và xâu chuỗi các phát ngôn rời rạc trong các bài báo, khảo cứu, diễn thuyết, tiểu thuyết của Phạm Quỳnh và Nhất Linh thành một hệ thống diễn ngôn nhất quán về Đông - Tây.
  • Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp: Khảo sát ngữ liệu từ các văn bản in và báo chí số hóa, trích xuất dữ liệu nguyên trạng để phục vụ cho các luận điểm phân tích.
  • Phương pháp so sánh lịch đại và đồng đại: Đặt diễn ngôn của Phạm Quỳnh và Nhất Linh trong tiến trình lịch sử đầu thế kỷ XX (lịch đại) và so sánh trực tiếp quan điểm của hai tác giả trên cùng một bình diện nội dung nhận thức (đồng đại).
  • Phương pháp liên ngành: Kết hợp nghiên cứu văn bản văn học với văn hóa học, sử học, báo chí học và xã hội học tri thức.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Chương này tập trung xác lập hệ thống cơ sở lý luận, bối cảnh lịch sử và tổng quan tình hình nghiên cứu.

  • Cơ sở lý luận: Phân tích nội hàm khái niệm "diễn ngôn" từ Michel Foucault đến các nhà lý luận hậu thuộc địa (Edward Said, Homi Bhabha, Gayatri Spivak). Luận án làm rõ phương Đông và phương Tây không phải là các thực thể địa lý bất biến có sẵn mà là những ý niệm được kiến tạo qua diễn ngôn lịch sử gắn liền với sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản châu Âu.
  • Nhu cầu kiến tạo diễn ngôn Pháp - Việt: Phân tích hoàn cảnh thuộc địa tại Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Cuộc xâm lăng của thực dân Pháp tạo ra cuộc tiếp xúc đột biến giữa văn minh tư bản công nghiệp và xã hội phong kiến phương Đông. Trước các "huyền thoại khai hóa" do thực dân dựng lên, giới trí thức Việt Nam nảy sinh nhu cầu cấp bách phải tự định nghĩa bản sắc qua việc đề cao chữ Quốc ngữ, phục dựng chất liệu văn hóa dân tộc, tái lập các biểu tượng anh hùng yêu nước và tìm kiếm con đường tồn tại cho đất nước.
  • Tình hình nghiên cứu: Phân tích 4 khuynh hướng tiếp nhận đối với Phạm Quỳnh và 2 khuynh hướng tiếp nhận đối với Nhất Linh, khẳng định tính tất yếu của việc sử dụng lý thuyết diễn ngôn để tiếp cận hai nhân vật này từ một điểm nhìn khách quan, phi nhị nguyên.

Chương 2: Diễn ngôn phương Tây - phương Đông của Phạm Quỳnh

Chương 2 đi sâu giải mã cấu trúc và nội dung diễn ngôn của chủ bút báo Nam Phong.

  • Chủ thể diễn ngôn: Phân tích tâm thế của Phạm Quỳnh như "một trí thức của hai thế giới". Xuất thân từ nền tảng Nho học truyền thống nhưng thụ đắc văn hóa Pháp từ nhà trường bảo hộ, Phạm Quỳnh tự đặt mình vào vị trí người trung gian điều hòa hai nền văn hóa.
  • Hệ thống phương tiện truyền thông: Khảo sát kênh truyền tải diễn ngôn đa dạng gồm tạp chí Nam Phong (với ba thứ tiếng: Quốc ngữ, chữ Hán, tiếng Pháp), các bài diễn thuyết học thuật tại Hội Khai trí Tiến đức, các bản điều trần chính trị, nhật ký du hành (Pháp du hành trình nhật ký) và các tiểu luận tiếng Pháp gửi trực tiếp tới chính giới mẫu quốc.
  • Diễn giải nội dung diễn ngôn:
    • Nhận thức về phương Tây (Pháp): Nhìn nhận nước Pháp dưới hai khía cạnh: một mặt là đại diện cho văn minh khoa học, dân chủ, tư tưởng triết học phổ quát đáng học hỏi (Descartes, Montesquieu, Rousseau); mặt khác, phê phán tính vụ lợi, thực dụng và bản chất áp bức của bộ máy thực dân tại Đông Dương.
    • Nhận thức về phương Đông (dân tộc): Khẳng định văn hóa Việt Nam là nền văn hóa bản địa đặc sắc, có sức sống dẻo dai qua hàng ngàn năm lịch sử dù chịu ảnh hưởng Hán học. Luận án phân tích việc Phạm Quỳnh nâng tầm Truyện Kiều thành biểu tượng "quốc hồn, quốc túy", lấy tiếng Việt làm căn cước tối hậu cho sự tồn vong của dân tộc: "Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn".
    • Nỗ lực kiến tạo diện mạo mới cho văn hóa dân tộc: Đề xuất phương châm "dung hòa Đông - Tây", giữ vững luân lý đạo đức phương Đông làm gốc, đồng thời tiếp thu khoa học kỹ thuật phương Tây. Chủ trương thực hiện cuộc canh tân bằng con đường văn hóa, xây dựng nền quốc văn mới thay vì bạo động chính trị vũ trang.
  • Những ngã rẽ tiếp nhận: Lý giải nguyên nhân diễn ngôn của Phạm Quỳnh bị phân hóa tiếp nhận dữ dội, xuất phát từ tình thế lưỡng nan của người trí thức trung gian hoạt động hợp pháp trong khuôn khổ kiểm duyệt của chính quyền bảo hộ.

Chương 3: Diễn ngôn phương Tây - phương Đông của Nhất Linh

Chương 3 khảo sát diện mạo diễn ngôn của thủ lĩnh nhóm Tự Lực văn đoàn trên cả phương diện báo chí và sáng tác văn chương.

  • Chủ thể diễn ngôn: Nhất Linh xuất hiện với tư cách "một trí thức Tây học kiểu mới", được đào tạo bài bản về khoa học tại Pháp (cử nhân khoa học), mang tinh thần dân chủ tư sản và tư duy duy lý phương Tây rõ rệt hơn thế hệ trước.
  • Hệ thống phương tiện truyền thông: Vận hành một tổ hợp truyền thông đồng bộ gồm tuần báo Phong Hóa, Ngày Nay, nhà xuất bản Đời Nay và tổ chức văn đoàn Tự Lực văn đoàn, tạo ra mạng lưới phát hành và tác động xã hội rộng lớn.
  • Diễn giải nội dung diễn ngôn:
    • Nhận thức về phương Tây (Pháp): Xem phương Tây là hiện thân của các giá trị văn minh nhân loại về tự do cá nhân, quyền bình đẳng, tư duy khoa học và nghệ thuật hiện đại. Song song đó, Nhất Linh vạch trần thói đạo đức giả của chính sách thuộc địa, sự câu thúc bất công của chế độ thực dân đối với sự phát triển của xã hội bản xứ.
    • Nhận thức về phương Đông (dân tộc): Thể hiện tình yêu tha thiết với cảnh sắc, phong vị thôn quê cổ truyền (trong các truyện ngắn Người quay tơ, Gánh hàng hoa). Tuy nhiên, trên bình diện xã hội, Nhất Linh giữ tư duy phê phán quyết liệt đối với những hủ tục, sự trì trệ của đại gia đình phong kiến phương Đông. Luận án chỉ ra sự sáng tạo của Nhất Linh nằm ngay trên đường biên giao thoa văn hóa Đông - Tây: muốn phương Đông bình đẳng với phương Tây thì tự thân phương Đông phải dũng cảm thay đổi, đoạn tuyệt với những yếu tố lạc hậu.
    • Nỗ lực kiến tạo diện mạo mới cho tương lai văn hóa: Triển khai các cuộc vận động xã hội thực tế như cải cách y phục (áo tân thời Lemur), phong trào nhà ánh sáng (Hội Ánh Sáng) nhằm cải thiện đời sống vệ sinh của dân nghèo; dùng tiểu thuyết luận đề (Đoạn tuyệt, Lạnh lùng) để giải phóng cá nhân, đòi quyền tự do yêu đương và hạnh phúc cho phụ nữ.
  • Những dự định và dang dở: Phân tích những bế tắc, phân hóa tư tưởng của Nhất Linh giai đoạn cuối thập niên 1930 (thể hiện qua tâm trạng bi quan trong Bướm trắng, sự chuyển dịch sang hoạt động chính trị bí mật trong Đôi bạn), phản ánh giới hạn lịch sử của tầng lớp trí thức tiểu tư sản trước năm 1945.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt khoa học của luận án

Theo công bố của tác giả trong phần Mở đầu, luận án xác lập bốn đóng góp mới cụ thể:

  1. Là công trình chuyên biệt đầu tiên vận dụng lý thuyết nghiên cứu diễn ngôn của Michel Foucault và lý thuyết hậu thuộc địa để thuật tả, nhận diện diễn ngôn phương Tây - phương Đông của hai đối tượng văn hóa phức tạp là Phạm Quỳnh và Nhất Linh.
  2. Lần đầu tiên đặt diễn ngôn của hai đại diện tiêu biểu cho hai thế hệ trí thức người Việt (thế hệ 1907 - Phạm Quỳnh và thế hệ 1925 - Nhất Linh) vào cùng một trục nghiên cứu, mở rộng khảo sát mối quan hệ tương tác hai chiều với môi trường văn hóa Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX; làm sáng tỏ sự tương đồng cũng như những khác biệt, tiếp biến trong thái độ ứng xử của họ đối với ý niệm Đông - Tây.
  3. Chứng minh tiềm năng ứng dụng của hướng tiếp cận diễn ngôn và chủ nghĩa hậu thuộc địa đối với các vấn đề văn hóa - văn học thuộc địa tại Việt Nam; cung cấp các bài học kinh nghiệm từ quá khứ phục vụ mục tiêu hiện tại trong chủ trương xây dựng "Một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc".
  4. Cung cấp hệ thống tư liệu và khung diễn giải khách quan, làm tài liệu tham khảo cho giới nghiên cứu tiếp cận trực tiếp ngữ liệu nguyên trạng của Phạm Quỳnh và Nhất Linh.

Kiến nghị và bài học thực tiễn

Từ kết quả khảo sát quá khứ tiếp xúc văn hóa Đông - Tây, tác giả luận án đề xuất bài học mang tính thực tiễn: Trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay, việc tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại cần song hành chặt chẽ với việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc theo phương châm "hòa nhập mà không hòa tan". Mô hình ứng xử của các trí thức đầu thế kỷ XX cho thấy bản sắc văn hóa không phải là một đại lượng cố định, bất biến mà luôn cần được bồi đắp, làm mới thông qua đối thoại và dung hợp văn hóa.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Văn bản luận án nêu rõ các giới hạn về phạm vi khảo sát và định hướng mở rộng:

  • Hạn chế về phạm vi ngữ liệu: Đối với tác giả Nhất Linh, nghiên cứu sinh chỉ tập trung khảo sát các tác phẩm, bài báo xuất bản trước năm 1945; chưa bao quát giai đoạn hoạt động chính trị và sáng tác văn học của ông tại miền Nam sau năm 1954.
  • Hạn chế về nhóm đối tượng: Luận án tập trung vào hai cá nhân tiêu biểu thuộc nhóm trí thức công khai ở đô thị miền Bắc, chưa mở rộng so sánh với các dòng trí thức khác cùng thời (như nhóm trí thức Nho học cấp tiến, nhóm trí thức mác-xít, hay các nhóm hoạt động bí mật).
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu diễn ngôn hậu thuộc địa sang toàn bộ tiến trình văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975, hoặc khảo sát các hiện tượng văn hóa khác cùng thời kỳ như nhóm Tân Dân, Hàn Mạc Tử hay các tác giả Nam Kỳ để có bức tranh toàn diện hơn về diễn ngôn thuộc địa tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cụ thể đối với các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Ngữ văn, Lịch sử, Văn hóa học: Cung cấp phương pháp luận mẫu mực trong việc vận dụng lý thuyết diễn ngôn Foucault và chủ nghĩa hậu thuộc địa (Said, Bhabha, Spivak) vào giải mã văn bản văn học - báo chí Việt Nam.
  • Giảng viên và nhà nghiên cứu văn học Việt Nam trung - cận - hiện đại: Cung cấp cái nhìn tái đánh giá khách quan, trung tính về di sản của Phạm Quỳnh và Tự Lực văn đoàn, thoát ly khỏi các định kiến nhị nguyên chính trị thuần túy.
  • Nhà quản lý và hoạch định chính sách văn hóa: Tham khảo bài học lịch sử về cơ chế tiếp biến văn hóa, xử lý mối quan hệ giữa yếu tố dân tộc và hiện đại trong bối cảnh toàn cầu hóa đương đại.
  • Các phần đáng tham khảo nhất trong luận án: Chương 1 với hệ thống lý thuyết hậu thuộc địa được hệ thống hóa công phu; phần khảo sát chi tiết hệ thống tư liệu báo chí Nam Phong, Phong Hóa, Ngày Nay trong Chương 2 và Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án sử dụng lý thuyết nền tảng nào để nghiên cứu Phạm Quỳnh và Nhất Linh?

Luận án sử dụng lý thuyết nghiên cứu diễn ngôn của Michel Foucault (tập trung vào mối quan hệ giữa Diễn ngôn - Tri thức - Quyền lực và cơ chế loại trừ) kết hợp với các lý thuyết của chủ nghĩa hậu thuộc địa, tiêu biểu là các luận điểm của Edward Said (về Đông phương luận và sự phản kháng văn hóa), Homi K. Bhabha (về tính lai ghép, sự bắt chước, tính chất nước đôi và không gian thứ ba), và Gayatri Chakravorty Spivak (về vị thế của kẻ nhược tiểu và khả năng cất lên tiếng nói).

2. Sự khác biệt căn bản về thế hệ giữa Phạm Quỳnh và Nhất Linh được luận án xác định ra sao?

Dựa trên phân loại của GS. Trịnh Văn Thảo, luận án xác định:

  • Phạm Quỳnh thuộc thế hệ trí thức 1907: thế hệ xuất thân từ Nho học chuyển sang tiếp xúc với văn hóa Pháp, đóng vai trò trí thức trung gian hòa giải Đông - Tây, thiên về định hướng tư tưởng, khảo cứu, lý luận và dịch thuật trên tạp chí Nam Phong.
  • Nhất Linh thuộc thế hệ trí thức 1925: thế hệ Tây học hoàn toàn, tiếp cận trực tiếp nền giáo dục chính quy hiện đại của Pháp, thiên về thực hành nghệ thuật, sáng tác văn chương, đổi mới lối sống và cải cách xã hội trực tiếp thông qua Tự Lực văn đoàn và các ấn phẩm Phong Hóa, Ngày Nay.

3. Nhận thức của Phạm Quỳnh về phương Tây và phương Đông có điểm gì cốt lõi?

  • Về phương Tây: Phạm Quỳnh thừa nhận sự ưu việt của văn minh khoa học, kỹ nghệ và tư tưởng triết học Pháp, coi đó là nguồn tri thức cần học hỏi để hiện đại hóa xứ sở, nhưng phê phán lối sống duy vật cơ giới và bản chất thống trị thực dân.
  • Về phương Đông: Phạm Quỳnh đề cao bản sắc văn hóa dân tộc, khẳng định sức sống trường tồn của giống nòi qua ngôn ngữ và văn chương, xem tiếng Việt và tác phẩm Truyện Kiều là thành trì bảo vệ linh hồn dân tộc trước nguy cơ đồng hóa.

4. Khái niệm "tính lai ghép" (hybridity) của Homi Bhabha được luận án vận dụng như thế nào khi phân tích sáng tạo của Nhất Linh?

Luận án chỉ ra rằng Nhất Linh không rập khuôn máy móc mô hình phương Tây mà sáng tạo ngay trên đường biên giao thoa văn hóa Đông - Tây. Ông đưa kỹ thuật phân tích tâm lý, kết cấu tiểu thuyết phương Tây vào diễn tả tâm hồn người Việt; kết hợp tinh thần giải phóng cá nhân phương Tây với vẻ đẹp tình cảm kín đáo, truyền thống của người phương Đông, tạo nên một dạng thức văn hóa mới mẻ vừa mang tính hiện đại vừa giữ được bản sắc bản địa.

5. Phạm vi khảo sát tác phẩm của Nhất Linh trong luận án bị giới hạn ở mốc thời gian nào?

Văn bản luận án giới hạn phạm vi khảo sát đối với Nhất Linh là các tác phẩm sáng tác trước năm 1945, bao gồm 7 tiểu thuyết (Gánh hàng hoa, Đời mưa gió, Nắng thu, Đoạn tuyệt, Lạnh lùng, Đôi bạn, Bướm trắng), các tập truyện ngắn (Người quay tơ, Truyện ngắn Nhất Linh), thiên du ký Đi Tây (1935), cùng các bài viết trên hai tờ tuần báo Phong Hóa và Ngày Nay.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Thị Vân Anh là công trình nghiên cứu chuyên khảo tiếp cận di sản của Phạm Quỳnh và Nhất Linh dưới góc độ lý thuyết diễn ngôn và chủ nghĩa hậu thuộc địa. Thông qua việc phân tích ngữ liệu nguyên trạng từ các ấn phẩm báo chí và tác phẩm văn học nửa đầu thế kỷ XX, luận án đã làm sáng tỏ diện mạo nhận thức về phương Tây, phương Đông và nỗ lực kiến tạo bản sắc dân tộc của hai thế hệ trí thức thuộc địa. Công trình không chỉ cung cấp một góc nhìn khoa học khách quan về hai nhân vật lịch sử phức tạp mà còn gợi mở những bài học kinh nghiệm sâu sắc cho quá trình tiếp biến văn hóa và hội nhập quốc tế của Việt Nam trong thời kỳ đương đại.