Khám Phá Diễn Ngôn Phương Tây và Phương Đông qua Luận Án Tiến Sĩ của Phạm Quỳnh và Nhất Linh

Khóa luận đánh giá Diễn ngôn Phương Tây và Phương Đông trong Luận án Tiến sĩ của Phạm Quỳnh và Nhất Linh, tiếp cận đa chiều, kết quả có tính khả thi

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2019

168
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Cở sở lý luận

1.2. Khái niệm “Diễn ngôn” của Micheal Foucault và những định hướng ứng dụng

1.3. Khái niệm “Diễn ngôn phương Tây – phương Đông” theo tinh thần của chủ nghĩa hậu thuộc địa

1.4. Diễn ngôn Phương Tây – Phương Đông hay là sự kiến tạo của phương Tây (thực dân) về phương Đông (thuộc địa)

1.5. Nhu cầu kiến tạo Diễn ngôn Phương Tây – Phương Đông của trí thức phương Đông (thuộc địa)

1.6. Quá trình tương tác văn hoá và sự lựa chọn con đường đi cho tương lai của thuộc địa

1.7. Nhu cầu kiến tạo diễn ngôn về phương Tây (Pháp) – phương Đông (Việt) của trí thức Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

1.8. Cuộc tiếp xúc phương Tây (Pháp) – phương Đông (Việt) tại Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

1.9. Nhận thức về phương Tây (Pháp) của trí thức Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

1.10. Nhận thức về phương Đông (dân tộc) của trí thức Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

1.11. Nỗ lực đề cao tiếng Việt

1.12. Nỗ lực tìm lại chất liệu văn hoá, văn học truyền thống

1.13. Nỗ lực xây dựng những biểu tượng về chủ nghĩa anh hùng, chủ nghĩa yêu nước của dân tộc

1.14. Nỗ lực tìm ra con đường đi cho dân tộc

1.15. Tình hình nghiên cứu diễn ngôn phương Tây – phương Đông của Phạm Quỳnh và Nhất Linh

1.16. Những đánh giá về diễn ngôn phương Tây – phương Đông của Phạm Quỳnh

1.16.1. Khuynh hướng thứ nhất: phủ nhận, thậm chí luận tội những diễn ngôn phương Tây phương Đông của Phạm Quỳnh

1.16.2. Khuynh hướng thứ hai: ghi nhận những đóng góp trên lĩnh vực văn hóa qua các diễn ngôn phương Tây phương Đông của Phạm Quỳnh

1.16.3. Khuynh hướng thứ ba: chiêu tuyết, biện hộ cho những đóng góp của Phạm Quỳnh thông qua các diễn ngôn phương Tây phương Đông

1.16.4. Khuynh hướng thứ tư: khách quan, nhìn nhận trực tiếp vai trò “trí thức trung gian” của Phạm Quỳnh

1.17. Những đánh giá về diễn ngôn phương Tây – phương Đông của Nhất Linh

1.17.1. Khuynh hướng thứ nhất: ghi nhận sự ảnh hưởng của văn hóa, văn học phương Tây đến những tác phẩm nghệ thuật và nỗ lực hiện đại hoá văn học mà Nhất Linh và các cộng sự đã thực hiện

1.17.2. Khuynh hướng thứ hai: ghi nhận những đóng góp về văn học nghệ thuật của Nhất Linh nhưng cho rằng con đường hiện đại hoá và lý tưởng của Nhất Linh vừa có điểm tích cực vừa có điểm hạn chế

1.18. Những gợi mở nghiên cứu diễn ngôn phương Tây – phương Đông của Phạm Quỳnh và Nhất Linh

1.19. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: DIỄN NGÔN PHƯƠNG TÂY - PHƯƠNG ĐÔNG CỦA PHẠM QUỲNH

2.1. Chủ thể diễn ngôn: Tâm thế Phạm Quỳnh – “Một trí thức của hai thế giới”

2.2. Hệ thống phương tiện truyền thông diễn ngôn phương Tây - phương Đông của Phạm Quỳnh

2.3. Diễn giải diễn ngôn phương Tây – phương Đông của Phạm Quỳnh

2.4. Nhận thức về phương Tây (Pháp)

2.5. Nhận thức về phương Đông (dân tộc)

2.6. Văn hóa Việt Nam – nền văn hóa bản địa đặc sắc

2.7. Văn hóa Việt Nam và nỗ lực trường tồn qua những thăng trầm của lịch sử

2.8. Nỗ lực kiến tạo diện mạo mới cho tương lai văn hóa dân tộc

2.9. Mục tiêu hướng tới

2.10. Cách thức thực hiện

2.11. Diễn ngôn phương Đông - phương Tây của Phạm Quỳnh và những ngã rẽ tiếp nhận

2.12. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: DIỄN NGÔN PHƯƠNG TÂY - PHƯƠNG ĐÔNG CỦA NHẤT LINH

3.1. Chủ thể diễn ngôn: Tâm thế Nhất Linh – “Một trí thức tây học kiểu mới”

3.2. Hệ thống phương tiện truyền thông diễn ngôn phương Tây – phương Đông của Nhất Linh

3.3. Diễn giải diễn ngôn phương Tây – phương Đông của Nhất Linh

3.4. Nhận thức về phương Tây (Pháp)

3.5. Phương Tây (Pháp) như một giá trị văn minh phổ quát của nhân loại

3.6. Phương Tây (Pháp) với bản chất thực dân tại Đông Dương

3.7. Nhận thức về phương Đông (dân tộc)

3.8. Tình yêu với những nét đẹp văn hóa truyền thống

3.9. Dấu ấn phương Đông trong sự sáng tạo trên đường biên giao thoa văn hóa Đông (Việt) – Tây (Pháp)

3.10. Tư duy phê phán: muốn “đồng đẳng” phương Đông cần tự thay đổi

3.11. Nỗ lực kiến tạo diện mạo mới cho tương lai văn hóa dân tộc

3.12. Ước vọng mới cho phương Đông

3.13. Những cải cách trên các phương diện văn hóa xã hội

3.14. Diễn ngôn phương Đông - phương Tây của Nhất Linh – những dự định và dang dở

3.15. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

THƯ MỤC THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về diễn ngôn Phương Tây và Phương Đông

Diễn ngôn Phương TâyPhương Đông trong luận án của Phạm QuỳnhNhất Linh phản ánh sự tương tác văn hóa phức tạp giữa hai nền văn hóa này. Luận án tập trung vào việc phân tích các khái niệm và diễn ngôn liên quan đến văn hóanghiên cứu văn hóa trong bối cảnh lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XX. Phạm QuỳnhNhất Linh là hai nhân vật tiêu biểu, đại diện cho hai thế hệ trí thức, đã có những đóng góp quan trọng trong việc xây dựng và phát triển diễn ngôn này. Họ không chỉ phản ánh những quan điểm cá nhân mà còn thể hiện những nhu cầu và áp lực của xã hội lúc bấy giờ.

1.1. Khái niệm diễn ngôn theo Micheal Foucault

Khái niệm diễn ngôn theo Micheal Foucault được hiểu là tất cả các phát ngôn có nghĩa và hiệu lực trong việc nhận thức thế giới. Foucault nhấn mạnh rằng diễn ngôn không chỉ đơn thuần là phản ánh thực tại mà còn là cách mà chúng ta hiểu và xây dựng thực tại. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc phân tích diễn ngôn Phương TâyPhương Đông, khi mà các diễn ngôn này không chỉ là sản phẩm của cá nhân mà còn là kết quả của bối cảnh xã hội và lịch sử. Việc áp dụng lý thuyết này giúp làm rõ hơn những động lực và ý nghĩa của các diễn ngôn trong tác phẩm của Phạm QuỳnhNhất Linh.

1.2. Nhu cầu kiến tạo diễn ngôn

Nhu cầu kiến tạo diễn ngôn Phương TâyPhương Đông của trí thức Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX là một phản ứng trước sự xâm lược và ảnh hưởng của thực dân. Phạm QuỳnhNhất Linh đã nhận thức rõ ràng về vai trò của mình trong việc định hình bản sắc văn hóa dân tộc. Họ đã sử dụng diễn ngôn như một công cụ để khẳng định giá trị văn hóa Việt Nam, đồng thời phê phán những ảnh hưởng tiêu cực từ Phương Tây. Điều này không chỉ thể hiện trong các tác phẩm văn học mà còn trong các bài viết, diễn thuyết, và các hoạt động văn hóa khác.

II. Diễn ngôn Phương Tây Phương Đông của Phạm Quỳnh

Diễn ngôn của Phạm Quỳnh thể hiện một tâm thế phức tạp, vừa tiếp thu ảnh hưởng từ Phương Tây, vừa tìm kiếm bản sắc văn hóa dân tộc. Ông được xem như một trí thức của hai thế giới, với những nỗ lực không ngừng trong việc xây dựng một nền văn hóa Việt Nam hiện đại. Phạm Quỳnh đã sử dụng diễn ngôn để phản ánh những quan điểm về Phương TâyPhương Đông, từ đó tạo ra một không gian cho sự giao thoa văn hóa. Ông không chỉ đơn thuần là người tiếp nhận mà còn là người sáng tạo, định hình lại những giá trị văn hóa trong bối cảnh thuộc địa.

2.1. Nhận thức về Phương Tây

Nhận thức của Phạm Quỳnh về Phương Tây không chỉ dừng lại ở việc tiếp thu kiến thức mà còn là sự phê phán sâu sắc đối với những giá trị văn hóa mà ông cho là không phù hợp với bản sắc dân tộc. Ông đã chỉ ra những điểm mạnh và yếu của Phương Tây, từ đó khuyến khích người Việt Nam cần phải học hỏi và cải cách để không bị lạc hậu. Điều này thể hiện rõ trong các tác phẩm của ông, nơi mà ông thường xuyên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giữ gìn bản sắc văn hóa trong bối cảnh hiện đại hóa.

2.2. Nhận thức về Phương Đông

Đối với Phương Đông, Phạm Quỳnh thể hiện một tình yêu sâu sắc với văn hóa và truyền thống dân tộc. Ông đã nỗ lực khôi phục và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, đồng thời phê phán những ảnh hưởng tiêu cực từ Phương Tây. Ông tin rằng việc hiểu và tôn trọng văn hóa dân tộc là điều cần thiết để xây dựng một nền văn hóa hiện đại vững mạnh. Những quan điểm này không chỉ thể hiện trong các tác phẩm văn học mà còn trong các bài viết, diễn thuyết của ông.

III. Diễn ngôn Phương Tây Phương Đông của Nhất Linh

Nhất Linh, với tư cách là một trí thức tây học kiểu mới, đã có những đóng góp quan trọng trong việc xây dựng diễn ngôn Phương TâyPhương Đông. Ông không chỉ tiếp thu những giá trị văn hóa từ Phương Tây mà còn tìm cách kết hợp chúng với những giá trị văn hóa truyền thống của Phương Đông. Nhất Linh đã thể hiện một tâm thế cởi mở, sẵn sàng tiếp nhận những cái mới, đồng thời vẫn giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.

3.1. Nhận thức về Phương Tây

Nhất Linh nhìn nhận Phương Tây như một nguồn cảm hứng cho sự đổi mới và hiện đại hóa văn hóa Việt Nam. Ông đã chỉ ra rằng việc tiếp thu những giá trị văn hóa từ Phương Tây không có nghĩa là từ bỏ bản sắc dân tộc. Ngược lại, ông khuyến khích việc kết hợp giữa cái mới và cái cũ để tạo ra một nền văn hóa phong phú và đa dạng. Điều này thể hiện rõ trong các tác phẩm của ông, nơi mà ông thường xuyên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc học hỏi từ Phương Tây mà không đánh mất bản sắc văn hóa Việt Nam.

3.2. Nhận thức về Phương Đông

Đối với Phương Đông, Nhất Linh thể hiện một tình yêu sâu sắc với những giá trị văn hóa truyền thống. Ông đã nỗ lực khôi phục và phát huy những giá trị này trong bối cảnh hiện đại. Nhất Linh tin rằng việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là điều cần thiết để xây dựng một nền văn hóa hiện đại vững mạnh. Những quan điểm này không chỉ thể hiện trong các tác phẩm văn học mà còn trong các bài viết, diễn thuyết của ông.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chương 2: Diễn ngôn phƣơng Tây – phƣơng Đông của Phạm Quỳnh Chương 3: Diễn ngôn phƣơng Tây – phƣơng Đông của Nhất Linh. luan an 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cở sở lý luận 1. Khái niệm “Diễn ngôn” của Micheal Foucault và những định hướng ứng dụng 1 Trong các ngành khoa học xã hội nhân văn, diễn ngôn là một khái niệm đƣợc sử dụng với nhiều quan điểm phức tạp nhƣ quan điểm của David Crystal và Micheal Stubbs - phát triển theo quan điểm của F.

de Sausure hay quan điểm của Bakhtin về các thể loại lời nói… Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận án, khái niệm diễn ngôn đƣợc sử dụng với ý nghĩa bắt nguồn từ quan niệm của Micheal Foucault và nhắc đến diễn ngôn theo quan điểm của Foucault, chúng ta thấy có ba điểm cần lƣu ý: Ở điểm thứ nhất, theo Foucault, diễn ngôn bao gồm “tất cả các nhận định nói chung” - “tất cả các phát ngôn hoặc văn bản mang nghĩa và có một hiệu lực giúp chúng ta nhận thức về thế giới. Foucault không phủ nhận thực tại khách quan. Ông thừa nhận có một khu vực ngoài diễn ngôn (non-discursive) nhƣng chỉ có điều ông lƣu ý rằng chúng ta không cách nào chạm đƣợc vào thế giới khách thể một cách trực tiếp. Chúng ta chỉ biết về nó một cách có hệ thống và có ý nghĩa thông qua hệ thống những diễn ngôn.

Đối với Foucault, “một diễn ngôn là một khu vực đƣợc đóng khung chặt chẽ bởi khung kiến thức xã hội, là một hệ thống các phát ngôn mà trong đó thế giới có thể đƣợc biểu hiện. Mấu chốt của vấn đề là ở chỗ: thế giới không phải chỉ đơn giản là "ở đó" [có sẵn] để đƣợc nói đến, đúng hơn là chính thông qua diễn ngôn thế giới đƣợc biểu hiện” [149, 71]. Chính các diễn ngôn đã hình thành cảm quan của chúng ta về thực tại. Cũng chính nhờ diễn ngôn mà cả ngƣời nói - ngƣời nghe, ngƣời viết - ngƣời đọc đến với một sự hiểu biết về bản thân, mối quan hệ của họ với nhau và vị trí của họ trong thế giới (xây dựng tính chủ quan).

Đây là "sự phức hợp của các ký hiệu và thực hành cái mà thiết lập nên tồn tại xã hội và tái thiết lập xã hội" [149, 71]. Chúng ta có thể thấy rõ điều này khi tìm hiểu lịch sử khái niệm phƣơng Tây – 1 Phần này được dẫn nhập từ mục từ Discourse trong Key Concepts In Post–colonial Studies, của Bill Ashcroft, Gareth Griffiths and Helen Tiffin Routledge xuất bản, 2001; tham khảo thêm các tài liệu số [62], [139] trong Thư mục tham khảo. luan an 8 phƣơng Đông 2. Đọc bộ tiểu thuyết nổi tiếng của tác giả Ngô Thừa Ân Tây du ký, chúng ta hiểu rằng đối với ngƣời Trung Hoa và ngƣời Việt xƣa, phƣơng Tây là Ấn Độ.

Ngƣời Hy lạp cổ đại cũng từng tự cho mình là trung tâm của vũ trụ, họ hoàn toàn chƣa biết đến những "tân châu lục" nên họ đã gọi các khu vực ở phía đông của mình tức là phía mặt trời mọc là phƣơng Đông, còn gọi các khu vực ở phía Tây của mình tức là phía mặt trời lặn là phƣơng Tây. Phƣơng Đông trong tiếng Anh là Orient - một thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng Latin oriens - hƣớng đông, nghĩa bóng là sự mọc lên, ám chỉ hướng đông – hướng mặt trời mọc, phƣơng Tây là Occident - một thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng Latin occidens - hƣớng tây, nghĩa bóng là sự hạ/lặn xuống, ám chỉ hướng tây – hướng mặt trời lặn. Khái niệm Phƣơng Đông đƣợc quan niệm ngày một rộng ra. Trong lịch sử thế giới, đối với khảo cổ học châu Âu, phƣơng Đông thời Thƣợng cổ bao gồm: những nền văn minh phát triển ở bờ Địa Trung Hải phía Đông (Ba Tƣ, Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập.) - Trung cận Đông ngày nay nói chung.

Khái niệm phƣơng Đông ngày nay bao gồm châu Á và phần Đông Bắc châu phi chia thành các khu vực nhỏ khác nhau. Nói đến Phƣơng Đông là nói đến nền văn minh châu thổ với bốn nền văn hóa văn minh cổ đại lớn (Ai Cập, Lƣỡng Hà, Ấn Độ và Trung Quốc). Tƣơng tự nhƣ vậy, trƣớc đây phƣơng Tây để chỉ châu Âu với nền văn minh Hy Lạp và La Mã. Sau này khái niệm phƣơng Tây bao gồm các quốc gia châu Âu và các quốc gia có nguồn gốc thuộc địa châu Âu ở châu Mỹ và châu Đại Dƣơng.

Rõ ràng không phải tồn tại một “Phƣơng Đông” hay “Phƣơng Tây” “có sẵn” “bất biến” để chúng ta nhận thức về mà khái niệm phƣơng Đông – phƣơng Tây trƣớc hết mang tính quy ƣớc chỉ phƣơng hƣớng, chỉ ranh giới địa lí của những cộng đồng ngƣời trong quá trình nhận thức về thế giới và các khái niệm này. Phƣơng Đông – phƣơng Tây chỉ thực sự trở thành những khái niệm định danh một nhóm các dân tộc – những cộng đồng có quan hệ mật thiết trên các phƣơng diện nguồn gốc, lịch sử, văn hóa và ngôn ngữ nhƣ chúng ta biết hiện nay khi chủ nghĩa tƣ bản phát triển ở phƣơng Tây. Vì thế, quá trình định hình khái niệm Phƣơng Đông và phƣơng Tây gắn liền với quá trình ngƣời phƣơng Tây khám phá thế giới để khai thác kinh tế và chiếm thuộc địa. Theo bƣớc chân khám phá thế giới và xâm chiếm thuộc địa của 2 Dẫn nhập từ chƣơng II trong tài liệu số [83].

luan an 9 các nƣớc phƣơng Tây, những thuật ngữ này đã đến với các nƣớc phƣơng Đông và trở nên phổ biến đến ngày hôm nay. Điểm lƣu ý thứ hai của Foucault về diễn ngôn là: diễn ngôn có thể tồn tại trong một hệ thống - một nhóm những nhận định đƣợc tổ chức theo một cách thức nào đó, có một mạch lạc và một hiệu lực chung. Ví dụ: diễn ngôn thuộc địa, diễn ngôn nữ quyền, diễn ngôn tính dục, diễn ngôn đồng tính…Diễn ngôn trong cách hiểu này vì thế đƣợc dùng ở số nhiều (discourses). Cũng trong cách hiểu này, Foucault có mở rộng khái niệm diễn ngôn khi lƣu ý đến diễn ngôn điện ảnh, diễn ngôn âm nhạc, diễn ngôn hội họa… khi chúng cùng có mục đích biểu đạt chung trong một nhóm chủ đề.

Điều lƣu ý thứ ba của Foucault về diễn ngôn là những qui tắc và cấu trúc tạo ra những nhận định, những diễn ngôn cụ thể. Với Foucault, nhận diện diễn ngôn đã quan trọng nhƣng quan trọng hơn là sự kiểm soát, điều chỉnh các hoạt động tạo lập – luân chuyển của diễn ngôn. Lƣu ý thứ ba này sẽ dẫn đến phạm trù mà Foucault đặc biệt quan tâm là mối quan hệ tay ba giữa diễn ngôn – tri thức và quyền lực. Các diễn ngôn có vai trò hợp pháp hóa, tạo lập nên những sự thật hiện hành – tri thức hệ (nền tảng tƣ tƣởng mà nó chứ không phải các tƣ tƣởng khác trong thời điểm đó đƣợc thừa nhận là tri thức - vừa cho phép chúng ta nhận thức về thực tại, vừa giới hạn tƣ duy của chính chúng ta) bởi những liên hệ quyền lực đi kèm theo chúng.

Diễn ngôn theo Foucault liên quan đến quyền lực vì nó hiện diện theo nguyên tắc loại trừ. Khi một diễn ngôn đƣợc phát biểu với quyền lực và khung tri thức gắn liền với nó, nó có thể loại trừ các diễn ngôn khác. Ngƣời viết/ ngƣời nói luôn luôn có “căn cứ” để trở thành “đúng đắn”. Thực chất, việc định hình một diễn ngôn, cũng chính là thiết lập một quan hệ quyền lực: giữa ngƣời thiết lập và kẻ bị thiết lập, giữa ngƣời thống trị và kẻ bị gạt bỏ.

Diễn ngôn bị chi phối bởi đối tƣợng (cái đƣợc nói đến), trình tự, nơi chốn, cách thức nó đƣợc phát ngôn và đặc quyền (quyền ƣu tiên - ai là ngƣời có thể nói). Theo Foucault, tri thức thƣờng là sản phẩm của sự chinh phục các đối tƣợng, hoặc nó có thể đƣợc coi nhƣ tiến trình mà qua đó các chủ thể đƣợc thiết lập nhƣ là kẻ bị chinh phục. Chẳng hạn diễn ngôn của thực dân là một công cụ giá trị để mô tả hệ thống mà trong đó một loạt các thực hành đƣợc gọi là “thuộc địa” hình thành. Diễn ngôn thực dân hành chức nhƣ một phƣơng tiện quyền lực phục vụ luan an 10 những mƣu đồ của thực dân vì thế chúng có xu hƣớng loại trừ những phát ngôn tố cáo tội ác của thực dân mà chú trọng hơn đến diễn ngôn khai hóa để hợp thức hóa quan hệ thực dân - thuộc địa.

Chính quyền lực từ diễn ngôn thực dân đã loại trừ những phát ngôn mang ý nghĩa trái ngƣợc – ví dụ diễn ngôn đến từ các dân tộc là thuộc địa. Theo Foucault, mỗi một thời điểm khác nhau trong lịch sử, quyền lực và tri thức hệ lại có sự thay đổi bởi ngƣời nắm quyền lực (tại thời điểm đó) là ngƣời tạo ra tri thức. Chân lý hay bản chất đều đƣợc tạo ra do các diễn ngôn vì vậy chúng không thuộc phạm trù đúng - sai. Điều mà Foucault quan tâm không phải là điều gì là sự thật mà là “cái đƣợc gọi là sự thật” đƣợc nói ra nhƣ thế nào (how can the truth be told?).

Tuy nhiên, Foucault cũng nhấn mạnh: ở đâu có sự thống trị, ở đó có sự phản kháng (vì quyền lực không chỉ có một chiều từ trên xuống mà còn đi từ dƣới lên). Vì vậy, nghiên cứu diễn ngôn không phải chỉ là nghiên cứu tri thức đƣợc kiến tạo bởi những ngƣời nắm giữ quyền lực mà một nhiệm vụ rất quan trọng là nghiên cứu diễn ngôn từ nhóm yếu thế nhƣ “giới nữ”, “giới tính thứ ba”, “dân tộc thiểu số”, “thuộc địa”, … Tựu chung lại, quan niệm của Foucault đã tạo ra những thay đổi lớn trong tƣ duy về thế giới – thế giới đƣợc tạo lập từ những văn bản và ảnh hƣởng sâu đậm đến nghiên cứu văn học khi văn học đƣợc đặt trong mối liên hệ tổng thể với những diễn ngôn thuộc các lĩnh vực khác cùng chịu những tác động của quyền lực – tri thức trong thời đại diễn ngôn đƣợc thực hiện (nhƣ đạo đức, tôn giáo hay triết học, …). Chúng ta không chỉ tìm hiểu văn bản nhƣ những hình thức ngôn từ mà còn cố gắng nghiên cứu các cơ chế tạo lập, tác động, chi phối chúng. Bởi diễn ngôn đóng vai trò trung gian, là đƣờng dẫn của nhiều tƣơng quan quyền lực và tri thức (Tham khảo thêm tài liệu số [139]).

Nghiên cứu của Foucault làm dấy lên những hoài nghi về những sự thật đã đƣợc kiến tạo bởi những ngƣời nắm giữ quyền lực nhƣ thực dân, ngƣời da trắng, nam giới, ….

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Khám Phá Diễn Ngôn Phương Tây và Phương Đông qua Luận Án Tiến Sĩ của Phạm Quỳnh và Nhất Linh" của tác giả Lê Thị Vân Anh, dưới sự hướng dẫn của GS. Nguyễn Đình Chú và PGS.TS Trần Văn Toàn, mang đến cái nhìn sâu sắc về sự khác biệt và tương đồng trong diễn ngôn văn học giữa hai nền văn hóa phương Tây và phương Đông. Bài luận án không chỉ phân tích các tác phẩm của Phạm Quỳnh và Nhất Linh mà còn mở rộng ra các khía cạnh văn hóa, xã hội và lịch sử, giúp người đọc hiểu rõ hơn về bối cảnh văn học Việt Nam trong thời kỳ giao thoa văn hóa.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực pháp lý, bạn có thể tham khảo bài viết Giải Quyết Khiếu Nại Trong Lĩnh Vực Đất Đai Tại Huyện Yên Mô, Tỉnh Ninh Bình, nơi đề cập đến các vấn đề pháp lý liên quan đến đất đai, một chủ đề cũng có sự giao thoa giữa văn hóa và pháp luật. Ngoài ra, bài viết Pháp Luật Giá Đất và Thực Tiễn Áp Dụng Tại Tỉnh Quảng Ninh sẽ cung cấp thêm thông tin về cách thức áp dụng pháp luật trong thực tiễn, giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về hệ thống pháp lý hiện hành. Cuối cùng, bài viết Luận Văn Thạc Sĩ Về Thu Hồi Đất và Thực Tiễn Áp Dụng Tại Huyện Mỹ Đức, Hà Nội cũng là một nguồn tài liệu quý giá, giúp bạn hiểu rõ hơn về các quy định pháp luật liên quan đến đất đai trong bối cảnh cụ thể của Việt Nam.

Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn mở ra nhiều góc nhìn mới cho bạn trong việc nghiên cứu và tìm hiểu về văn hóa và pháp luật Việt Nam.