Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THẨM MĨ VÀ THƠ XUÂN QUỲNH 1. Những vấn đề lí luận 1. Khái niệm thẩm mĩ Theo Từ điển Tiếng Việt: “Thẩm mĩ là cảm thụ và hiểu biết về cái đẹp” [12;580]. Đấy là cách hiểu chung về thẩm mĩ.
Qua khái niệm này, có thể thấy thẩm mĩ là một hiện tượng mang tính chủ quan. Sự cảm thụ và hiểu biết về cái đẹp phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Trong đó, hai yếu tố cơ bản là nhận thức về cái đẹp và sự thụ hưởng cái đẹp.Belinsky, cảm xúc thẩm mĩ hay cảm xúc về cái đẹp – cái kiều diễm “là một điều kiện làm nên phẩm giá con người”. Ông khẳng định: “phải có nó mới có thể có được trí tuệ, phải có nó nhà bác học mới cất mình lên tới những tư tuởng tầm cỡ thế giới, mới hiểu được bản chất và các hiện tượng trong tính thống nhất của chúng; phải có nó người cộng sản mới có thể hiến dâng cho tổ quốc những hoài vọng cá nhân, lẫn những lợi ích riêng tư của mình; phải có nó con người mới không qụy ngã dưới sức đè nặng trĩu của cuộc đời và làm nên những chiến công.
Thiếu nó, thiếu đi cái cảm xúc ấy, sẽ không có thiên tài, không có tài năng, không có trí thông minh, mà chỉ còn lại một thứ đầu óc tỉnh táo một cách ti tiện cần thiết cho thói sinh hoạt thường ngày trong nhà, cho những tính toán nhỏ nhen của bệnh ích kỉ” [17;1]. Belinsky nhấn mạnh yếu tố cốt lõi trong phẩm giá con người chính là sự thức nhận các giá trị từ góc độ cái đẹp, từ qui luật của cái đẹp. Cái đẹp đã xuất hiện từ rất lâu, nó có mặt trong mọi phương diện của cuộc sống, từ tự nhiên, xã hội, tinh thần, vật chất. Ở mỗi lĩnh vực lại có những quan điểm khác nhau về cái đẹp – về vấn đề thẩm mĩ.
Những quan điểm tiếp cận vấn đề thẩm mĩ 1. Từ quan niệm của mỹ học Chúng ta biết rằng, mỹ học là một khoa học nghiên cứu bản chất của ý thức thẩm mĩ và hoạt động thẩm mĩ của chính con người. Qua đó, khám phá, phát minh ra những giá trị trên cơ sở qui luật của cái đẹp. Cũng chính vì vậy, trong mỹ học, cái đẹp được xem là phạm trù mỹ học cơ bản và cũng là phạm trù mỹ học trung tâm.
Xét về nguồn gốc của cái đẹp từ quan điểm của mỹ học: Theo Kant thì “cái đẹp theo quan điểm chủ quan của con người”. Các tư tưởng về vấn đề này được trình bày trong tác phẩm “Phê phán khả năng phán đoán”. Kant khẳng định: “không có khoa học về cái đẹp, chỉ có phán đoán cá nhân về cái đẹp”. Đẹp hay không còn phụ thuộc vào sở thích của mỗi người.
Ông chia cái đẹp thành bốn phương diện: cái đẹp về chất lượng; cái đẹp về số lượng; cái đẹp về tương quan và cái đẹp về hình thái. Tất cả bốn phương diện về cái đẹp đều do chủ quan của con người quyết định [8;11]. Khác với Kant, G.Hegel lại xuất phát từ những quan điểm trong hiện tượng luận tinh thần để nghiên cứu về cái đẹp.Hegel: “bản chất của cái đẹp là biểu hiện của ý niệm tuyệt đối”.Hegel khẳng định ý niệm vận động đến tuyệt đối thì sản sinh ra cái đẹp đầy đủ. Cái đẹp là biểu hiện đầy đủ của ý niệm chung trong một hiện tượng cá biệt.
Cái đẹp của nghệ thuật là sự biểu hiện của tinh thần tuyệt đối trong hình tượng [8;11]. Theo Tsécnưsépxki “cái đẹp là cuộc sống”. Một thực thể đẹp là thực thể trong đó ta nhìn thấy cuộc sống đúng như quan niệm của chúng ta. Một đối tượng đẹp là đối tượng trong đó cuộc sống được thể hiện hay là nhắc ta nghĩ đến cuộc sống [8;12].
Khác với ba khuynh hướng trên và tiếp thu một số thành tựu cơ bản của ba khuynh hướng trên, xây dựng hệ thống lý luận về giá trị, C.Ăngghen đã tiếp cận cái đẹp từ lao động, từ bản chất xã hội, từ quan hệ giá trị. Cái đẹp ra đời từ lao động: “Trong quá trình lao động, trong quá trình tác động giữa đối tượng và chủ thể nghệ thuật ra đời. Nghệ thuật xuất hiện vừa biểu hiện nhu cầu cao quý của con người trong lao động vừa đánh dấu bước nhảy vọt lớn của lao động thành thạo. Nghệ thuật là nơi tập trung cái đẹp và cái đẹp trong nghệ thuật không chỉ là sự phản ánh cái đẹp trong hiện thực mà còn gắn với cái đẹp của tư tưởng, tình cảm, khát vọng của con người” [8;13].
Cái đẹp là một giá trị: “Thông qua quá trình tác động cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội, cải tạo bản thân mình, con người dần dần phát hiện ra các giá trị của tự nhiên trong đó có giá trị thẩm mĩ mà biểu hiện tập trung nhất là cái đẹp.Ăngghen khẳng định, cái đẹp không phải là cái vốn có trong thiên nhiên thuần túy, cũng không phải là cái được nhận thức một cách tùy tiện do cảm giác chủ quan của cá nhân. Cái đẹp là một phạm trù giá trị. Nó xuất hiện và không ngừng phát triển từ trong thực tiễn sản xuất và chiến đấu của xã hội, con người. Trong tư tưởng của C.Ăngghen cái đẹp ra đời, tồn tại và phát triển trong lao động sản xuất, chinh phục tự nhiên, đấu tranh giai cấp và cải tạo xã hội.
Bản chất của cái đẹp là do những quan hệ xã hội quy định. Nhưng bản chất của cái đẹp không phải sinh thành bất biến mà luôn luôn vận động, biến đổi và phát triển của cuộc sống đặc biệt là của các quan hệ thẩm mĩ. Trong học thuyết giá trị của C.Mác cho rằng cái đẹp phải có các thước đo xã hội. Học thuyết giá trị là cơ sở quan trọng nhất không chỉ để minh chứng cho nguồn gốc và bản chất của cái đẹp mà còn làm sáng tỏ ý nghĩa quan trọng của chính sự vận động lịch sử của cái đẹp trong đời sống xã hội” [8;14].
Cái đẹp mang tính xã hội: 8 “Trong quan niệm của C.Ăngghen, những sự biến thiên của mọi quan hệ xã hội kể cả quan hệ thẩm mĩ. Do đó cái đẹp cũng có số phận thăng trầm cùng với những sự đổi thay của xã hội. Với việc phát hiện ra lao động là nguồn gốc của cái đẹp, C.Mác còn phát hiện ra bản chất của cái đẹp. Bản chất này không chỉ đơn thuần gắn với lao động mà còn gắn với các quá trình lịch sử xã hội với những thước đo khác nhau của dân tộc, giai cấp, thời đại…” [8;14].
Xét về bản chất của cái đẹp nhà nghiên cứu Đào Duy Thanh có một bài Blog bàn về bản chất cái đẹp, ông viết: “Cái đẹp là một phạm trù trung tâm của mỹ học. Bởi vì, một mặt mỹ học phải giải thích nguồn gốc, bản chất và quy luật chung của cái đẹp; mặt khác, trong thế giới hiện thực có rất nhiều những hiện tượng thẩm mĩ cũng nằm trong đối tượng nghiên cứu của mỹ học có quan hệ với cái đẹp như: cái xấu, cái bi, cái hài, cái cao cả, cái thấp hèn. Cái đẹp giữ vị trí trung tâm của quan hệ thẩm mỹ, dùng để khái quát những giá trị xã hội tích cực, khách quan, rộng rãi của hiện thực thẩm mỹ, xuất phát từ thực tiễn, tồn tại dưới dạng hình tượng toàn vẹn, cụ thể – cảm tính phù hợp với tình cảm, thị hiếu và lý tưởng thẩm mĩ của xã hội nhất định. Như vậy, ngọn nguồn của bản chất vươn tới cái đẹp, sáng tạo theo quy luật của cái đẹp, đầu tiên nằm trong bản chất tự nhiên, sinh học rồi phát triển rộng ra xã hội trong tiến trình lịch sử của con người.
Có hiểu như vậy mới khắc phục được tính phiến diện trong sự cảm thụ, đánh giá và sáng tạo cái đẹp” [16;1]. Nghiên cứu của Đào Duy Thanh nhấn mạnh bản chất của cái đẹp. Xét từ quan niệm của mỹ học thì cái đẹp được nghiên cứu theo nhiều phương diện, trong đó phần lớn được tìm hiểu từ nguồn gốc, sự vận động đến bản chất. Có nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu cái đẹp và mỗi người lại có những cách nhìn nhận, ý kiến khác nhau từ phạm trù thẩm mĩ.
Khi nghiên cứu ta sẽ có cái nhìn toàn diện hơn về cái đẹp. Từ quan niệm của lí luận văn học 9 Nghệ thuật phản ánh hiện thực, tất cả các phạm vi của nghệ thuật đều dựa trên mối quan hệ với con người. Nếu các ngành khoa học tìm đến các sự vật, hiện tượng thẩm mĩ ở góc độ bản chất, quy luật của nó thì trong văn học là đi khám phá, tìm hiểu mối quan hệ của con người với thế giới xung quanh. Đối tượng chính của nghệ thuật là con người.
Văn học nói chung và các tác phẩm văn học nói riêng thì đều phải có giá trị thẩm mĩ. Trong nghệ thuật, lý tưởng thẩm mĩ góp phần định hướng tư duy theo tiêu chí Chân – Thiện – Mỹ. Những người nghệ sĩ, qua hoạt động nghệ thuật của mình, đã khẳng định những tư tưởng tiến bộ, nhằm phục vụ cho những điều tốt điều thiện và những thứ cao cả đẹp đẽ. Luôn khát khao vươn tới cái đẹp, nếu thiếu nó thì nghệ thuật sẽ mất đi sức mạnh cơ bản, sẽ không thể thanh lọc tâm hồn con người và cải tạo xã hội.
Cho nên, nghệ thuật không những phản ánh qui luật của đời sống mà còn phản ánh cách đánh gía thẩm mĩ về đời sống. Thơ ca như một hình thái thẩm mĩ đặc thù Văn học nói chung, vốn là một hình thái ý thức xã hội như chính trị, tôn giáo, đạo đức… Song đó là một hình thái ý thức xã hội đặc thù, một hình thái phản ánh thẩm mĩ. Đây cũng là cội nguồn tạo ra văn học, nghệ thuật, trong đó có thơ ca. Sự hình thành và phát triển của thơ xuất phát từ xúc cảm thăng hoa của con người, là niềm vui, nỗi buồn, hạnh phúc, khổ đau.
Trạng thái tột cùng của cảm xúc sẽ tạo thành năng lượng đặc biệt mà ở những chủ thể tài năng sự phát khởi cảm xúc đó sẽ được kết lại trong ngôn ngữ đẹp, có vần điệu. Thơ quyến rũ người đọc bằng cả niềm vui và nỗi buồn. Vì vậy trong thơ không chỉ niềm vui mới đem đến cảm xúc đẹp, ngay cả nỗi buồn cũng có sức lay động, không chỉ niềm vui an ủi ta, ngay cả nỗi buồn cũng động viên ta. Trong thơ, các nhà lí luận cho rằng: “Lí tưởng thẩm mĩ là tiền đề và khởi điểm của phản ánh thẩm mĩ”, là “tâm thế phản ánh nghệ thuật” của nhà văn” 10 [13;35].