đặt vấn đề nhận thức lại mối quan hệ giữa văn nghệ và chính trị không phải là yêu cầu tách rời văn nghệ với chính trị, nhƣ một số ngƣời đã nghĩ. Nhận thức này chỉ giúp nhà văn hiểu rõ hơn đặc trƣng của văn học cũng nhƣ vị trí và sứ mạng riêng của ngƣời cầm bút đối với cuộc sống, khuyến cáo họ không dừng lại ở việc minh họa các khẩu hiệu, cổ vũ cho các phong trào, giúp vào việc thực hiện các chủ trƣơng, chính sách của Nhà nƣớc, mà phải miêu tả số phận của con ngƣời, mang đến cho con ngƣời cái đẹp, tình yêu cuộc sống cũng nhƣ sự từng trải, làm phong phú thêm kinh nghiệm sống của mỗi cá nhân, đồng thời phải nghiên cứu những vấn đề của xã hội đang diễn ra hay đã lùi vào quá khứ, từ đó rút ra những bài học, những tƣ tƣởng mang tính khái quát, không chỉ quan trọng về triết học, đạo đức, nhân sinh mà còn có thể mang ý nghĩa chính trị lớn lao. Khái lƣợc về tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới 1. Những nét chung về thể loại tiểu thuyết Tiểu thuyết là hình thức tự sự cỡ lớn đặc biệt phổ biến trong thời cận và hiện đại.
Với những giới hạn rộng rãi trong hình thức trần thuật, tiểu thuyết có thể chứa đựng lịch sử của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục đạo đức xã hội, miêu tả cụ thể các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng. Không phải ngẫu nhiên mà thể loại tiểu thuyết chiếm địa vị trung tâm trong hệ thống thể loại văn học cận đại, hiện đại. Nhà văn Phạm Quỳnh trong Bàn về tiểu thuyết cho rằng: “Tiểu thuyết là một truyện viết bằng văn xuôi đặt ra để tả tình tự ngƣời ta, phong tục xã hội hay là những sự lạ tích kì đủ làm cho ngƣời đọc hứng thú, hay nói cách khác, đó là một truyện bịa đặt thú vị. Tiểu thuyết có khả năng rất lớn trong việc tái hiện những bức tranh đời sống với quy mô lớn, trong đó nó chứa đựng những vấn đề sâu sắc của đời sống xã hội, con ngƣời.
Nghĩa là tiểu thuyết có khả năng phản ánh hiện thực một cách sinh động, khái quát cả bề rộng lẫn chiều sâu. Trên thực tế, có rất nhiều nhà văn đã thành công trong sự nghiệp viết văn của mình nhờ thể loại tiểu thuyết. Phƣơng Tây có Bandắc, Stăngđan, Huygô, L.Tônxtôi… Phƣơng Đông, mà chủ yếu là Trung Quốc có Thi Nại Am, Tào Tuyết Cần, La Quán Trung, Ngô Thừa Ân… Ở Việt Nam, thể loại tiểu thuyết cũng có sức hấp dẫn với nhiều nhà văn. Các tên tuổi lớn nhƣ Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng… đều trƣởng thành và khởi sắc từ tiểu thuyết.
Cấu trúc của tiểu thuyết hết sức linh hoạt. Ƣu thế của thể loại không chỉ bộc lộ ở khả năng mở rộng đƣờng biên hiện thực mà còn ở khả năng thâu tóm, dồn ép nhân vật, sự kiện vào một khoảng không gian ngắn, thời gian hẹp… để tạo nên những bức tranh hiện thực có quy mô vừa và nhỏ. Trên nền của những bức tranh đời sống đã đƣợc thu hẹp đó, nhà văn thuận lợi hơn khi đi sâu vào những cảnh ngộ riêng của nhân vật. Chúng ta sẽ bắt gặp điều này khi đến với các tác phẩm Lão Gôriô của Banzắc, Anna Carêrina của L.Tônxtôi, Những người khốn khổ của Victo Huygô, Sống mòn của Nam z Cao, Thời xa vắng của Lê Lựu, Thân phận tình yêu của Bảo Ninh, Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai… Trong tiểu thuyết, khoảng cách giữa ngƣời kể chuyện và nhân vật đƣợc rút ngắn thậm chí bị xóa bỏ.
Nhà văn có thể thâm nhập, đi sâu vào tận cùng mọi ngõ ngách tâm trạng của nhân vật. Nhân vật là yếu tố tập trung nhất quan niệm của nhà văn, thể hiện quan điểm nghệ thuật, phong cách của nhà văn. Chính vì vậy con ngƣời trong tiểu thuyết là những con ngựời nếm trải. Đó là những con ngƣời luôn có suy nghĩ, đấu tranh, dằn vặt nội tâm và luôn suy tƣ trăn trở trƣớc số phận và cuộc đời.
Khái lƣợc về tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới Cuộc kháng chiến chống Mĩ kết thúc thắng lợi, đất nƣớc đƣợc hoàn toàn giải phóng. Hoàn cảnh thay đổi, con ngƣời thay đổi do đó văn học cũng phải thay đổi để phản ánh hiện thực. Từ năm 1975 đến nay, văn học Việt Nam đã trải qua 3 chặng đƣờng phát triển: Từ 1975 – 1985: Thời kì chuyển tiếp từ văn học sử thi mang cảm hứng lãng mạn thời chiến sang văn học thời hậu chiến. Từ 1985 đến những năm đầu thập kỉ 90: Văn học có sự chuyển đổi mạnh mẽ mang đậm màu sắc đời tƣ, thế sự.
Từ giữa những năm 90 đến nay: Văn học hƣớng đến những cách tân nghệ thuật đồng thời đi sâu vào nội tâm con ngƣời. Sau 1975 đất nƣớc thống nhất, hòa bình đƣợc lập lại, cả nƣớc lại sôi nổi bƣớc vào một thời kì mới xây dựng xã hội chủ nghĩa và khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh. Từ cuộc sống thời chiến chuyển sang cuộc sống thời bình, với không khí mới, hoàn cảnh mới. Nhịp sống khẩn trƣơng, vội vã trong chiến tranh đã lắng lại, con ngƣời cũng trở lại với nhịp sống bình thƣờng, trở về với đời thƣờng cùng những nỗi lo toan thƣờng nhật.
z Quá trình đổi mới tiểu thuyết từ sau 1975 bắt đầu tƣơng đối sớm nhƣng âm thầm truyền tải qua các tác phẩm: Miền cháy (1977) của Nguyễn Minh Châu; Cha và con và…( 1979) của Nguyễn Khải… Có thể nói tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới tiếp nối dòng cảm hứng sử thi của văn học giai đoạn 1945 – 1975 nhƣng đã có sự đổi mới trên bình diện tƣ duy nghệ thuật, cảm hứng sáng tạo, kết cấu tác phẩm. Tiểu thuyết giai đoạn này đã hạn chế cái nhìn lí tƣởng, anh hùng hóa nhân vật. Từ cảm hứng ngợi ca hào sảng các nhà văn đã đi sâu vào sự chiêm nghiệm, suy tƣ. Thời kì này chất đời tƣ, thế sự lấn át hoàn toàn chất sử thi, anh hùng ca của văn học thời kì trƣớc.
Văn học phát triển theo khuynh hƣớng nhận thức lại hiện thực với cảm hứng phê phán mạnh mẽ trên tinh thần nhân bản. Sự đổi mới của văn học diễn ra trên nhiều bình diện, nhiều thể loại… Trong đó thể loại tiểu thuyết đƣợc ghi nhận là một trong những thể loại có nhiều thành tựu. Bầu sữa nuôi dƣỡng tiểu thuyết bao giờ cũng là cuộc sống thực với tất cả sự phong phú, đa dạng và phức tạp của nó. Nhƣng không phải bất cứ cuộc sống nào cũng là mảnh đất thuận lợi của tiểu thuyết.
Thể loại văn học này đặc biệt phát triển trong những thời kì mà xã hội có biến chuyển dữ dội. Với tiểu thuyết Thời xa vắng Lê Lựu đƣợc coi nhƣ một trong những ngƣời tiên phong trong công cuộc đổi mới này. Cùng với các tên tuổi nhƣ Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Bảo Ninh, Chu Lai, Nguyễn Khắc Trƣờng, Dƣơng Hƣớng…Lê Lựu đã góp phần tạo nên sự chuyển đổi đáng kể trong văn học nói chung, thể loại tiểu thuyết nói riêng. Sự đổi mới trƣớc hết và quan trọng là đổi mới tƣ duy nghệ thuật.
Bằng cảm quan, bằng sự nhạy cảm của ngƣời nghệ sĩ, các nhà văn đã khám phá và phản ánh những bi kịch đời thƣờng của cá nhân con ngƣời với cảm hứng cảm thông và phê phán mạnh mẽ. Những tác phẩm tiêu biểu thời kì này nhƣ: Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (Nguyễn Minh Châu); Thời xa vắng (Lê Lựu); Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng); Thân phận tình yêu (Bảo Ninh); Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai); Bến không chồng (Dƣơng Hƣớng) đã chứng minh điều đó. Văn học thời kì này từ chỗ thiên về phản ánh những cái tích cực, tốt đẹp chuyển sang phản ánh hiện thực trong sự vận động đa dạng, đa chiều. Sự đan xen phức tạp z giữa cái tốt và cái xấu; cái đƣợc và cái mất; cái tích cực và cái tiêu cực; bóng tối và ánh sáng trở thành nội dung phản ánh chủ yếu của văn học.
Văn học còn có sự đổi mới tƣ duy nghệ thuật trong cách nhìn, trong quan niệm về con ngƣời. Con ngƣời đƣợc nhìn nhận trong sự toàn diện, đa chiều và đa sự. Con ngƣời trong tiểu thuyết đƣợc mô tả là những thể mâu thuẫn trong thống nhất. Đó là sự tổng hòa của các phạm trù tốt - xấu; cao quý - thấp hèn; mạnh mẽ - nhu nhƣợc… Tuy nhiên, các nhà tiểu thuyết luôn gửi gắm niềm tin đối với con ngƣời và cuộc sống qua những hình tƣợng nghệ thuật.
Con ngƣời luôn vƣơn lên chiếm lĩnh những giá trị muôn đời của Chân, Thiện, Mĩ. Con ngƣời không đƣợc tô vẽ lí tƣởng hóa mà sống thật với bản chất hiện thực. Đó là những con người này nhƣ cách gọi của Hêghen. Bên cạnh sự thay đổi về tƣ duy nghệ thuật, văn học thời kì này còn có sự thay đổi về cảm hứng sáng tạo.
Nếu trƣớc năm 1975, cảm hứng chủ đạo trong văn học là cảm hứng sử thi lãng mạn thì sau năm 1975 văn học đậm đặc cảm hứng đời tƣ, thế sự đầy suy tƣ, lắng đọng. Văn học từ sự phản ánh cái ta, cái chung mang tính cộng đồng thì nay đã đi sâu vào nội tâm, cá nhân, cá thể. Nhà văn quan tâm mô tả nỗi niềm tâm sự, những bất hạnh, bi kịch, những hạnh phúc ngọt ngào trong cuộc sống cá nhân con ngƣời ở những không gian cụ thể. Chính hiện thực cuộc sống phong phú, bề bộn, phức tạp nhiều chiều đã trở thành mảnh đất màu mỡ để tài năng các nhà văn có điều kiện nở rộ.
Những số phận đầy bi kịch của con ngƣời hiện lên ám ảnh, day dứt trong sáng tác của Lê Lựu, Bảo Ninh, Chu Lai… Đi sâu phản ánh thân phận con ngƣời, tiểu thuyết sau 1975 đã bộc lộ cảm hứng phê phán mạnh mẽ. Trong sáng tác của Lê Lựu, Ma Văn Kháng, Bảo Ninh, Dƣơng Hƣớng… cảm hứng phê phán đƣợc biểu hiện qua việc phản ánh những kẻ thực dụng, mƣu đồ, tha hóa nhân cách đạo đức, về sự hoành hành của cái ác; sự tồn tại mặc nhiên của những mối thù truyền kiếp giữa các gia đình, các dòng họ, xóm làng. Phê phán, lên án cái xấu, cái ác, lên án sự tha hóa biến chất của con ngƣời các nhà tiểu thuyết dƣờng nhƣ tha thiết truyền tải đến mọi ngƣời lời cảnh tỉnh hãy nuôi dƣỡng những giá trị nhân bản, nhân văn có ở mỗi ngƣời. Hãy cứu lấy nhân cách con z ngƣời trƣớc khi quá muộn.