Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Sau Đại thắng Mùa Xuân năm 1975 và đặc biệt từ mốc Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986), xã hội Việt Nam bước vào giai đoạn đổi mới toàn diện. Bối cảnh lịch sử hòa bình cùng quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường đã làm nảy sinh những biến chuyển sâu sắc trong đời sống kinh tế, xã hội và tâm lý con người. Nền văn học cách mạng từng vận động theo khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn trong suốt giai đoạn 1945–1975 dần bộc lộ sự bất cập khi đời sống thời bình đòi hỏi văn học phải nhìn thẳng vào hiện thực thế sự, đạo đức và số phận cá nhân.
Trong bối cảnh đó, truyện ngắn nổi lên như một thể loại xung kích, năng động hàng đầu trên văn đàn. Với số lượng xuất bản lớn (trung bình hằng ngày có trên dưới hai mươi truyện ngắn được in trên các báo và tạp chí), truyện ngắn phản ánh kịp thời và nhạy bén những chuyển biến phức tạp của đời sống tâm hồn dân tộc. Việc khảo sát những cách tân nghệ thuật của truyện ngắn trở thành một yêu cầu khoa học cấp thiết nhằm nhận diện diện mạo và quy luật vận động của văn học Việt Nam đương đại.
Khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Hệ thống hóa bối cảnh lịch sử - xã hội và những chuyển biến trong diện mạo, thành tựu của truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975.
- Khảo sát và làm rõ những cách tân nghệ thuật nổi bật ở phương diện tổ chức cốt truyện và xây dựng thế giới nhân vật.
- Phân tích các bình diện đổi mới trong nghệ thuật trần thuật, tổ chức giọng điệu và sáng tạo ngôn ngữ nghệ thuật của thể loại.
Đối tượng và phạm vi khảo sát của khóa luận tập trung vào hệ thống truyện ngắn tiêu biểu giai đoạn sau năm 1975 của các tác giả đại diện: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Vũ Tú Nam, Dương Thu Hương, Cao Duy Thảo, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Ngọc Tư, Lê Minh Khuê, Phạm Thị Minh Thư,...
Lịch sử nghiên cứu vấn đề được tác giả tổng hợp từ các công trình tiêu biểu:
- Bài viết "Những thành tựu của truyện ngắn sau 1975" (Tạp chí Văn học, 1996) của Bích Thu.
- Công trình "Văn học Việt Nam sau 1975 - Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy" (Nxb Giáo dục, 2006) của Nguyễn Văn Long.
- Luận văn Thạc sĩ "Truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975 – 1985" (Đại học Sư phạm Thái Nguyên, 2009) của Nguyễn Thị Minh Nguyệt.
- Chuyên khảo "Văn xuôi Việt Nam 1975-1995 - Những đổi mới cơ bản" của Nguyễn Thị Bình.
- Các tiểu luận của Lê Thị Hường ("Các kiểu cấu trúc của truyện ngắn hôm nay"), Lê Huy Bắc ("Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại").
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận vận dụng khung lý thuyết thi pháp học văn học, tập trung vào các phạm trù: quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con người (Trần Đình Sử, Mikhail Bakhtin), lý thuyết cốt truyện, lý thuyết nhân vật tự sự, nghệ thuật trần thuật và ngôn ngữ văn xuôi nghệ thuật (tham chiếu từ Từ điển thuật ngữ văn học cùng quan niệm của Johann Wolfgang von Goethe, W. Somerset Maugham, Leo Tolstoy, Nguyễn Tuân).
Tác giả sử dụng phối hợp ba phương pháp nghiên cứu chuyên ngành:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Đi sâu phân tích các tác phẩm, tình huống, nhân vật, chi tiết nghệ thuật cụ thể; từ đó tổng hợp thành các đặc điểm thi pháp và quy luật cách tân thể loại.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu đặc điểm hình thức nghệ thuật của truyện ngắn giai đoạn sau 1975 với giai đoạn 1945–1975 (và giai đoạn 1930–1945) nhằm làm nổi bật tính chất đổi mới.
- Phương pháp hệ thống: Đặt các yếu tố hình thức (cốt truyện, nhân vật, trần thuật, giọng điệu, ngôn ngữ) trong chỉnh thể cấu trúc nghệ thuật của tác phẩm tự sự để bảo đảm tính logic khoa học.
Nguồn dữ liệu nghiên cứu bao gồm các tập truyện ngắn, tuyển tập truyện ngắn tiêu biểu xuất bản sau năm 1975, cùng hệ thống tài liệu lý luận, phê bình văn học đã được công bố tại Việt Nam.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề chung
Chương 1 phác họa bức tranh tổng thể về tiền đề lịch sử, xã hội và những chuyển biến cốt lõi trong tư duy nghệ thuật của văn học sau năm 1975:
- Bối cảnh lịch sử, xã hội: Đất nước thống nhất năm 1975 nhưng bước vào giai đoạn khủng hoảng kinh tế - xã hội thời kỳ bao cấp, đối mặt với chiến tranh biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc. Công cuộc Đổi mới khởi xướng từ Đại hội Đảng VI (1986) tạo tiền đề tư tưởng cho đổi mới văn học. Sự phát triển của hoạt động dịch thuật văn học đương đại Âu - Mỹ sau năm 1975 góp phần quan trọng làm thay đổi thị hiếu thẩm mỹ của độc giả và thúc đẩy ý thức đổi mới cách viết của nhà văn.
- Diện mạo và thành tựu của truyện ngắn sau 1975:
- Chuyển biến trong quan niệm hiện thực: Chuyển từ hiện thực sử thi một chiều, lãng mạn hóa thời chiến sang hiện thực thế sự, đời tư đa chiều, ngổn ngang bề bộn với đầy đủ mặt tốt - xấu, ánh sáng - bóng tối. Chiến tranh được nhìn nhận lại gắn liền với số phận con người cá nhân (Hai người trở lại trung đoàn của Thái Bá Lợi, Năm tháng đi qua của Nguyễn Thị Như Trang, Một chiều xa thành phố của Lê Minh Khuê).
- Chuyển biến trong quan niệm con người: Từ con người cộng đồng, tập thể, nhân danh nghĩa vụ chuyển sang con người cá nhân, bản ngã với thế giới tâm lý phức tạp, con người tự nhiên mang bản năng và dục vọng, và kiểu "con người không bao giờ trùng khít với chính mình" theo quan niệm của Bakhtin (Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu).
- Thành tựu và đội ngũ sáng tác: Khẳng định sự chuyển mình của các tác giả thời kỳ kháng chiến (Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải) và sự xuất hiện của các thế hệ bút hương mới (Nguyễn Huy Thiệp, Chu Lai, Thái Bá Lợi, Lê Minh Khuê, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Ngọc Tư, Phạm Thị Hoài,...).
- Đặc điểm nghệ thuật thể loại: Xác lập các khái niệm công cụ về cốt truyện, nhân vật, giọng điệu và ngôn ngữ trong thi pháp truyện ngắn.
| Tiêu chí so sánh |
Văn học giai đoạn 1945–1975 |
Truyện ngắn giai đoạn sau 1975 |
| Khuynh hướng chủ đạo |
Sử thi và cảm hứng lãng mạn |
Thế sự, đời tư, chiêm nghiệm đạo đức |
| Quan niệm hiện thực |
Hiện thực xuôi chiều, tập trung vào chiến thắng, lý tưởng hóa |
Hiện thực đa chiều, ngổn ngang, phơi bày cả mặt trái và nỗi đau |
| Quan niệm con người |
Con người tập thể, nhân danh cộng đồng, phẩm chất anh hùng |
Con người cá nhân, đa diện, bản ngã, có góc khuất và dục vọng |
| Cấu trúc cốt truyện |
Tuyến tính, rạch ròi hai tuyến địch - ta, giàu kịch tính biến cố |
Đa tuyến, lắp ghép, cấu trúc lỏng lẻo, tâm lý hóa |
Chương 2: Những đổi mới ở phương diện cốt truyện và nhân vật
Chương 2 đi sâu phân tích hai thành tố nền tảng của tác phẩm tự sự qua nguồn tư liệu khảo sát phong phú:
- Những đổi mới ở phương diện cốt truyện:
- Cốt truyện đan xen nhiều mạch truyện: Nghệ thuật kể chuyện phá vỡ trật tự biên niên tuyến tính, sử dụng thủ pháp lắp ghép các mảng truyện, lớp truyện gối lên nhau. Tiêu biểu là các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp (Tướng về hưu gồm nhiều mạch truyện xoay quanh tướng Thuấn, cô con dâu Thủy, bố con ông Cơ, ông Bỗng; Con gái thủy thần với ba câu chuyện ghép quanh hành trình của Chương; Những ngọn gió Hua Tát ghép từ 10 truyện nhỏ độc lập); Mười ngày của Phan Thị Vàng Anh (cấu trúc 10 mẩu chuyện tâm lý); Có một đêm như thế của Phạm Thị Minh Thư (hai cốt truyện song hành: thời chiến và thời bình); Sống với thời gian hai chiều của Vũ Tú Nam (đan xen quá khứ 30 năm và hiện tại); Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu (hành trình 5 tiếng dắt bò lồng ghép dòng hồi tưởng cả đời người).
- Cốt truyện có cấu trúc lỏng lẻo và cốt truyện giả thể loại: Giảm thiểu tính ly kỳ của sự kiện bên ngoài, tập trung vào mạch vận động của cảm xúc và dòng ý thức, mô phỏng các dạng thức phi hư cấu, phóng sự, ghi chép hoặc truyện cổ tích.
- Những đổi mới ở phương diện xây dựng nhân vật:
- Nhân vật tự nhận thức: Nhân vật luôn đặt mình vào trạng thái tự vấn, đấu tranh nội tâm gay gắt giữa phần thiên thần và phần ác quỷ để thức tỉnh lương tri. Thể hiện qua nhân vật ông An (Sống với thời gian hai chiều), người họa sĩ sám hối trước người lính cắt tóc (Bức tranh của Nguyễn Minh Châu), nhân vật Quỳ đau đớn nhận ra sự ảo tưởng về cái tuyệt đối (Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành), nhân vật Hạng tự mổ xẻ sự tha hóa do "luật sống khoảng cách" (Hạng), vợ Luyến (Mất điện của Ma Văn Kháng), và chú bé Kiểm với bản tính lương thiện phi thường (Kiểm - Chú bé - Con người của Ma Văn Kháng).
- Nhân vật cô đơn, lạc lõng: Khác với văn học 1930–1945 (cô đơn dẫn đến bế tắc, đập phá) và văn học 1945–1975 (xem cô đơn là chủ đề kiêng kị), văn học sau 1975 xem cô đơn là một trạng thái bản thể mà con người phải chấp nhận và sống chung. Biểu hiện qua tướng Thuấn lạc lõng giữa lối sống thực dụng của gia đình (Tướng về hưu), chị em Nương và Điền trôi dạt giữa cõi người (Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư), ông Tư bị tước đoạt danh dự bởi miệng lưỡi thế gian (Đau gì như thể), nhân vật Đính cô đơn đấu tranh cho lẽ phải (Người không đi cùng chuyến tàu của Nguyễn Quang Thân), Ngân cô đơn trong nhung lụa (Những bông bần li của Dương Thu Hương).
- Nhân vật tìm kiếm: Nhân vật mải miết dấn thân tìm kiếm hạnh phúc, công lý, sự thật hoặc cứu chuộc lỗi lầm. Minh chứng qua người cha đi tìm con Cải suốt 12 năm (Cải ơi của Nguyễn Ngọc Tư), người mẹ hơn 60 tuổi lặn lội tìm chân tướng người con liệt sĩ (Thời gian của Cao Duy Thảo), nhân vật Chương dành cả nửa đời người đuổi theo huyền thoại Mẹ Cả (Con gái thủy thần).
| Kiểu nhân vật cách tân |
Đặc điểm thi pháp cốt lõi |
Tác phẩm và nhân vật khảo sát tiêu biểu |
| Nhân vật tự nhận thức |
Độc thoại nội tâm, tự vấn lương tâm, sám hối đạo đức, mổ xẻ sự tha hóa |
Họa sĩ (Bức tranh), Quỳ (Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành), Hạng (Hạng), Luyến (Mất điện), Kiểm (Kiểm - Chú bé - Con người) |
| Nhân vật cô đơn, lạc lõng |
Rơi vào trạng thái hụt hẫng giá trị, lạc loài trong gia đình và cộng đồng thời bình |
Tướng Thuấn (Tướng về hưu), Nương - Điền (Cánh đồng bất tận), Ông Tư (Đau gì như thể), Ngân (Những bông bần li) |
| Nhân vật tìm kiếm |
Hành trình kiếm tìm giá trị nhân bản, giải oan danh dự, khát vọng giải thoát thực tại |
Ông Út Vũ/Năm Nhỏ (Cải ơi), Bà mẹ (Thời gian), Chương (Con gái thủy thần) |
Chương 3: Những đổi mới trong nghệ thuật trần thuật, giọng điệu và ngôn ngữ
Chương 3 tổng kết sự biến đổi ở tầng vi mô của văn bản tự sự qua ba bình diện:
- Nghệ thuật trần thuật:
- Sự dịch chuyển điểm nhìn từ người kể chuyện toàn tri mang tính áp đặt của cộng đồng sang trần thuật ngôi thứ nhất (nhân vật "tôi" tự trải nghiệm, tự phơi bày nhận thức).
- Trần thuật men theo dòng ký ức nội tâm, phá vỡ trật tự không gian - thời gian thực tại để đi sâu vào tiềm thức nhân vật.
- Đa dạng hóa và luân chuyển điểm nhìn giữa nhiều nhân vật, tạo ra cấu trúc đa thanh, đối thoại bình đẳng giữa các ý thức trong tác phẩm.
- Sự đa dạng của giọng điệu nghệ thuật:
- Xuất hiện phong phú các sắc thái giọng điệu: giọng trầm tĩnh, khách quan; giọng đối thoại, phê phán xã hội; giọng chiêm nghiệm, tự vấn; giọng hài hước, giễu nhại và hoài nghi thế sự (như trong văn xuôi Nguyễn Huy Thiệp, Phan Thị Vàng Anh).
- Giọng điệu triết lý, suy tư về quy luật nhân sinh và bản chất của cái thiện, cái ác trong cuộc sống thời bình.
- Đổi mới ngôn ngữ văn nghệ thuật:
- Đưa ngôn ngữ đời thường, đậm tính khẩu ngữ, sinh hoạt, thông tục vào văn chương thay thế cho thứ ngôn từ trang trọng, chuẩn mực thời chiến.
- Gia tăng tính tốc độ, hàm súc, thông tin triết luận trong câu văn tự sự.
- Khai thác đậm nét dấu ấn phương ngữ, sắc thái văn hóa vùng miền (tiêu biểu là ngôn ngữ sông nước Nam Bộ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư).
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được những kết quả khoa học cụ thể:
- Hệ thống hóa các bình diện cách tân thi pháp: Phân tích toàn diện và có hệ thống sự đổi mới của truyện ngắn sau 1975 trên cả 5 phương diện: cốt truyện, nhân vật, trần thuật, giọng điệu và ngôn từ.
- Khái quát sự chuyển dịch hệ hình tư duy nghệ thuật: Chứng minh sự chuyển dịch tất yếu từ mô hình phản ánh hiện thực sử thi sang mô hình tự sự thế sự - đời tư, từ con người tập thể sang con người cá nhân tự ý thức.
- Đóng góp tư liệu và phân tích văn bản: Khảo sát chi tiết hàng loạt tác phẩm tiêu biểu của các nhà văn giai đoạn Đổi mới (Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Ma Văn Kháng, Nguyễn Ngọc Tư,...), mang lại cứ liệu thuyết phục làm sáng tỏ quá trình vận động của văn học Việt Nam đương đại.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Phạm vi khảo sát của khóa luận chủ yếu tập trung vào các tác phẩm của một số tác giả tiêu biểu; chưa bao quát hết khối lượng truyện ngắn phong phú xuất bản từ sau 1975 đến năm 2013 trên các tạp chí văn nghệ địa phương. Phần phân tích ở Chương 3 mang tính chất khái quát hệ thống, có thể phát triển thành các chuyên đề chuyên sâu hơn.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng so sánh thi pháp truyện ngắn với thể loại tiểu thuyết cùng thời kỳ; nghiên cứu chuyên sâu các yếu tố của thi pháp hậu hiện đại trong truyện ngắn Việt Nam thế kỷ XXI; hoặc đi sâu khảo sát phong cách nghệ thuật của từng tác giả cụ thể (như Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Ngọc Tư).
Giá trị tham khảo
Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn, Văn học Việt Nam, Lý luận văn học khi học tập và nghiên cứu các học phần Văn học Việt Nam hiện đại, Thi pháp học, Phân tích tác phẩm văn học.
- Giáo viên phổ thông trong việc soạn giảng, phân tích các tác phẩm văn học sau 1975 trong chương trình Ngữ văn (như Chiếc thuyền ngoài xa, Bến quê của Nguyễn Minh Châu, Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư).
- Người nghiên cứu quan tâm đến sự vận động của hình thức tự sự và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong văn xuôi Việt Nam thời kỳ Đổi mới.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận phân biệt quan niệm về con người trước và sau năm 1975 ở những điểm cốt lõi nào?
Trước năm 1975, văn học tập trung vào con người quần chúng, sử thi, anh hùng ca; nhân vật cá nhân nếu xuất hiện cũng chỉ nhân danh tập thể và cộng đồng, mang tính nhất phiến, một chiều. Sau năm 1975, văn học chuyển sang quan niệm con người cá nhân, con người bản ngã đời tư với đời sống nội tâm đa diện, phức tạp, tồn tại cả "rồng phượng lẫn rắn rết, thiên thần và ác quỷ", là kiểu "con người không bao giờ trùng khít với chính mình".
2. Thủ pháp "cốt truyện đan xen nhiều mạch truyện" được tác giả minh họa qua những truyện ngắn nào của Nguyễn Huy Thiệp?
Tác giả phân tích qua 3 tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Huy Thiệp: Tướng về hưu (đan xen các mạch truyện riêng biệt về tướng Thuấn, Thủy, con trai, bố con ông Cơ, ông Bỗng, ông Khổng), Con gái thủy thần (cấu trúc 3 câu chuyện ghép nối quanh nhân vật Chương), và Những ngọn gió Hua Tát (tập hợp từ 10 truyện nhỏ độc lập về bản Hua Tát).
3. Kiểu "nhân vật tự nhận thức" được thể hiện như thế nào trong các tác phẩm của Nguyễn Minh Châu?
Trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, nhân vật tự nhận thức trải qua quá trình tự vấn lương tâm gay gắt: người họa sĩ trong Bức tranh tự đấu tranh nội tâm và sám hối về sự thất hứa, bội bạc; nhân vật Quỳ trong Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành đau đớn nhận ra sai lầm khi đòi hỏi sự thánh nhân tuyệt đối ở người thường; nhân vật Hạng trong truyện ngắn cùng tên tự phơi bày quá trình tha hóa nhân cách do tuân thủ "luật sống khoảng cách".
4. Điểm khác biệt của kiểu "nhân vật cô đơn" sau năm 1975 so với giai đoạn 1930–1945 và 1945–1975 là gì?
Trong giai đoạn 1930–1945, con người khi rơi vào tận cùng cô đơn thường có xu hướng tha hóa, gào thét, đập phá để tìm lối giải thoát (như Chí Phèo). Giai đoạn 1945–1975, cô đơn là chủ đề kiêng kị do yêu cầu đề cao tinh thần tập thể. Sau năm 1975, văn học nhìn nhận cô đơn như một trạng thái tồn tại bản thể tất yếu của con người thời bình; nhân vật nhận thức, chấp nhận và học cách sống chung với nỗi cô đơn đó.
5. Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học nào?
Khóa luận vận dụng ba phương pháp nghiên cứu chính: Phương pháp phân tích - tổng hợp (phân tích chi tiết tác phẩm để đúc kết đặc điểm thi pháp), Phương pháp so sánh (đối chiếu truyện ngắn sau 1975 với giai đoạn trước 1975), và Phương pháp hệ thống (đặt các thành tố nghệ thuật trong cấu trúc chỉnh thể của thể loại tự sự).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Thúy An đã cung cấp một bức tranh toàn diện và có hệ thống về quá trình cách tân nghệ thuật của thể loại truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975. Thông qua việc phân tích sâu sắc các bình diện cốt truyện, nhân vật, nghệ thuật trần thuật, giọng điệu và ngôn ngữ, công trình làm sáng tỏ sự chuyển mình mạnh mẽ từ tư duy nghệ thuật sử thi sang cảm quan thế sự - đời tư. Đây là công trình nghiên cứu nghiêm túc, mang giá trị khoa học và tư liệu thiết thực đối với việc nghiên cứu thi pháp văn xuôi Việt Nam thời kỳ Đổi mới.