Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Bối cảnh lịch sử, xã hội Năm 1975, với thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, lịch sử lại sang trang: đất nước hoàn toàn thống nhất. Không còn nữa tiếng bom, tiếng súng, nhân dân cả nước khẩn trương bắt tay vào công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, ổn định đời sống. Cả nước hào hứng bước vào công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Nhưng công cuộc kiến thiết đất nước ở thời bình lại nảy sinh nhiều thách thức, khó khăn: Đường lối lãnh đạo của Đảng thời kỳ này đã lộ rõ khá nhiều bất cập, chủ quan trong đường lối, chính sách và chỉ đạo thực hiện, cơ chế quản lý tập trung, bao cấp với bộ máy hành chính cồng kềnh trở thành lực cản đáng kể đối với sự phát triển của đất nước.
Hậu quả là đất nước phải đối mặt với nguy cơ khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng. Đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn: nhiều lao động chưa có việc làm; nhiều nhu cầu chính đáng, tối thiểu của nhân dân về mặt vật chất và văn hóa chưa được đảm bảo. Thêm vào đó, tình hình quốc tế vào những năm cuối thập niên 80 đã diễn biến ngày càng xấu đi, nhiều nước trong phe xã hội chủ nghĩa lâm vào tình tr ạng khủng hoảng trầm trọng rồi tan rã. Lợi dụng tình hình này, các thế lực thù địch quốc tế ra sức tiến hành cuộc phản kích nhằm triệt tiêu hệ thống xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam.
Từ tháng 5/1975 đến 1977, tại biên giới phía Tây Nam tập đoàn Pôn Pốt – Iêng Xari đỗ bộ xâm lược nhiều vùng lãnh thổ nước ta từ Hà Tiên đến Tây Ninh. Ở biên giới phía Bắc vào tháng 2/1975 Trung Quốc đã mở cuộc tấn công nước ta dọc theo biên giới từ Móng Cái đến Lai Châu. Tuy nhiên bằng ý chí quyết tâm giữ vững nền độc lập bảo vệ nước nhà quân dân ta đã đoàn kết chiến đấu buộc địch phải rút lui. Dù vẫn giữ vững hệ thống XHCN nhưng trước thực trạng lộng quyền, tham nhũng trong bộ máy nhà nước đã khi ến nhân dân giảm lòng tin đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của Nhà nước.
Đúng như nhận xét của nhà văn Nguyễn Khải: “Chiến tranh ồn ào, náo động mà lại có cái yên tĩnh c ủa nó. Hòa bình yên tĩnh, thanh bình mà l ại chứa chấp những sống ngầm, những gió xoáy bên trong. Nhiều người không chết trong nhà tù, trên trận địa trong chiến tranh mà lại chết trong ao tù trưởng giả khi cả nước đã giành đư ợc tự do và độc lập”.26] Trước thực trạng đó, Đảng đã dũng cảm đối diện với sự thật, đã phát huy cao độ ý chí quyết tâm tìm tòi, sáng tạo và đề ra những quyết sách, những giải pháp khắc phục hữu 5 GVHD : Nguyễn Thị Mỹ Nhung SVTH : Trần Thị Thúy An Cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn sau 1975 hiệu. Đại hội Đảng lần thứ VI (tháng 12/1986) đã diễn ra trên tinh thần đó.
Với tư tưởng chỉ đạo cốt lõi là “lấy dân làm gốc, giải phóng mọi năng lực sản xuất, khai thác và sử dụng hiệu quả mọi tiềm năng của đất nước; phải luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hoạt động theo các quy luật khách quan; nhanh chống sửa đổi hoặc bãi bỏ những chủ trương, chính sách không phù hợp với lòng dân”[13, tr.3], một lần nữa Đảng lại chứng tỏ bản lĩnh chính trị và sứ mạng lịch sử trọng đại đối với đất nước, dân tộc. Từng bước, uyển chuyển khéo léo mà kiên định chắc chắn, Đảng đã lãnh đạo thực hiện thành công công cuộc đổi mới toàn diện, giữ vững định hướng XHCN, đã mang đ ến cho Cách mạng nước ta nguồn sức mạnh mới. Sau những năm vận hành theo cơ chế thị trường từ chỗ thiếu ăn, lương thực, thực phẩm đã đáp ứng được nhu cầu trong nước; hàng hóa trên thị trường đa dạng và phong phú, tiến bộ về mẫu mã và chất lượng; từ một nước đói nghèo, nước ta đã tr ở thành nước xuất khẩu gạo; kinh tế đối ngoại phát triển mạnh,… Đời sống vật chất ngày càng được nâng cao.Về cơ bản, nước ta đã thoát khỏi tình trạng khủng hoảng và từng bước vững chắc tiến lên theo định hướng XHCN để xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Trong công cuộc đổi mới toàn diện do Đảng khởi xướng và lãnh đạo từ Đại hội Đảng lần thứ VI thì đổi mới văn học cũng là m ột yêu cầu cấp thiết.
Tuy nhiên, cho đến khoảng những năm 1980 nền văn học cơ bản vẫn tiếp tục phát triển theo quán tính của văn học thời chiến. Đề tài về chiến tranh và người lính vẫn là đề tài cơ bản của nhiều sáng tác văn học, các sáng tác vẫn thể hiện nguyên tắc tư duy nghệ thuật của nền văn học sử thi. Trong khi đó, con người trong cuộc sống thời bình có những mối quan tâm, lo toan mới và tất yếu nảy sinh những nhu cầu giãi bày, thư ởng thức mới. Sự chảy theo quán tính này đã dẫn đến tình trạng mất độc giả.
Nhà văn Nguyên Ngọc đã từng thừa nhận: càng viết, tay nghề càng cao, nhưng những trang văn của ông thì hình như càng ngày càng mất dần độc giả. Và thế là từ sau năm 1980 khuynh hướng sử thi có xu hướng co hẹp lại nhường chỗ cho khuynh hướng thế sự đời tư: đạo đức con người, những bức xúc của đời sống kinh tế và cả nhu cầu xem xét lại một số vấn đề của thời kì chiến tranh, nhu cầu hạnh phúc riêng tư của con người,… Đó là hướng nhìn sâu vào hiện thực. Sự đổi mới bắt đầu từ văn học dịch. Suốt thời gian dài, từ sau Cách mạng tháng Tám cho đến năm 1975, dân ta chỉ được tiếp xúc với nền văn học cổ điển châu Âu qua một số đỉnh cao từ thế kỉ XIX trở về trước.
Văn học nước ngoài đương đại được giới 6 GVHD : Nguyễn Thị Mỹ Nhung SVTH : Trần Thị Thúy An Cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn sau 1975 thiệu ở Việt Nam giới hạn ở sáng tác của các nước trong phe XHCN. Sau năm 1975, hoạt động dịch và giới thiệu nền văn học đương đại Âu – Mỹ diễn ra sôi nổi. Hầu hết những tác phẩm đạt giải Nobel, những tác phẩm ưu tú của các tác gia đương đại thuộc các trường phái nghệ thuật khác nhau như: tượng trưng , siêu thực, trường phái hiện đại,…đã được dịch ra tiếng Việt, và bày bán ở khắp các cửa hàng sách. Mảng văn học dịch này có tác động vô cùng lớn tới quá trình đổi mới văn học Việt Nam.
Nó góp phần làm thay đổi thị hiếu nghệ thuật của đông đảo độc giả, đồng thời khiến cho các nhà văn càng nhận thức rõ hơn sự cần thiết của việc thay đổi cách viết. Có thể nói, trong khoảng thời gian đầu từ 1975 đến 1985 thì trong lĩnh vực sáng tác, khuynh hướng đổi mới chưa trở thành một phong trào rầm rộ. Bằng chứng cụ thể là chưa thấy xuất hiện những cây bút trẻ có khuynh hướng đổi mới. Những nhà văn tiên phong trong giai đoạn này có thể kể đến như Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Nguyễn Mạnh Tuấn,… Đến sau 1986 thì công cuộc cách tân trở nên sôi nổi.
Trong mọi lĩnh vực nghệ thuật, từ văn học, hội họa, âm nhạc, cho đến sân khấu điện ảnh, sự đổi mới diễn ra vô cùng quyết liệt. Văn học dịch vẫn tiếp tục phát triển và phát huy tác dụng. Nhưng giờ đây, có thể nói thành tựu nỗi bật của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới được kết tinh ở truyện ngắn và tiểu thuyết. Sự tìm tòi đổi mới không chỉ ở các nhà văn đã khẳng định được chỗ đứng của mình trong lòng đọc giả như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường…., mà còn ở nhiều tác giả khác xuất hiện trong thời kỳ này, tiêu biểu là Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Lại Văn Long, Dương Hướng, Bảo Ninh,….
Cùng không ít tác phẩm xuất hiện đã tạo nên tiếng vang lớn trên văn đàn và gợi cho nguời đọc bao điều suy ngẫm như Phiên chợ Giát, Thời xa vắng, Tướng về hưu, Nỗi buồn chiến tranh…Các sáng tác này đã t ạo nên diện mạo vừa độc đáo, vừa đa dạng của văn học Việt Nam ở thời kỳ cách tân văn học. Ở chặng đường văn học này vẫn tiếp tục có những tên tuổi mới xuất hiện như Phạm Thị Hoài, Lê Thị Minh Khuê, Phan Thị Vàng Anh,….và còn nhiều tác phẩm đặt ra nhiều vấn đề từ cách nhìn, cách tư duy nghệ thuật mới mà người đọc rất quan tâm như Mảnh đất lắm người nhiều ma của nguyễn Khắc Trường, Bước qua lời nguyền của Tại Duy Anh, Bến không chồng của Dương Hướng, Kẻ sát nhân lương thiện của Lại Văn Long,… 7 GVHD : Nguyễn Thị Mỹ Nhung SVTH : Trần Thị Thúy An Cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn sau 1975 1.2 Vài nét về truyện ngắn sau 1975 1.1 Diện mạo của truyện ngắn Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, cả dân tộc Việt Nam từng bước vượt lên những gian truân thử thách trên chặng đường lịch sử mới để làm nên những thay đổi toàn diện, sâu sắc, nhất là từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cả dân tộc cùng chung tay đoàn kết xây đắp và bảo vệ cuộc đời mới, một tầm thế mới cho Tổ Quốc trên trường quốc tế. Bắt nguồn từ hiện thực đời sống đó, văn học Việt Nam từ sau 1975 mà tiêu biểu là thể loại truyện ngắn đã chuyển mình qua một bước ngoặt mới – chuyển đổi trong quan niệm nghệ thuật về hiện thực, con người.
Quan niệm về hiện thực thể hiện sự khám phá, sự lí giải, trình độ chiếm lĩnh hiện thực của nhà văn. Và mỗi người thường có một vùng đối tượng thẩm mĩ riêng mà tự nó đã ghi đậm dấu ấn của chủ thể sáng tác. Chiến tranh, đó là một hoàn cảnh đặc biệt. Đời sống của con người phải chịu đựng quy định nghiệt ngã của chiến tranh.
Sự sáng tạo nghệ thuật của nhà văn không thể nằm ngoài quy luật đó. Phản ánh và phục vụ cuộc sống có thể xem đó là nguyên tắc sinh tử của văn học nghệ thuật.“Cuộc đời là nơi xuất phát cũng là nơi đi t ới của văn học” (Tố Hữu).