Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam (mã số: 9 22 01 21), được thực hiện tại Học viện Khoa học xã hội trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam năm 2019 bởi nghiên cứu sinh Trần Thị Quỳnh Lê, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Lưu Khánh Thơ và PGS.TS. Nguyễn Thị Bích Thu.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Truyện ngắn là một thể loại văn học có tính năng động và khả năng phản ánh nhanh nhạy trước những biến chuyển của đời sống xã hội. Sau cột mốc năm 1986 – thời điểm khởi đầu công cuộc Đổi mới toàn diện tại Việt Nam – nền văn học dân tộc đã có những bước chuyển đổi sâu sắc về tư duy nghệ thuật, hệ hình thẩm mỹ và phương thức biểu hiện. Trong tiến trình đó, văn học ghi nhận sự tham gia đông đảo của đội ngũ tác giả nữ. Khác với giai đoạn trước năm 1975 khi các tác giả nữ xuất hiện đơn lẻ và tập trung chủ yếu ở thể loại thơ, giai đoạn sau năm 1986 chứng kiến lực lượng cây bút nữ bao quát toàn diện các thể loại văn xuôi, đạt được nhiều thành tựu rõ rệt ở thể loại truyện ngắn.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định xuất phát từ thực tế: mặc dù đã có nhiều bài viết, chuyên luận và đề tài nghiên cứu về tác giả nữ, song đa phần các công trình trước đây chỉ dừng lại ở việc phân tích từng tác giả, tác phẩm riêng lẻ hoặc tiếp cận một phương diện nội dung/nghệ thuật cụ thể. Việc khảo sát, nghiên cứu truyện ngắn nữ một cách toàn diện, hệ thống dưới góc độ lý thuyết giao tiếp, ký hiệu học cấu trúc kết hợp với thi pháp thể loại và diễn ngôn giới tính vẫn chưa được thực hiện thành một công trình chuyên biệt.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của luận án là xác lập các đặc trưng làm nên bản sắc của lối viết nữ thông qua việc khảo sát truyện ngắn của các tác giả nữ tiêu biểu từ năm 1986 đến năm 2017; từ đó khẳng định vị trí, vai trò và đóng góp của bộ phận truyện ngắn nữ trong dòng chảy văn học Việt Nam đương đại.

Nhiệm vụ nghiên cứu được phân định thành 4 nội dung cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận, các quan điểm và những hướng nghiên cứu chính về văn xuôi nữ nói chung và truyện ngắn nữ nói riêng từ năm 1986 đến nay nhằm xác lập khung định hướng cho đề tài.
  2. Đặt truyện ngắn nữ vào bối cảnh Đổi mới và hội nhập quốc tế để làm rõ các tiền đề lịch sử, xã hội, văn hóa, tư tưởng cùng sự vận động nội tại của đời sống văn học tác động đến sự phát triển của thể loại.
  3. Phân tích các mô hình giao tiếp đặc trưng trong truyện ngắn nữ (giao tiếp với thiên nhiên, giao tiếp với cuộc sống - con người, và giao tiếp với chính mình) từ góc độ ký hiệu học văn học.
  4. Làm sáng tỏ các dạng thái biểu hiện của lối viết nữ thông qua việc phân tích tổ chức không gian - thời gian nghệ thuật và các đặc trưng diễn ngôn mang tính giới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Truyện ngắn của các tác giả nữ Việt Nam từ năm 1986 đến nay, tập trung khảo sát trên các phương diện: mô hình giao tiếp nghệ thuật, không gian và thời gian nghệ thuật, diễn ngôn mang đặc trưng giới nữ.
  • Phạm vi tư liệu: Khảo sát hệ thống tác phẩm của các cây bút nữ tiêu biểu trong nước và một số tác giả hải ngoại, kết hợp với các tuyển tập truyện ngắn được xuất bản từ năm 1986 đến năm 2017.
Nhóm nguồn tư liệu Các tác giả / Tuyển tập được lựa chọn khảo sát
Tác giả nữ tiêu biểu trong nước Lê Minh Khuê, Phạm Thị Hoài, Trần Thùy Mai, Dạ Ngân, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Y Ban, Nguyễn Ngọc Tư, Võ Thị Hảo, Võ Thị Xuân Hà, Đỗ Bích Thúy
Tác giả nữ hải ngoại Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Nhung Uyển, Trân Sa (trong tuyển tập Khung trời bỏ lại, NXB Phụ Nữ, 1996)
Các hợp tuyển truyện ngắn bổ trợ Những truyện ngắn nữ đặc sắc từ 1986 đến nay (NXB Phụ Nữ), Truyện ngắn nữ 2000 – 2006 (NXB Phụ Nữ), Truyện ngắn nữ đầu thế kỷ 21 (NXB Văn học), Truyện ngắn nữ 2000 – 2009 (NXB Phụ Nữ), Truyện ngắn 9 cây bút nữ (NXB Văn học), Vũ điệu thân gầy, truyện ngắn 12 cây bút nữ (NXB Trẻ), Độc thoại trên tháp nhà thờ (NXB Hội Nhà văn)
Giới hạn thời gian khảo sát Từ năm 1986 đến mốc xuất bản năm 2017

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành tổng thuật và phân loại tình hình nghiên cứu truyện ngắn nữ theo các nhóm hướng tiếp cận trong nước và các nghiên cứu từ nước ngoài.

Tình hình nghiên cứu trong nước

Tác giả luận án khái quát các công trình nghiên cứu trong nước thành 4 hướng tiếp cận chính:

  1. Hướng tổng kết, đánh giá thành tựu của đội ngũ cây bút nữ:

    • Bùi Việt Thắng qua các bài viết như Khi người ta trẻ (I) (Tản mạn về truyện ngắn của những cây bút nữ trẻ) (1993) và Văn chương mang gương mặt nữ (2015) ghi nhận sự xuất hiện của các cây bút trẻ như Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Ấm, Y Ban, Nguyễn Minh Dậu, Phan Thị Vàng Anh.
    • Hà Minh Đức trong bài mở đầu tập Truyện ngắn các tác giả nữ (Tuyển chọn 1945 – 1995) (1995) đánh giá sự thay đổi cấu trúc truyện và cái tôi bộc lộ ở thế hệ Phạm Thị Hoài, Dạ Ngân, Trần Thị Trường đến Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Xuân Hà.
    • Nguyễn Thị Bích Thu với bài viết Văn xuôi phái đẹp (2001) nhận diện các khía cạnh về đề tài thế sự, đời tư, tình cảm và đặc điểm tư duy nghệ thuật của tác giả nữ.
    • Lê Viết Thọ (2006), Phạm Xuân Nguyên (2007) trong Vũ điệu văn chương trẻ, Trần Thục (2013) trong Một góc nhìn về văn xuôi nữ, và Lê Thị Hường (2017) với bài tổng kết Ba mươi năm truyện ngắn nữ trong xu thế hội nhập.
    • Bên cạnh các đánh giá khẳng định thành tựu, tác giả điểm qua các ý kiến thể hiện sự hoài nghi hoặc phê phán từ Nguyễn Thanh Sơn (Các nhà văn nữ và sự khủng hoảng trong văn học Việt Nam hiện đại) và Hoàng Đăng Khoa.
  2. Hướng tiếp cận từ tư duy nghệ thuật và đặc trưng thể loại:

    • Lê Thị Hường (1995) với luận án phó tiến sĩ Những đặc điểm cơ bản của truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975 – 1995 và bài viết Tư duy biểu tượng trong văn xuôi nữ.
    • Lê Thị Hương Thủy (2013) với luận án tiến sĩ Truyện ngắn Việt Nam từ 1986 đến nay (Nhìn từ góc độ thể loại).
    • Nguyễn Thị Năm Hoàng (2015) với luận án tiến sĩ Truyện ngắn Việt Nam sau 1975 – nhìn từ góc độ thể loại.
    • Phạm Thị Thanh Phượng (2015) với luận án Truyện ngắn các nhà văn nữ đương đại – Tư duy nghệ thuật và đặc trưng thể loại, phân tích sâu các biểu tượng (người dị biệt, tính dục, giấc mơ, thiên nhiên) và kỹ thuật trần thuật ngôi thứ nhất.
  3. Hướng nghiên cứu về các tác giả nữ cụ thể:

    • Nghiên cứu về Lê Minh Khuê: các bài viết của Bùi Việt Thắng (Hiện tượng Lê Minh Khuê), Trần Hoàng Thiên Kim, Phương Thúy.
    • Nghiên cứu về nhóm tác giả Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo, Lý Lan: bài viết Tứ tử trình làng của Bùi Việt Thắng.
    • Nghiên cứu về Võ Thị Xuân Hà: bài viết Đọc văn của Võ Thị Xuân Hà của Văn Giá.
    • Nghiên cứu về Trần Thùy Mai: các công trình của Lê Thị Hường (Trần Thùy Mai – hành trình đi tìm hạnh phúc ảo), Hoàng Thị Huế, Mai Văn Hoan, Hồ Thế Hà, Lê Mỹ Ý.
    • Nghiên cứu về Nguyễn Ngọc Tư: các công trình của Hoàng Kim, Nguyên Ngọc, Nguyễn Trọng Bình, Thanh Bình, Trần Hữu Dũng, Tiền Văn Triệu, Thụy Khê, Trịnh Phương Thu.
  4. Hướng tiếp cận từ góc độ vận dụng lý thuyết:

    • Phê bình nữ quyền và ý thức phái tính: Nguyễn Đăng Điệp (2006) với Ý thức phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại; Nguyễn Thị Bình (2011) với Ý thức phái tính trong văn xuôi nữ đương đại; Hồ Khánh Vân với các nghiên cứu so sánh văn xuôi nữ Việt Nam - Trung Quốc và lý thuyết lối viết nữ (l'écriture féminine).
    • Phê bình phân tâm học: nghiên cứu về vô thức, phức cảm, bản năng tính dục và biểu tượng trong truyện ngắn nữ.

Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước

  • Các nhà nghiên cứu, phê bình hải ngoại như Thụy Khuê (Phạm Thị Hoài trên sinh lộ mới của văn học, Không gian sông nước trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư), Đoàn Cầm Thi (Đọc tôi bên bến lạ, chương Phụ nữ / Văn học / Toàn cầu hóa), Nguyễn Hưng Quốc.
  • Các công trình chuyên khảo quốc tế: luận án tiến sĩ của học giả Hoàng Dĩ Đình (Đại học Ngoại ngữ - Ngoại thương Quảng Đông, Trung Quốc) mang tên Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 (Trên tư liệu truyện ngắn ba nhà văn nữ), khảo sát ngôn ngữ và chiến lược trần thuật của Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo và Phan Thị Vàng Anh.

Vị trí và giải pháp của luận án

Trên cơ sở tiếp thu kết quả của các công trình đi trước, luận án định vị hướng tiếp cận mới: thay vì phân tích đơn lẻ từng tác giả hay ghép chung trong bức tranh tổng thể của văn xuôi thời kỳ Đổi mới, luận án khảo sát truyện ngắn nữ như một hệ thống ký hiệu thẩm mỹ và một phương thức giao tiếp xã hội đặc thù của giới nữ, phân tích đồng bộ từ bối cảnh, mô hình giao tiếp đến các phương thức tổ chức không gian, thời gian và diễn ngôn nghệ thuật.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Lý thuyết cấu trúc – ký hiệu học: Tiếp cận tác phẩm văn học như một hệ thống cấu trúc ký hiệu mang nghĩa; quá trình sáng tác và tiếp nhận văn học được xem là quá trình giao tiếp nghệ thuật, trong đó nhà văn mã hóa các thông điệp nhân sinh thông qua các phương tiện hình thức.
  • Lý thuyết thể loại truyện ngắn: Khảo sát đặc trưng dung lượng, kết cấu cốt truyện, tình huống và nhân vật trong mối tương quan với khả năng nắm bắt nhanh nhạy hiện thực đời sống.
  • Lý thuyết phê bình nữ quyền (Feminist Criticism) và Ý thức phái tính: Phân tích địa vị của người phụ nữ, sự phản kháng cấu trúc nam quyền, ý thức về thân thể, tính dục và bản sắc giới qua khái niệm lối viết nữ (l'écriture féminine).
  • Thi pháp học: Tiếp cận không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật và ngôn ngữ trần thuật như những "hình thức mang tính quan niệm".

Phương pháp nghiên cứu

Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu văn học định tính kết hợp với các thao tác khảo sát văn bản chuyên sâu:

  1. Phương pháp cấu trúc – ký hiệu học: Khám phá cấu trúc bên trong của văn bản truyện ngắn, giải mã các tầng nghĩa của hệ thống biểu tượng và cách thức tổ chức thông điệp nghệ thuật.
  2. Phương pháp loại hình: Nhận diện các quy luật chung của thể loại truyện ngắn và những nét đặc thù về loại hình trong sáng tác của các tác giả nữ giai đoạn sau năm 1986.
  3. Phương pháp so sánh: So sánh đối chiếu sáng tác của tác giả nữ với tác giả nam cùng thời, so sánh truyện ngắn nữ sau 1986 với sáng tác nữ giai đoạn trước 1975 để làm nổi bật các biến đổi về thi pháp và tư duy nghệ thuật.
  4. Phương pháp thi pháp học: Phân tích các yếu tố cấu trúc nghệ thuật gồm điểm nhìn trần thuật, tổ chức thời gian (hồi tưởng, đảo tuyến, phân mảnh) và cấu trúc không gian (không gian sinh hoạt đời thường, không gian tâm tưởng, không gian biểu tượng).
  5. Các thao tác nghiên cứu bổ trợ: Khảo sát văn bản, thống kê - phân loại tư liệu tác phẩm, phân tích ngữ nghĩa, tổng hợp và phê bình văn học.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa và đánh giá toàn diện các công trình nghiên cứu về văn xuôi nữ và truyện ngắn nữ từ năm 1986 đến nay ở trong và ngoài nước. Tác giả phân chia bức tranh nghiên cứu trong nước thành 4 trục chính (tổng kết thành tựu, tư duy nghệ thuật và thể loại, nghiên cứu tác giả cụ thể, vận dụng các khung lý thuyết nữ quyền/phân tâm học) và chỉ ra rằng các công trình phần lớn nghiên cứu lồng ghép hoặc nghiên cứu cục bộ. Chương này cũng phân tích các nghiên cứu ở nước ngoài của Thụy Khuê, Đoàn Cầm Thi, Hoàng Dĩ Đình, từ đó xác lập tính cấp thiết của việc xây dựng một công trình nghiên cứu hệ thống về truyện ngắn nữ dưới góc nhìn ký hiệu học và mô hình giao tiếp.

Chương 2: Truyện ngắn nữ Việt Nam từ 1986 đến nay trong bối cảnh đổi mới và hội nhập

Chương 2 phân tích các nhân tố cấu thành tiền đề cho sự phát triển của truyện ngắn nữ sau năm 1986:

  • Những tác động "ngoại sinh":
    • Bối cảnh lịch sử, xã hội và môi trường văn hóa thẩm mỹ: Công cuộc Đổi mới năm 1986 do Đảng lãnh đạo chuyển dịch nền kinh tế từ bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; sự xóa bỏ cơ chế bao cấp tư tưởng mở ra không khí dân chủ hóa trong đời sống văn học (tiêu biểu là sự kiện Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh gặp gỡ văn nghệ sĩ); sự xuất hiện của ý thức cá nhân thay thế cho cái tôi sử thi thời chiến; sự phát triển của công nghệ thông tin, văn hóa Internet và xu thế toàn cầu hóa.
    • Tác động của lý thuyết nữ quyền thế giới: Sự du nhập của các trào lưu tư tưởng phương Tây (chủ nghĩa hiện sinh, hậu hiện đại, phê bình nữ quyền) thúc đẩy ý thức về bình đẳng giới và phản tư về địa vị phụ nữ trong xã hội.
  • Những vận động "nội tại": Nhu cầu tự biểu đạt, giải phóng cá tính sáng tạo và sự nhạy cảm bản năng của các cây bút nữ trước những vấn đề thế sự đời tư, số phận người phụ nữ trong hoàn cảnh hậu chiến và kinh tế thị trường.
  • Vị thế thể loại: Khẳng định truyện ngắn nữ là một bộ phận tiêu biểu góp phần định hình diện mạo văn học Việt Nam đương đại.

Chương 3: Những mô hình giao tiếp trong truyện ngắn nữ Việt Nam từ 1986 đến nay

Chương 3 triển khai tiếp cận tác phẩm truyện ngắn như một hành vi giao tiếp nghệ thuật đa tầng của nhà văn nữ, phân tích qua 3 mô hình giao tiếp cốt lõi:

  • Mô hình giao tiếp với thiên nhiên: Khảo sát cách các tác giả nữ kiến tạo mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên, sử dụng các biểu tượng thiên nhiên (đất, nước, cây cỏ, sông nước Nam Bộ, phong cảnh xứ Huế, vùng cao phía Bắc) như một phương thức đối thoại và phản ánh tâm trạng bản thể.
  • Mô hình giao tiếp với cuộc sống và con người: Phản ánh các mối quan hệ xã hội phức tạp thời kỳ kinh tế thị trường; sự va đập giữa các thế hệ trong gia đình; mối quan hệ nam - nữ, tình yêu, hôn nhân; sự cảm thông trước những thân phận nhỏ bé, thiệt thòi và những bi kịch đời tư.
  • Mô hình giao tiếp với chính mình: Sự gia tăng của các hình thức tự thuật, độc thoại nội tâm, đối thoại với tiềm thức và vô thức; sự trăn trở về thân phận, thiên chức, những ẩn ức tính dục và khát vọng tự khẳng định giá trị bản thân của người phụ nữ.

Chương 4: Những dạng thái biểu hiện trong truyện ngắn nữ Việt Nam từ 1986 đến nay

Chương 4 đi sâu vào các phương diện thi pháp và phương thức biểu đạt hình thức của truyện ngắn nữ:

  • Không gian và thời gian nghệ thuật:
    • Không gian nghệ thuật: Tổ chức không gian đời thường, không gian sinh hoạt gia đình mang tính giới; không gian tâm tưởng, ảo giác, giấc mơ đan xen hiện thực; không gian văn hóa vùng miền (kinh kỳ xứ Huế ở Trần Thùy Mai, sông nước Nam Bộ ở Nguyễn Ngọc Tư, miền núi phía Bắc ở Đỗ Bích Thúy).
    • Thời gian nghệ thuật: Sự xáo trộn trật tự thời gian tuyến tính truyền thống; thời gian tâm lý, thời gian hồi ức, thời gian phân mảnh và sự đồng hiện giữa quá khứ - hiện tại.
  • Diễn ngôn mang đặc trưng giới trong truyện ngắn nữ:
    • Phân tích giọng điệu trần thuật (giọng trữ tình đằm thắm, giọng sắc sảo chiêm nghiệm, giọng bình thản khách quan, giọng giễu nhại);
    • Ngôn ngữ biểu đạt trực tiếp các trải nghiệm cơ thể, bản năng tính dục và cảm xúc phái nữ;
    • Sử dụng các hình thức trần thuật ngôi thứ nhất xưng "tôi" nhằm thu hẹp khoảng cách giao tiếp với người đọc.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Vận dụng lý thuyết cấu trúc - ký hiệu học và lý thuyết giao tiếp nghệ thuật vào việc nghiên cứu thể loại truyện ngắn của tác giả nữ, xác lập cách tiếp cận tác phẩm văn xuôi như một hệ thống mã hóa và giải mã thông điệp nghệ thuật.
  • Làm rõ tính quy định của đặc trưng giới tính (ý thức phái tính, lối viết nữ) đối với việc hình thành tư duy nghệ thuật, lựa chọn đề tài và phương thức tổ chức thi pháp thể loại trong văn học đương đại.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Khái quát một cách hệ thống diện mạo, tiến trình vận động và thành tựu của truyện ngắn nữ Việt Nam trong giai đoạn hơn 30 năm (1986 – 2017).
  • Chỉ ra những biến chuyển cụ thể trong thi pháp truyện ngắn nữ: từ sự thay đổi mô hình giao tiếp, đổi mới cấu trúc không - thời gian đến việc hình thành hệ thống diễn ngôn mang đậm dấu ấn giới tính.
  • Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo có hệ thống phục vụ công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu chuyên ngành Ngữ văn, Văn học Việt Nam tại các trường đại học, viện nghiên cứu.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do đối tượng nghiên cứu thuộc về văn học đương đại – một tiến trình đang tiếp diễn ("cái đương đại chưa hoàn thành") – nên một số đánh giá và nhận định cần thêm độ lùi thời gian để kiểm chứng; phạm vi khảo sát văn bản giới hạn ở các tác phẩm xuất bản đến năm 2017.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát các sáng tác của các tác giả nữ trẻ xuất hiện sau năm 2017; tăng cường hướng nghiên cứu so sánh liên văn hóa với văn xuôi nữ khu vực Đông Nam Á và thế giới; vận dụng sâu hơn các lý thuyết mới như phê bình sinh thái (Ecocriticism) và nghiên cứu văn học mạng trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Văn học Việt Nam, Lý luận văn học, Việt Nam học và Văn hóa học khi tìm hiểu về văn học thời kỳ Đổi mới và lý thuyết phê bình nữ quyền.
  • Giảng viên giảng dạy các chuyên đề về văn học Việt Nam hiện đại, thi pháp học và văn xuôi đương đại tại các trường đại học, cao đẳng và trường trung học phổ thông.
  • Các nhà nghiên cứu quan tâm đến tiến trình vận động của thể loại truyện ngắn và đóng góp của giới nữ trong đời sống văn hóa nghệ thuật.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định mốc thời gian và giới hạn khảo sát tư liệu như thế nào?
Luận án lấy mốc khởi đầu từ năm 1986 (thời điểm đất nước bước vào công cuộc Đổi mới toàn diện) và giới hạn mốc khảo sát tác phẩm sau cùng là các truyện ngắn được xuất bản đến năm 2017.

2. Khung lý thuyết trọng tâm nào được luận án sử dụng để phân tích truyện ngắn nữ?
Luận án kết hợp lý thuyết cấu trúc – ký hiệu học (xem tác phẩm là hệ thống ký hiệu và hành vi giao tiếp nghệ thuật), lý thuyết thể loại truyện ngắn, lý thuyết phê bình nữ quyền (với các khái niệm ý thức phái tính, lối viết nữ) và thi pháp học (phân tích không gian, thời gian nghệ thuật và diễn ngôn).

3. Những tác giả nữ tiêu biểu nào được luận án lựa chọn làm nguồn tư liệu khảo sát chính?
Luận án khảo sát các tập truyện ngắn của nhiều thế hệ tác giả nữ: Lê Minh Khuê, Phạm Thị Hoài, Trần Thùy Mai, Dạ Ngân, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Y Ban, Nguyễn Ngọc Tư, Võ Thị Hảo, Võ Thị Xuân Hà, Đỗ Bích Thúy, cùng các tác giả hải ngoại (Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Nhung Uyển, Trân Sa) và nhiều hợp tuyển truyện ngắn nữ xuất bản trong giai đoạn 1986 – 2017.

4. Mô hình giao tiếp trong truyện ngắn nữ được tác giả phân chia thành các dạng thái nào?
Mô hình giao tiếp nghệ thuật trong luận án được phân tích qua 3 nhánh chính: giao tiếp với thiên nhiên, giao tiếp với cuộc sống và con người, và giao tiếp với chính mình (thể hiện qua độc thoại nội tâm, dòng ý thức và sự phản tư bản thể).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Thị Quỳnh Lê đã hệ thống hóa bức tranh toàn cảnh về truyện ngắn nữ Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2017 trong bối cảnh Đổi mới và hội nhập. Bằng việc vận dụng kết hợp ký hiệu học cấu trúc, thi pháp học và lý thuyết phê bình nữ quyền, công trình đã làm sáng tỏ các đặc trưng của lối viết nữ qua hệ thống mô hình giao tiếp, nghệ thuật tổ chức không - thời gian và diễn ngôn mang dấu ấn giới. Kết quả nghiên cứu khẳng định vị trí của truyện ngắn nữ như một bộ phận cấu thành quan trọng, phản ánh diện mạo và sự vận động của văn học Việt Nam đương đại.