chương 1 đưa ra cái nhìn khái quát về minh họa tranh truyện Việt Nam từ 1995 đến 2015. Khái niệm “Sự chuyển biến về tạo hình trong minh họa truyện thiếu nhi” Khái niệm “sự chuyển biến” Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng của Hoàng Phê, chuyển biến là: “Biến đổi sang trạng thái khác trước” [32; tr 144]. Theo Từ điển tiếng Việt 1994 – Nxb Khoa học xã hội, giải thích đơn giản chuyển biến là: “Bắt đầu thay đổi tích cực” [10; tr 191]. sTuy nhiên, trong hội họa, sự chuyển biến có thể là tích cực hoặc tiêu cực (thường là tích cực) Sách Từ điển tiếng Việt phổ thông – Nxb Khoa học xã hội giải thích chuyển biến là: “Biến đổi sang trạng thái khác với trước, thường nói về lĩnh vực tư tưởng, hoạt động của con người và thường theo hướng tích cực” [41; tr 252] Sách Đại từ điển Tiếng Việt (1999) của tác giả Nguyễn Như Ý, cho rằng: “Chuyển biến là những biến đổi theo chiều hướng tích cực của tư tưởng và hoạt động của con người: những chuyển biến đáng mừng, tạo ra sự chuyển biến căn bản” [46; tr 407] Khái niệm về tạo hình Theo Từ điển tiếng Việt – Viện ngôn ngữ học thì tạo hình là: “Tạo ra các hình thể bằng đường nét, màu sắc, hình khối.
Luan van 11 Trong Từ điển tiếng Việt 1994 – Nxb Khoa học xã hội có ghi tạo hình là: “ nghệ thuật biểu hiện bằng cách ghi lại, tạo nên những hình thể với những bức họa, pho tượng” [10; tr 716] Trong cuốn Từ điển bách khoa – T-Z thì tạo hình là “thủ pháp sáng tạo nghệ thuật bằng ngôn ngữ hình khối, màu sắc, chất cảm, không gian, bố cục. Theo nghĩa rộng, tạo hình bao gồm hoạt động hội họa, điêu khắc, mỹ thuật ứng dụng, kiến trúc, nhiếp ảnh. Theo nghĩa hẹp, tạo hình là hoạt động thuộc hội họa giá vẽ và điêu khắc. Hội họa là nghệ thuật tạo hình trên mặt phẳng, bằng các yếu tố đường nét, màu sắc, hình diện.
Điêu khắc là nghệ thuật tạo hình trong không gian ba chiều, bằng các khối có thể tích. Mỹ thuật ứng dụng và kiến trúc sử dụng các phương tiện tạo hình vào việc tạo dáng sản phẩm, sáng tạo môi trường không gian mang giá trị thẩm mỹ và công năng.” [45; tr 60] Về cơ bản, các từ điển trên giải thích khái niệm tạo hình một cách đơn giản là nghệ thuật được biểu hiện bằng hình thể trong nghệ thuật tạo hình thông qua các yếu tố tạo hình cơ bản. Nghệ thuật tạo hình gồm có hội họa, đồ họa, điêu khắc và kiến trúc. Những yếu tố tạo hình nghệ thuật chung nhất ở các thể loại tạo hình nghệ thuật là đường nét, màu sắc, không gian, ánh sáng.
Mảng là một lượng màu nào đó chiếm diện tích nhất định trên mặt tranh, tạo thành một mảng riêng, phân biệt rõ rệt với các mảng màu xung quanh nó… thì đó được gọi là mảng màu. Sự phân biệt này có thể do độ đậm nhạt, nóng lạnh của màu sắc hoặc về nội dung hình thể trong tranh. Khi nói đến mảng màu, người ta thường chỉ các mảng màu lớn. Tuy nhiên, trong các mảng màu lớn, có chứa đựng các mảng màu nhỏ hơn.
Trong tranh đen trắng thì đó là những mảng màu mang các sắc độ khác nhau của đen và trắng. Các nét, hình và điểm, khi được tổ chức, sắp xếp một cách có ý thức, sẽ tạo nên một hình hoặc một khối. Như vậy, trong một mảng có thể có một hoặc nhiều Luan van 12 hình, tập hợp của các nét và điểm và ngược lại, hình hoặc khối có thể là tập hợp của một hoặc nhiều mảng. [30; tr 129] Hình dạng là một vùng nổi bật từ không gian kề cận hoặc không gian bao quanh nó, do nó được xác định hoặc có liên quan đến một đường biên hoặc do những khác biệt về sắc độ, màu sắc, cấu trúc cơ bản.
[30; tr 115] Qua các lập luận trên, quan điểm riêng của luận văn về mảng như sau: Mảng là sự cấu thành của một hoặc nhiều hình, khối, được bao quanh và giới hạn bởi đường và nét tạo nên. Một bức tranh được hình thành trên cơ sở của nhiều mảng tập hợp lại. Sự sắp xếp, tổ chức của các mảng, qua sự sáng tạo của họa sĩ, đã để lại cho nhân loại những kiệt tác với rất nhiều trường phái và phong cách khác nhau. Còn đường nét là con đường của một điểm chuyển động được tạo ra bởi công cụ, khi nó chuyển động ngang qua một vùng.
Một đường nét thường có vẻ rõ ràng vì nó tương phản với những sắc độ quanh nó. Các đường nét ba chiều có thể được thực hiện bằng một sợi dây, những cái ống, các que cứng, dây kim loại và nhiều thứ tương tự. [46; tr 96] Không gian, theo “Từ điển thuật ngữ mĩ thuật phổ thông” là khoảng cách giữa các vật thể trong tranh theo chiều ngang, dọc và sâu. Trên mặt phẳng của tranh, người xem dễ dàng thấy khoảng cách giữa các vật thể theo chiều ngang và dọc, còn để nhận biết được vị trí trước sau của các vật thể, người xem chỉ có thể thấy rõ ở tranh vận dụng luật xa gần hoặc độ đậm nhạt rõ ràng.
[30; tr 96] Theo cuốn “Những nền tảng mỹ thuật”, không gian là khoảng cách hoặc tầm xa có thể đo được giữa các điểm hoặc những hình ảnh. [46; tr 217] Trong “Từ điển thuật ngữ mỹ thuật phổ thông” màu sắc là các màu khác nhau trong thiên nhiên hay màu bản thân của từng vật thể. Màu sắc nhờ ánh sáng rọi vào nên chúng có nhiều sắc độ phong phú mà người họa sĩ phải quan sát và khám phá. Màu sắc phối hợp với nhau trên tranh tạo thành hòa Luan van 13 sắc.
Ngày nay, khoa học phân tích màu sắc vẫn đang được nghiên cứu. Nhiều nhà bác học đã thấy được bản chất của một số màu. Tuy thế, khái niệm màu sắc chưa được xác định rõ về nội dung và ranh giới của nó. Vì vậy, thuật ngữ màu sắc chỉ được mang ý nghĩa tương đối [30; tr 104] Màu sắc theo cuốn “Những nền tảng mỹ thuật” là đáp ứng của thị giác đối với những bước sóng của ánh sáng mặt trời được xác định như đỏ, lục, lam…, những phẩm chất có tính vật lý của cường độ, sắc độ và sự chuyển màu.
[46; tr 175] Chất cảm, theo “Từ điển thuật ngữ mĩ thuật phổ thông” là cảm xúc được tạo nên thông qua các phương tiện tạo hình (hay ngôn ngữ nghệ thuật) hoặc cấu tạo vật chất của một bức tranh, tượng. Chất cảm của phương tiện tạo hình đã tác động trực tiếp lên mắt (cơ quan của thị giác). Người ta nhận biết một vật thể không chỉ ở kích thước, tỉ lệ, màu sắc mà còn ở cảm nhận cấu tạo vật chất của nó nữa. Từ cấu tạo vật chất ấy mà nghệ thuật cần truyền đạt được đến người xem cái cảm xúc về chất hay còn gọi là chất cảm.
Cảm giác về vật chất hay chất cảm là yếu tố không thể thiếu trong một bức tranh dù vẽ theo trường phái nào. [30; tr 40] Khái niệm “minh họa tranh truyện thiếu nhi” Theo “Từ điển tiếng Hán” thì dịch nghĩa từ minh tức là làm sáng tỏ, họa tức là hình vẽ. Vậy minh họa là dùng những hình vẽ để làm sáng tỏ một vấn đề nào đó. Theo “Từ điển Bách khoa tập 2 từ E-M” thì minh họa là hình ảnh gắn liền với bài viết giống như tiểu họa trong các cuốn sách viết tay cổ.
Minh họa vừa có chức năng tư liệu, vừa có chức năng thẩm mỹ làm sáng tỏ thêm nội dung bài viết, vừa tạo hứng thú cho người đọc. Ban đầu minh họa đóng vai trò thứ yếu mang tính chất tư liệu cho những sách tôn giáo, về sau minh họa mới đi vào những cuốn sách đời thường. Kĩ thuật đầu tiên dùng cho minh họa là khắc Luan van 14 gỗ, sau đó đến khắc kim loại (thế kỉ 16), khắc đá (thế kỉ 18). Đến cuối thế kỉ 19 kĩ thuật chụp in đã giúp cho việc làm minh họa thêm dễ dàng.
[43; tr 920] Trong sách “Con mắt nhìn cái đẹp” của Nguyễn Quân cho rằng, minh họa thuộc thể loại đồ họa. Khi xuất hiện nghề in, báo chí và công nghiệp in sách thì nghề minh họa mới phát triển. Minh họa phục vụ các sáng tác văn học, các bài viết văn hóa, khoa học, xã hội. Khi chưa có ảnh thì toàn bộ phần nhìn của báo chí do minh họa đảm đương.[35; tr 83] Theo cuốn “Giáo trình mỹ thuật học”, tranh minh họa đóng một vai trò quan trọng trong đồ họa sách báo.
Nó làm sáng tỏ thêm cho nội dung tác phẩm, nâng cao giá trị cho nội dung và làm cho tác phẩm đẹp hơn. [18; tr 142] Minh họa sách có từ rất sớm, từ thời xa xưa, những cuốn Kinh thánh chép tay hay sớm hơn là cuốn “Kinh kim cương bát nhã” ở Trung Hoa đã thể hiện về cuộc đời, những câu chuyện xoay quanh thần linh và tôn giáo. Vậy, tranh minh họa là những hình vẽ được dùng trong sách báo, truyện, thơ nhằm làm sáng tỏ cho nội dung của chữ viết trong đó. Khái niệm tranh truyện thiếu nhi Hiện nay chưa có một khái niệm riêng hoặc bao quát chung nào về tranh truyện, chỉ có một số nhận định về tranh truyện như sau: Nhà phê bình Nguyễn Quân cho rằng: tranh truyện là những loạt tranh minh họa cho một cốt truyện cổ tích để trẻ em dễ theo dõi và người lớn dựa vào tranh kể chuyện cho bé nghe.
[35; tr 84] Khái niệm này của Nguyễn Quân đã phần nào đưa ra ý kiến khá khách quan về định nghĩa tranh truyện. Tuy vậy, định nghĩa này là vẫn chưa đầy đủ và bao quát cho khái niệm tranh truyện. Trong cuốn Từ điển tiếng Việt - Viện ngôn ngữ học, thì tranh truyện là tranh kể lại một câu chuyện có chữ lời [38; tr 1025] Theo cuốn “Từ điển mỹ thuật phổ thông” của Đặng Bích Ngân thì tranh truyện là tranh dùng để kể chuyện, có chú thích, nói về một truyện cổ tích, Luan van 15 một truyện lịch sử, một anh hùng, một chiến công, một nhân vật xuất sắc trong lao động, chiến đấu, đáng được biểu dương và làm gương cho mọi người noi theo… Tranh có thể được vẽ hoặc in trên một tờ giấy chia làm nhiều ô, sắp xếp liên tiếp nhau hoặc theo thứ tự trước sau, dựa vào văn bản hoặc in thành tập, thành sách. Nhiều họa sĩ Việt Nam khá nổi tiếng trong làng vẽ tranh truyện như họa sĩ Mai Long, Nguyễn Bích, Huy Toàn, Tạ Thúc Bình, Ngô Mạnh Lân.