CHƯƠNG I: VỊ TRÍ CỦA NHẤT LINH TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI VÀ QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC TRUYỆN NGẮN CỦA ÔNG 1. Nhất Linh trong Tự lực văn đoàn Tên tuổi của Nhất Linh gắn liền với Tự lực văn đoàn. Ông không chỉ là lãnh tụ của Tự lực văn đoàn, người sáng lập và điều hành toàn bộ hoạt động của văn đoàn mà còn là một cây bút tiểu thuyết trụ cột của nhóm. Năm 1930, Nhất Linh - Nguyễn Tường Tam từ Pháp trở về nước với những quan niệm mới về xã hội và văn chương.
Năm 1932, ông điều đình với Phạm Hữu Ninh và Nguyễn Xuân Mai (những người chính thức có giấy phép) để đứng ra làm lại tuần báo Phong hóa. Năm 1933, ông tuyên bố chính thức thành lập Tự lực văn đoàn - một tổ chức văn học đầu tiên thời hiện đại ở nước ta hoạt động có tôn chỉ rõ ràng và tự sống được bằng ngòi bút của mình. Các thành viên ban đầu của Tự lực văn đoàn gồm có: Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam), Khái Hưng (Trần Khánh Giư), Hoàng Đạo (Nguyễn Tường Long), Thạch Lam (Nguyễn Tường Lân), Thế Lữ (Nguyễn Thứ Lễ), Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu), về sau thêm Xuân Diệu (Ngô Xuân Diệu). Ngoài ra văn đoàn còn hợp tác với một số nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, nhạc sĩ tên tuổi khác.
Cơ quan ngôn luận của văn đoàn là hai tờ tuần báo Phong hóa, Ngày nay. Nguyễn Tường Tam vừa phụ trách văn đoàn, vừa làm chủ báo, vừa say mê sáng tác truyện ngắn, truyện dài và kiêm luôn cả việc vẽ tranh minh họa, biếm họa, trình bày báo… Dưới sự tổ chức điều hành của Nhất Linh, Tự lực văn đoàn chiếm ưu thế trên văn đàn công khai trong suốt gần một thập kỉ và đã có những đóng góp to lớn đối với quá trình hiện đại hóa nền văn xuôi Việt Nam đầu thế kỉ XX. Nói như 18 Nguyễn Hữu Hiếu: “Trở lại với Nhất Linh thời kì 1930-1945, khi hai tờ báo Phong hóa và Ngày nay là hai cơ quan ngôn luận chính của Tự lực văn đoàn mà Nhất Linh làm chủ bút, vừa với tư cách nhà văn, vừa với tư cách nhà báo, ông đã góp phần cùng nhóm bút Tự lực văn đoàn làm khởi sắc cả một thời kì văn học” [36, tr. Trong điều 1, tôn chỉ của Tự lực văn đoàn, Nhất Linh đã thể hiện ước muốn của ông là “tự sức mình làm ra những sách có giá trị về văn chương chứ không phiên dịch sách nước ngoài nếu sách này chỉ có tính cách văn chương thôi: mục đích để làm giàu thêm văn sản trong nước” [36, tr.
Và để đạt được ước muốn ấy, bản thân Nhất Linh đã nỗ lực thực hiện một quá trình biến đổi từ lối viết văn cổ lỗ nặng nề, ước lệ trong những tác phẩm đầu tay đến lối viết văn nhẹ nhàng trong sáng sau này. Nhất Linh đã vận dụng sáng tạo nghệ thuật viết văn hiện đại của phương Tây kết hợp với những tinh hoa của văn học truyền thống dân tộc và phương Đông trong những trang viết của mình để cho ra đời những tác phẩm vừa mới mẻ hiện đại vừa “thật có tính cách An Nam”. Mạnh dạn tiên phong trong cuộc cách tân văn xuôi Việt Nam đầu thế kỉ XX, Nhất Linh không chỉ hoàn thành xuất sắc vai trò người thủ lĩnh của nhóm mà còn có những ảnh hưởng nhất định đến các nhà văn trong Tự lực văn đoàn. Noi theo Nhất Linh, tất cả các thành viên của nhóm Tự lực văn đoàn đồng lòng “đoạn tuyệt” với lối viết văn có nhiều chữ Hán, nhiều điển cố, ước lệ để tìm đến lối viết giản dị, trong sáng, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân, luôn trung thành với tôn chỉ của nhóm.
Đánh giá về vị trí, vai trò của Nhất Linh, Trương Chính cho rằng: “Về nghệ thuật, trong Tự lực văn đoàn, phải công nhận Nhất Linh là cây bút vững vàng nhất. Cách bố trí truyện, cách sáng tạo nhân vật, cách sử dụng cảnh vật xung quanh để làm nổi bật tâm lí nhân vật, các nhà văn trong Tự lực văn đoàn đều ít nhiều chịu ảnh hưởng của ông cả” [36, tr. 19 Tự lực văn đoàn đạt được những thành công đáng kể, đem đến cho văn đàn Việt Nam đầu thế kỉ XX một không khí trẻ trung, sôi nổi một phần là nhờ vào khả năng phát hiện và quy tụ nhân tài của Nhất Linh. Là một nghệ sĩ đa tài, giàu tâm huyết và có tầm nhìn xa, Nhất Linh đã biết đoàn kết cả nhóm lại trong một ý hướng chung do mình đề xướng, biết truyền niềm say mê mãnh liệt của mình cho người khác, nhất là có con mắt tinh đời, biết khơi gợi đúng thiên hướng của từng người để mỗi tác giả trong văn đoàn trở thành một cây bút chuyên biệt nổi danh về một thể loại.
Người thân thiết và chịu ảnh hưởng từ Nhất Linh nhiều nhất trong Tự lực văn đoàn có lẽ không ai khác là Khái Hưng. Cuộc gặp gỡ với Nguyễn Tường Tam năm 1931 ở trường Thăng Long đã tạo nên những thay đổi đáng kể trong sự nghiệp văn chương của Khái Hưng. Nguyễn Tường Tam khuyên Khái Hưng không nên tiếp tục viết luận thuyết nữa mà nên chuyên hẳn về viết tiểu thuyết, nhờ vậy mà văn học Việt Nam có Khái Hưng - “nhà tiểu thuyết có biệt tài” (chữ dùng của Vu Gia). Họ nhanh chóng trở thành đôi bạn thân thiết khi thấy mình có cùng một ý thức hệ, một quan niệm về xã hội và văn chương.
Hai nhà văn cùng viết chung mấy cuốn tiểu thuyết: Gánh hàng hoa, Đời mưa gió và truyện ngắn Dưới bóng hoa đào. Mỗi người một cá tính nhưng trong những sáng tác chung, họ bổ sung cho nhau thật khéo léo, nhuần nhuyễn đến nỗi người đọc và ngay cả giới nghiên cứu cũng khó phân biệt được đâu là phần của người này và đâu là phần của người kia. Theo phỏng đoán của Phạm Thế Ngũ thì “có lẽ họ đã thảo luận với nhau về cốt truyện, về bố cục và Khái Hưng lãnh phần viết” [36, tr. Sau này trong hồi kí của mình, Tú Mỡ kể lại: “Dạo Khái Hưng và Nhất Linh viết chung truyện dài Đời mưa gió, trong những buổi họp tối thứ bảy, hai anh bàn nhau kỳ này nên cho hai nhân vật chính (Tuyết và Chương) đi đâu, làm việc gì đột nhiên trái chứng trái khoáy, rồi mỗi kì mỗi anh thay phiên nhau chấp bút.
Công việc 20 sáng tác tập thể của các anh là như vậy” [36, tr 137). Hiện tượng sáng tác chung như thế thật đặc biệt và hiếm thấy, không chỉ ở Việt Nam mà cả trên thế giới. Một điều thú vị là ngoài bút danh Bán than và Khái Hưng, Trần Khánh Giư còn sử dụng bút danh khác là Nhị Linh. Có thể Trần Khánh Giư khâm phục cái tài, cái tâm của Nhất Linh nên chọn cái tên Nhị Linh làm bút danh của mình.
Quả thật không thể phủ nhận những ảnh hưởng to lớn và sâu sắc của Nhất Linh đối với cuộc đời cũng như văn nghiệp của Khái Hưng. Tú Mỡ được Nguyễn Tường Tam gợi ý chuyên làm thơ trào phúng , đó là lời khuyên đúng đắn, hữu ích cho Tú Mỡ mà sau này ngay cả bản thân Tú Mỡ cũng công nhận: “Nhiều lúc tôi tỏ ý muốn viết những bài thuộc về loại khác, anh khuyên chỉ nên chuyên về một lối. Có lẽ là một điều rất hay cho chúng tôi. Tôi có thể nói, anh Tam là người đã tạo ra Tú Mỡ vậy” [76, tr.129]; Trọng Lang được ông cổ vũ chuyên hẳn vào mảng phóng sự; còn Thế Lữ dưới con mắt Nguyễn Tường Tam phải là người mở đầu cho trào lưu “Thơ mới”… Có ai ngờ được rằng những lời khuyên mang tính chất định hướng như thế cuối cùng đều đưa đến một kết quả chính xác: chỉ sau chưa đầy 3 năm kể từ ngày thành lập, Tự lực văn đoàn đã được công chúng xa gần thừa nhận, mến mộ.
Và mỗi thành viên của nó cũng rất thành công và đóng vai trò quan trọng trong cái hình thức sáng tác mà Nhất Linh đã phó cho mình đảm nhận. Không ai có thể phủ nhận ngôi vị cây bút tiểu thuyết tài danh của Khái Hưng. Nói đến thơ trào phúng thì kế sau Tú Xương ai cũng phải nhường Tú Mỡ. Còn Thế Lữ được cả làng “Thơ mới” thừa nhận là chủ soái thi đàn.
Thạch Lam thành công với những kiệt tác truyện ngắn trữ tình, ít người sánh kịp. Và Xuân Diệu, người tiếp bước Thế Lữ đem lại sự toàn thắng cho “Thơ mới” khi phổ vào thơ cái ma lực của những cảm xúc đắm say quyến rũ. Riêng Nhất Linh không chỉ say mê viết tiểu thuyết, ông còn là nhà văn luôn luôn chịu khó 21 tìm tòi, thể nghiệm, đổi mới không ngừng ở nhiều thể loại để cho ra đời những tác phẩm có giá trị. Với những gì đã làm được, không ai có thể phủ nhận được rằng Nhất Linh là linh hồn của Tự lực văn đoàn, là người có công lớn nhất đối với Tự lực văn đoàn.
Nhất Linh trong văn xuôi Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, văn học sử Việt Nam đã chứng kiến sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của văn học quốc ngữ. Đặc biệt ở Nam Bộ, trước năm 1930, phong trào sáng tác văn xuôi bằng chữ quốc ngữ nổi lên khá rầm rộ với hàng loạt những tên tuổi như Trương Vĩnh Ký Nguyễn Trọng Quản, Hồ Biểu Chánh, … Họ đang băn khoăn đi tìm phương hướng cho một nền văn xuôi mới và phân vân không biết nên học theo lối viết của tiểu thuyết chương hồi hay tiếp thu, vận dụng cách viết của tiểu thuyết hiện đại phương Tây. Cũng giống như họ, cây bút trẻ Nguyễn Tường Tam đã làm một cuộc thử nghiệm khi trình làng tiểu thuyết đầu tay Nho phong và tập truyện ngắn Người quay tơ. Nhìn chung, những tác phẩm này của Nguyễn Tường Tam vẫn quẩn quanh, bó hẹp trong phạm trù của tiểu thuyết truyền thống, chưa có cách tân nghệ thuật gì đáng chú ý, trong khi Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách ra đời với những dấu hiệu cách tân được coi là “táo bạo” cả về nội dung lẫn nghệ thuật viết tiểu thuyết, nhanh chóng được người ta chú ý, say mê và còn làm xôn xao cả văn đàn Việt Nam đầu thế kỉ.
Phải đến đầu những năm 30 với những sáng tác của Tự lực văn đoàn thì văn xuôi Việt Nam mới thật sự khởi sắc.Các nhà Tự lực đã góp phần mở ra một thời kì văn học mới với một sự cách tân hoàn toàn. Trong đó, ngừơi có công hơn cả phải kể đến Nhất Linh - người chủ xướng của nhóm.