Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Dạy đọc – hiểu truyện cười theo đặc trưng thể loại" của tác giả Lê Thị Thanh Quý (ngành Sư phạm Ngữ văn, Lớp K32A, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2) được thực hiện trong bối cảnh đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn tại trường Trung học phổ thông (THPT). Theo tác giả, thực tiễn giảng dạy môn Văn trong nhà trường vẫn tồn tại nhiều bất cập; phương pháp truyền thống mang tính áp đặt "thầy đọc – trò chép, thầy thuyết trình – trò nghe" khiến học sinh thụ động, mệt mỏi và xem việc học Văn như một áp lực nặng nề. Cùng với việc sách giáo khoa (SGK) Ngữ văn được tái cấu trúc theo trục thể loại, việc chuyển dịch phương pháp sang dạy học đọc – hiểu văn bản theo đặc trưng loại thể trở thành một yêu cầu thiết yếu nhằm cung cấp công cụ tiếp nhận cho học sinh.
Trong chương trình SGK Ngữ văn 10 (tập 1), thể loại truyện cười dân gian được đưa vào giảng dạy với hai tác phẩm tiêu biểu là "Tam đại con gà" và "Nhưng nó phải bằng hai mày". Tuy nhiên, thời lượng phân bổ chỉ gồm 1 tiết học (45 phút) cho cả hai tác phẩm trong khi khối lượng kiến thức và ý nghĩa nhân sinh tương đối lớn, dẫn đến việc dạy học truyện cười còn mang tính hình thức, chưa làm nổi bật được thi pháp và đặc trưng thể loại.
Mục đích nghiên cứu:
- Củng cố, nâng cao hiểu biết về phương pháp dạy học Ngữ văn theo hướng đổi mới.
- Nắm vững những đặc trưng cơ bản của thể loại truyện cười dân gian Việt Nam.
- Bồi dưỡng năng lực đọc – hiểu và cảm thụ tác phẩm, tạo cơ sở cho hoạt động giảng dạy sau này tại trường phổ thông.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tìm hiểu cơ sở lý thuyết về tiếp nhận văn học và lý thuyết đọc – hiểu.
- Nghiên cứu đặc trưng thể loại tự sự dân gian nói chung và truyện cười dân gian nói riêng.
- Vận dụng lý thuyết vào quy trình tổ chức dạy đọc – hiểu hai văn bản "Tam đại con gà" và "Nhưng nó phải bằng hai mày" trong SGK Ngữ văn 10, tập 1.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Đặc trưng thể loại truyện cười dân gian và phương pháp dạy học đọc – hiểu truyện cười theo đặc trưng thể loại.
- Phạm vi nghiên cứu: Hệ thống truyện cười dân gian Việt Nam, trọng tâm là loại hình truyện cười không kết chuỗi; khảo sát ngữ liệu qua các tác phẩm truyện cười được đưa vào chương trình Ngữ văn THPT, cụ thể là chương trình Ngữ văn 10 (tập 1).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận thiết lập hệ thống cơ sở lý thuyết đa ngành bao gồm tâm lý học sư phạm, lý luận dạy học hiện đại, lý thuyết tiếp nhận văn học và thi pháp học văn học dân gian:
- Tâm lý học lứa tuổi và lý luận dạy học: Học sinh THPT (từ 15 đến 18 tuổi) đã phát triển mạnh năng lực ghi nhớ logic trừu tượng, tư duy lý luận độc lập và tính phê phán, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chủ động tiếp nhận văn bản. Khóa luận căn cứ vào định hướng của "Chiến lược phát triển giáo dục từ 2001 – 2010" về việc chuyển đổi từ truyền thụ thụ động sang hướng dẫn người học tự chiếm lĩnh tri thức.
- Lý thuyết tiếp nhận văn học: Tiếp thu quan điểm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước (Umberto Eco, Roman Ingarden, Valery, Phan Trọng Luận, Nguyễn Thanh Hùng, Đặng Thanh Lê) về việc coi tiếp nhận văn học là quá trình "đồng sáng tạo" giữa bạn đọc và tác phẩm nhằm rút ngắn "khoảng cách tiếp nhận".
- Lý thuyết đọc – hiểu văn bản: Tiếp thu các hệ thống phân loại và quan niệm về đọc – hiểu của Trần Đình Sử, Nguyễn Thái Hòa, Nguyễn Trọng Hoàn, Nguyễn Thanh Hùng, TSKH Lê Ngọc Trà.
| Phương diện so sánh |
Phương pháp dạy học truyền thống |
Phương pháp dạy học đọc – hiểu |
| Bản chất hoạt động |
Thuyết trình, giảng giải, áp đặt cách hiểu |
Hướng dẫn học sinh giải mã văn bản và phát hiện ý nghĩa |
| Vị trí người dạy |
Trung tâm của giờ học, đóng vai trò ban phát kiến thức |
Người nêu tình huống, gợi mở, cố vấn và tổ chức hoạt động |
| Vị trí người học |
Khách thể thụ động, lắng nghe và ghi chép |
Chủ thể nhận thức, tự lực tư duy, thảo luận và đồng sáng tạo |
| Mô hình tương tác |
Đơn tuyến: Tri thức $\rightarrow$ Thầy giáo $\rightarrow$ Học sinh |
Đa chiều: Tương tác giữa Tri thức $\leftrightarrow$ Thầy giáo $\leftrightarrow$ Học sinh |
Khóa luận sử dụng các cấp độ đọc – hiểu gồm 4 bước kế tiếp:
- Đọc thông – Đọc thuộc: Khôi phục lớp vỏ âm thanh, nhận biết ký hiệu và ghi nhớ các chi tiết/sự kiện nòng cốt.
- Đọc kĩ – Đọc sâu: Phát hiện kết cấu, các chi tiết có hàm lượng nghệ thuật cao và cấu trúc nội tại của hình tượng.
- Đọc hiểu – Đọc sáng tạo: Giải mã thông điệp nghệ thuật, lấp đầy các "khoảng trống" của văn bản bằng liên tưởng cá nhân.
- Đọc đánh giá – Đọc ứng dụng: Bình giá tư tưởng, rút ra bài học nhân sinh và vận dụng vào thực tiễn đời sống.
Phương pháp nghiên cứu thực tế:
- Phương pháp phân tích: Phân tích văn bản, lý luận dạy học và các đặc trưng thi pháp của truyện cười.
- Phương pháp thống kê: Khảo sát và phân loại hệ thống đề tài, nhân vật trong các hợp tuyển văn học dân gian.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu các quan niệm thể loại, các cấp độ tiếp nhận và so sánh các kiểu tiếng cười.
- Phương pháp thực nghiệm: Thiết kế và triển khai giáo án thực nghiệm cho 2 bài học tại trường THPT.
Nguồn dữ liệu: Sách giáo khoa Ngữ văn 10 (tập 1); các công trình nghiên cứu của Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn, Hoàng Tiến Tựu, Bùi Mạnh Nhị, Đỗ Bình Trị, Trương Chính, Phong Châu; tài liệu tâm lý học và tạp chí chuyên ngành giáo dục.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn
Chương I tập trung làm rõ nền tảng lý luận của việc dạy học đọc – hiểu môn Ngữ văn và đánh giá thực trạng giảng dạy tại trường phổ thông:
- Cơ sở tâm lý và lý luận dạy học: Xác định lứa tuổi học sinh THPT (15–18 tuổi) có sự trưởng thành vượt bậc về tư duy trừu tượng và tính phê phán. Việc áp đặt giảng giải một chiều từ giáo viên dễ triệt tiêu tính sáng tạo. Dạy học hiện đại yêu cầu lấy người học làm trung tâm, giáo viên giữ vai trò thiết kế tình huống học tập.
- Lý thuyết tiếp nhận văn học: Khẳng định tiếp nhận văn học là hoạt động chiếm lĩnh giá trị thẩm mỹ thông qua 4 bước: Đọc tác phẩm, Phân tích tác phẩm, Cắt nghĩa tác phẩm, và Bình giá tác phẩm. Khái niệm "tầm đón nhận" của bạn đọc quy định sự đa dạng trong cách hiểu tác phẩm, biến văn bản viết thành chỉnh thể nghệ thuật sống động. Mối quan hệ giữa thể loại và tiếp nhận có tính chất quy định: tác giả sáng tác theo thể loại nào thì người đọc tiếp nhận và người dạy tổ chức dạy học theo đặc trưng thể loại đó.
- Bản chất và các cấp độ đọc – hiểu: Đọc – hiểu được xác định là phương thức đặc thù của môn Ngữ văn nhằm phát triển toàn diện năng lực tư duy, cảm xúc và cảm thụ của học sinh. Bốn cấp độ đọc – hiểu (đọc thông – đọc thuộc, đọc kĩ – đọc sâu, đọc hiểu – đọc sáng tạo, đọc đánh giá – đọc ứng dụng) cấu thành quy trình tiếp cận văn bản hoàn chỉnh.
- Cơ sở thực tiễn: Khóa luận chỉ ra rằng truyện cười dân gian thường bị xem nhẹ so với các thể loại tự sự dân gian khác như truyền thuyết, truyện cổ tích, sử thi. Việc bố trí thời lượng 1 tiết (45 phút) cho 2 truyện ngắn trong SGK lớp 10 dẫn đến tình trạng giáo viên dạy lướt, không làm bật được mâu thuẫn gây cười và thi pháp thể loại.
Chương II: Đặc trưng của thể loại truyện cười và dạy đọc – hiểu truyện cười theo đặc trưng thể loại
Chương II là phần trọng tâm của công trình, chia thành hai mạch nội dung: hệ thống hóa đặc trưng thể loại truyện cười và xây dựng quy trình hướng dẫn học sinh đọc – hiểu.
1. Hệ thống đặc trưng thể loại truyện cười
- Khái niệm và phân loại: Truyện cười là tác phẩm tự sự dân gian ngắn, kết cấu chặt chẽ, kết thúc bất ngờ, kể về các hành vi sai trái, trái tự nhiên nhằm mục đích giải trí và phê phán. Truyện cười gồm hai nhóm chính:
- Truyện cười kết chuỗi: Giai thoại hài hước xoay quanh một nhân vật trung tâm (Trạng Quỳnh, Trạng Lợn, Xiển Bột, Ba Giai, Tú Xuất...).
- Truyện cười không kết chuỗi (phiếm chỉ): Các tác phẩm độc lập, nhân vật không mang tên riêng mà định danh qua nghề nghiệp, quan hệ hoặc tính cách. Gồm 3 tiểu loại: Truyện khôi hài (mua vui), Truyện trào phúng (châm biếm, phê phán), Truyện tiếu lâm (mang yếu tố tục).
| Phương diện đặc trưng |
Nội dung cụ thể theo khảo sát của tác giả |
Ví dụ minh chứng trong văn bản |
| Hệ đề tài |
• Thói xấu bản chất của giai cấp phong kiến (vua chúa, quan lại, hào lý, thầy đồ, thầy lang...) • Thói xấu thông thường của người bình dân (hà tiện, khoác lác, lười biếng, ngu dốt) • Hiện tượng hiểu lầm, lầm lỡ hớ hênh không gây hại |
"Giàn hoa lí sắp đổ", "Tam đại con gà", "Cứ bảo tuổi Sửu có được không", "Thà chết còn hơn", "Há miệng chờ sung", "Ba anh ngủ mê", "Cháy" |
| Chức năng |
• Gây cười: Phát hiện mâu thuẫn trái tự nhiên giữa "cái đáng cười" và nhận thức "cái cười" • Ý nghĩa nhân sinh: Công cụ phê bình và tự phê bình của nhân dân; giáo dục lối sống; đả kích áp bức xã hội |
"Tam đại con gà" (châm biếm dốt nát che đậy), "Nhưng nó phải bằng hai mày" (vạch trần quan lại xử kiện bằng tiền), "Sang cả mình con" (tố cáo bóc lột) |
| Thi pháp |
• Cấu trúc mâu thuẫn như một màn kịch: Giới thiệu $\rightarrow$ Phát triển đến đỉnh điểm $\rightarrow$ Bộc lộ mâu thuẫn (gây cười bất ngờ) • Tuyến nhân vật "mảnh đời": Phản diện, Chính diện, Trung gian (thể hiện qua hành vi/lời nói) • Nghệ thuật kể chuyện: Phóng đại sự việc/tâm lý và tạo kịch tính bất ngờ • Phương thức diễn xướng: Lưu truyền tự phát, không nghi thức trong đời sống lao động |
"Thà chết còn hơn" (cò kè bớt một thêm hai với tính mạng), "Thần bia trả nghĩa" (lãnh binh bắn tồi), "Lợn cưới áo mới" (thói khoe của) |
2. Định hướng hệ thống câu hỏi đọc – hiểu theo đặc trưng thể loại
Tác giả đề xuất quy trình dạy học bằng hệ thống câu hỏi gợi mở, nêu vấn đề giúp học sinh trực tiếp phân tích văn bản:
- Hướng dẫn xác định đề tài: Dẫn dắt học sinh nhận diện đối tượng bị đem ra cười (quan lại tham nhũng trong "Nhưng nó phải bằng hai mày", thầy đồ dốt trong "Tam đại con gà" hay người keo kiệt trong "Thà chết còn hơn").
- Hướng dẫn xác định "cái đáng cười" và ý nghĩa cái cười: Hướng dẫn học sinh tìm ra mâu thuẫn giữa nội dung thực tế (rỗng tuếch, dốt nát, tham lam) và vỏ bọc bên ngoài (đạo mạo, huênh hoang, danh nghĩa xử kiện giỏi).
- Hướng dẫn khai thác thi pháp: Hướng dẫn học sinh phân tích cấu trúc kịch tính, kết thúc đột ngột và thủ pháp phóng đại của truyện dân gian.
Chương III: Giáo án thực nghiệm
Chương III cung cấp 2 thiết kế giáo án giảng dạy thực nghiệm theo phương pháp đọc – hiểu thể loại cho chương trình Ngữ văn 10:
- Giáo án thực nghiệm 1: "Tam đại con gà"
- Mục tiêu bài học: Giúp học sinh nhận diện mâu thuẫn trào phúng giữa sự dốt nát cùng cực và thói giấu dốt, khoe khoang của nhân vật thầy đồ; nắm bắt thủ pháp phóng đại và kết cấu tăng tiến của truyện; rút ra bài học về thái độ học tập trung thực.
- Tiến trình dạy học: Tổ chức học sinh đọc phân vai; hướng dẫn phân tích các chặng mâu thuẫn (thầy không biết chữ kê $\rightarrow$ bảo học trò đọc khẽ "dủ dỉ là con dù dì" $\rightarrow$ xin đài âm dương $\rightarrow$ đắc chí bảo đọc to $\rightarrow$ bị chủ nhà chất vấn $\rightarrow$ chống chế vòng vo về "ba đời con gà"); đánh giá nghệ thuật và liên hệ thực tế.
- Giáo án thực nghiệm 2: "Nhưng nó phải bằng hai mày"
- Mục tiêu bài học: Hướng dẫn học sinh khám phá bản chất tham nhũng của tầng lớp thống trị (thầy lý trưởng) qua thủ pháp xử kiện bằng tiền; phân tích nghệ thuật chơi chữ kết hợp cử chỉ (xòe năm ngón tay, úp năm ngón tay); phê phán sự suy thoái đạo đức và nỗi bất công của người nông dân trong xã hội phong kiến.
- Tiến trình dạy học: Khảo sát tình huống kịch (Cải và Ngô đánh nhau đi kiện); phân tích hành vi hối lộ và hành động xử kiện của lý trưởng; tổng kết tiếng cười đả kích sâu cay đối với nạn tham quan lại nhũng.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã đạt được những kết quả cụ thể sau:
- Hệ thống hóa lý luận dạy học đọc – hiểu truyện cười: Làm rõ cơ chế tiếp nhận văn học dân gian qua trục thể loại, chỉ ra bản chất của truyện cười là loại kịch bản thu nhỏ xoay quanh "cái đáng cười" và mâu thuẫn trái tự nhiên.
- Đề xuất giải pháp sư phạm khắc phục rào cản thời gian: Đưa ra mô hình dạy học tích hợp sử dụng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề, hướng dẫn học sinh phương pháp tiếp cận thể loại để có thể tự đọc – hiểu các tác phẩm truyện cười khác ngoài SGK mà không phụ thuộc vào thuyết giảng của giáo viên.
- Xây dựng bộ giáo án thực nghiệm hoàn chỉnh: Cung cấp 2 giáo án thực nghiệm cho 2 văn bản truyện cười trong SGK Ngữ văn 10 (tập 1) với hệ thống câu hỏi phân hóa từ nhận diện đề tài, phân tích mâu thuẫn đến bình giá ý nghĩa nhân sinh.
- Đóng góp về mặt học thuật và phương pháp: Bổ sung vào mảng phương pháp giảng dạy truyện cười dân gian – một mảng nghiên cứu vốn ít được chú trọng hơn so với truyện cổ tích và truyền thuyết (như công trình của Hoàng Tiến Tựu trước đây chủ yếu tập trung vào cổ tích và truyền thuyết).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Phạm vi khảo sát và thực nghiệm mới dừng lại ở thể loại truyện cười không kết chuỗi và tập trung trên 2 văn bản trong chương trình Ngữ văn lớp 10 tập 1 ("Tam đại con gà" và "Nhưng nó phải bằng hai mày").
- Chưa mở rộng khảo nghiệm sâu sang mảng truyện cười kết chuỗi (các giai thoại Trạng Quỳnh, Trạng Lợn...) trong mối liên hệ với giảng dạy tự chọn hoặc hoạt động ngoại khóa.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng ứng dụng phương pháp đọc – hiểu thể loại cho toàn bộ hệ thống tự sự dân gian (truyện ngụ ngôn, thần thoại, truyện thơ dân gian).
- Đánh giá định lượng kết quả học tập của học sinh qua các phiếu điều tra khảo sát năng lực cảm thụ sau tiết học thực nghiệm.
Giá trị tham khảo
Tài liệu là nguồn tham khảo phục vụ trực tiếp cho các nhóm đối tượng:
- Sinh viên ngành Sư phạm Ngữ văn: Tham khảo khung lý thuyết tiếp nhận, quy trình thiết kế giáo án đọc – hiểu theo đặc trưng thể loại và kỹ năng xây dựng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề.
- Giáo viên môn Ngữ văn cấp THPT: Ứng dụng trực tiếp 2 giáo án thực nghiệm tại Chương III cho bài học truyện cười trong chương trình lớp 10; vận dụng bảng phân loại và phân tích thi pháp tại Chương II để giảng dạy các bài đọc thêm hoặc tổ chức chuyên đề văn học dân gian.
- Người nghiên cứu phương pháp dạy học: Tham khảo cách kết hợp giữa lý luận thi pháp học dân gian với lý thuyết đọc – hiểu hiện đại trong thiết kế tiến trình dạy học.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận phân chia truyện cười dân gian Việt Nam thành những loại hình nào?
Khóa luận chia truyện cười dân gian thành hai loại hình chính: truyện cười kết chuỗi (giai thoại hài hước xoay quanh một nhân vật như Trạng Quỳnh, Trạng Lợn, Ba Giai, Tú Xuất...) và truyện cười không kết chuỗi/phiếm chỉ (truyện độc lập, nhân vật không mang tên riêng). Nhóm truyện cười không kết chuỗi tiếp tục được chia thành 3 tiểu loại: truyện khôi hài, truyện trào phúng và truyện tiếu lâm.
2. "Cái đáng cười" và "Cái cười" được tác giả luận giải như thế nào trong thi pháp truyện cười?
"Cái đáng cười" là hiện tượng mang mâu thuẫn trái tự nhiên, ngược đời nhưng mang bề ngoài hợp lệ, tồn tại khách quan trong đời sống. "Cái cười" là hành động phản ứng bật ra khi nhận thức và tư duy lý tính của người đọc phát hiện ra mâu thuẫn ngược đời đó. Mục đích trước hết của truyện cười là phát hiện mâu thuẫn để gây cười.
3. Thi pháp cấu tạo một truyện cười dân gian gồm những chặng nào?
Cấu tạo truyện cười được tổ chức tương tự một màn kịch ngắn, trải qua 3 chặng: (1) Giới thiệu hiện tượng có mâu thuẫn tiềm tàng; (2) Mâu thuẫn tiềm tàng phát triển đến đỉnh điểm; (3) Mâu thuẫn bộc lộ đột ngột (cái xấu bị lật tẩy, cái cười bùng nổ và câu chuyện kết thúc).
4. Hai biện pháp nghệ thuật cơ bản nào được dân gian sử dụng trong nghệ thuật kể chuyện cười?
Hai biện pháp cơ bản là phóng đại (phóng đại sự việc, tâm lý, thói xấu của nhân vật để làm nổi bật sự kì dị giữa nội dung và hình thức) và kịch tính (tạo ra sự thay đổi tình huống đột ngột, bất ngờ ở thời điểm bế tắc để làm mâu thuẫn phơi bày).
5. Vì sao dạy đọc – hiểu truyện cười cần tránh việc thuyết giảng đạo đức quá mức?
Khóa luận chỉ ra rằng truyện cười phản ánh cái xấu bằng thái độ giễu nhại, châm biếm để người đọc tự phát hiện bài học. Nếu giáo viên quá nặng nề về thuyết giảng đạo đức sẽ làm triệt tiêu tính chất hài hước và làm mất đi "bản sắc" đặc trưng của thể loại; giờ học thành công phải đảm bảo học sinh vừa được cười sảng khoái vừa tự thấm thía ý nghĩa nhân sinh.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thị Thanh Quý đã giải quyết một cách có hệ thống vấn đề phương pháp dạy học đọc – hiểu truyện cười dân gian theo đặc trưng thể loại tại trường THPT. Bằng việc kết hợp lý thuyết tiếp nhận văn học hiện đại với thi pháp học văn học dân gian, công trình đã xác lập quy trình hướng dẫn học sinh giải mã mâu thuẫn trào phúng và ý nghĩa nhân sinh của tiếng cười. Hệ thống câu hỏi định hướng và 2 giáo án thực nghiệm cho các tác phẩm "Tam đại con gà" và "Nhưng nó phải bằng hai mày" là tài liệu thực hành sư phạm có giá trị ứng dụng trực tiếp cho giáo viên và sinh viên ngành Sư phạm Ngữ văn.