Phát triển năng lực tái hiện hình tượng và tưởng tượng cho học sinh lớp 12 trong dạy học truyện ngắn

Luận án nghiên cứu phát triển năng lực tái hiện hình tượng cho học sinh lớp 12 trong dạy học truyện ngắn, nâng cao khả năng tư duy sáng tạo.

Trường đại học

Trường Trung Học Phổ Thông

Chuyên ngành

Ngữ Văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án
161
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Tình hình nghiên cứu về vấn đề tái hiện hình tượng, liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học văn

1.1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

1.1.2. Tiếp cận từ quan điểm của nghiên cứu lí luận văn học

1.1.3. Tiếp cận từ quan điểm của phương pháp dạy học

2. CHƯƠNG 2: TIỀN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TÁI HIỆN HÌNH TƯỢNG, LIÊN TƯỞNG, TƯỞNG TƯỢNG CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN Ở LỚP 12

4. CHƯƠNG 4: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ LUẬN ÁN

THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của đề tài

Phát triển năng lực tưởng tượng cho học sinh lớp 12 là một nội dung quan trọng trong đổi mới giáo dục hiện nay. Giáo dục đang chuyển biến mạnh mẽ, từ nội dung đến phương pháp, nhằm phát triển năng lực cho người học. Môn Ngữ văn không chỉ chú trọng đến việc tạo lập văn bản mà còn tập trung vào việc hình thành và phát triển năng lực tiếp nhận cho học sinh. Qua các tác phẩm văn học, giáo viên cần phát huy phẩm chất như khả năng tái hiện chân xác, liên tưởng phong phú và tưởng tượng sáng tạo. Đây là một sứ mệnh thiêng liêng của môn Ngữ văn, giúp học sinh nhận ra giới hạn của con người và vượt qua nó. Việc phát triển năng lực tái hiện hình tượng, liên tưởng và tưởng tượng sẽ nâng cao hiệu quả tiếp nhận tác phẩm văn chương, đồng thời giúp học sinh xây dựng những kiểu mẫu hình tượng độc đáo.

1.1. Định nghĩa và vai trò của năng lực tưởng tượng

Năng lực tưởng tượng được hiểu là khả năng tạo ra hình ảnh, ý tưởng trong tâm trí, từ đó giúp học sinh cảm thụ văn học một cách sâu sắc hơn. Việc phát triển năng lực này không chỉ giúp học sinh hiểu rõ hơn về tác phẩm mà còn kích thích sự sáng tạo và khả năng tư duy độc lập. Giáo viên dạy văn cần chú trọng đến việc tổ chức các hoạt động học tập giúp học sinh phát triển năng lực này, từ đó tạo ra môi trường học tập tích cực và hiệu quả.

II. Thực trạng dạy học văn hiện nay

Trong những năm gần đây, dạy học Ngữ văn đã có nhiều đổi mới, tuy nhiên, hiệu quả dạy học vẫn chưa đạt được như mong muốn. Một trong những nguyên nhân chính là việc giáo viên chưa nhận thức rõ về mối quan hệ giữa phản ứng tình cảm của học sinh và tâm lý sáng tạo của nhà văn. Năng lực tái hiện hình tượng, liên tưởng và tưởng tượng chưa được xem như một cơ chế trong quá trình dạy học, dẫn đến việc học sinh không thể tiếp xúc và tương tác với tác phẩm một cách hiệu quả. Điều này làm cho tình cảm của học sinh cách biệt với thế giới hình tượng trong tác phẩm, từ đó ảnh hưởng đến khả năng cảm thụ văn học của các em.

2.1. Những hạn chế trong dạy học truyện ngắn

Dạy học truyện ngắn hiện nay vẫn chưa đạt kết quả như mong đợi. Giáo viên chưa thực sự bám sát đặc trưng thi pháp của thể loại này để huy động năng lực tái hiện, liên tưởng và tưởng tượng. Việc thiếu sự kết nối giữa các hoạt động tri giác ngôn ngữ và tâm lý học sinh trong quá trình tiếp nhận tác phẩm dẫn đến những phản ứng tình cảm không thể tiếp xúc với thế giới nghệ thuật của nhà văn. Điều này cần được khắc phục để nâng cao hiệu quả dạy học.

III. Đề xuất biện pháp phát triển năng lực tưởng tượng

Để phát triển năng lực tưởng tượng cho học sinh lớp 12, cần thiết phải áp dụng các biện pháp dạy học phù hợp với đặc trưng thi pháp của thể loại truyện ngắn. Các biện pháp này bao gồm việc tổ chức các hoạt động học tập giúp học sinh tái hiện hình tượng, liên tưởng và tưởng tượng một cách có hiệu quả. Giáo viên cần tạo ra môi trường học tập tích cực, khuyến khích học sinh tham gia vào các hoạt động thảo luận, phân tích tác phẩm, từ đó giúp các em phát triển khả năng sáng tạo và tư duy độc lập.

3.1. Tổ chức hoạt động học tập hiệu quả

Các hoạt động học tập cần được thiết kế sao cho khuyến khích học sinh tham gia tích cực. Việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực như thảo luận nhóm, phân tích tác phẩm theo nhóm sẽ giúp học sinh phát triển năng lực tưởng tượng. Giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách liên tưởng và tái hiện hình tượng trong tác phẩm, từ đó giúp các em cảm nhận sâu sắc hơn về nội dung và ý nghĩa của tác phẩm.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu chương Thần tứ của cuốn sách Văn tâm điêu long, ông viết: “Hình tại nơi sông biển, tâm tại nơi cửa khuyết, đó là nói về thần tứ vậy. Khi cấu tứ văn chương, cái thần bay rất xa. Bởi vậy, lúc lặng lẽ tập trung suy nghĩ, dòng tư duy có thể tiếp xúc tận ngàn năm, khi đổi thay nét mặt ngắm nhìn, thì ánh mắt như thấy được vạn dặm. Ngâm vịnh lên, âm thanh như nhả ngọc phun châu, tưởng tượng nhìn trước mắt như sắc màu mây gió”[38, tr.

Như vậy, tác giả Thần tứ đã đặt ra vấn đề về trí tưởng tượng trong sáng tạo – một vấn đề nhạy cảm, rất khó nắm bắt và lí giải đối với lý luận văn học. Hơn nữa, với việc chỉ ra một số quy luật của năng lực liên tưởng và tưởng tượng, Lưu Hiệp đã đóng góp rất lớn cho nghiên cứu về tính chất đặc thù của tiếp nhận nghệ thuật và có thể xem như một định hướng về phương pháp luận trong dạy học văn. Ở phương Tây, Aristotle, nhà triết học Hy Lạp thời cổ đại là người bàn sớm về vai trò của trí tưởng tượng, ở chương XVII của quyển Nghệ thuật thơ ca cho rằng, khi xây dựng các cốt truyện phải làm thế nào hình dung được 10 chúng thật sinh động ở trước mắt. Theo luận giải của ông: “Nhà thơ cần phải cố gắng hình dung cho mình thấy được cả hoàn cảnh của những nhân vật hành động nữa, vì theo bản chất tự nhiên, những ai tự mình trải qua một nỗi cảm xúc nào đó mới có thể truyền đạt được nổi cảm xúc ấy đúng nhất, chỉ có người nào xúc động mới thực sự làm cho người khác xúc động, và chỉ có người nào phẫn nộ mới làm cho người khác phẫn nộ mà thôi”[2, tr.

Như vậy, từ nhận định này, chúng tôi hiểu rằng, thơ ca là lĩnh vực của những người có tài và những người đam mê, vì những người có tài mới có khả năng hóa thân, nhập vai, và những người đam mê mới có khả năng phấn hứng cao độ. Thành công của tác phẩm trước hết bắt nguồn từ mối quan hệ giữa hình dung và sự trải nghiệm tưởng tượng của nhà thơ, hình dung và tài năng cá nhân. Tư tưởng này của Aristote được giới nghiên cứu lý luận văn học phương Tây tiếp tục phát triển thêm một bước nữa khi bàn về trí tưởng tượng sáng tạo và cấu tứ của tác phẩm. Theo nhóm tác giả này, tưởng tượng là một trong những biện pháp quan trọng nhất để nhà văn xây dựng hình tượng, qua óc tưởng tượng, các hình ảnh mới hiển hiện sống động dưới ngòi bút nhà văn với ngôn ngữ, hành động, với dáng vẻ và nội tâm vô cùng phong phú.

Cùng nhận định như trên, nhiều nhà khoa học khác đã phân tích về năng lực tưởng tượng từ điểm nhìn của lí luận sáng tạo văn học để lượng định về sự bền vững và tầm mức ảnh hưởng bởi cá tính sáng tạo của nhà văn đối với quá trình phát triển văn học. Tiêu biểu là các nghiên cứu của M.Khrapchenko - Viện sĩ Viện Hàn Lâm Khoa học Liên Xô, tác giả đã chỉ ra rằng, trí tưởng tượng và sự tái hiện có thể coi là một dạng năng lực đặc biệt và rất cần thiết đối với quá trình lao động nghệ thuật của nhà văn. Ông nói: “Trong sự thiết kế tác phẩm văn học, trong những khám phá nghệ thuật mà nhà văn thực hiện, trí tưởng tượng sáng tạo đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Cái chủ yếu trong tài năng nghệ thuật – đó là cái được gọi là sự tái hiện và tưởng tượng sáng tạo”[28, tr.

Rõ ràng, nếu không có trí tưởng tượng thì không thể chế biến một cách sáng tạo những ấn tượng và những điều quan sát được trong cuộc sống 11 thành những hình tượng nghệ thuật độc đáo. Đồng thuận với các quan điểm trên khi lí giải về năng lực sáng tạo của nhà văn, K. Pauxtopxki trong các nghiên cứu của mình đã nhấn mạnh đến yếu tố khai sáng trong nhận thức và tư duy của con người, ông cho rằng, không có tưởng tượng thì không thể khai hoa kết quả, và nơi ấy trí tưởng tượng tưởng tượng sinh ra tất cả. Ông khẳng định: “Nếu trí tưởng tượng tái hiện mất đi con người sẽ không còn là con người"[77, tr.

Chúng tôi cho rằng, các tác giả đã coi trí tưởng tượng và sự tái hiện là những năng lực quan trọng trong sáng tạo của nhà văn, là cội nguồn trong hoạt động sáng tạo của con người và từ đó có thể đoán giải tương lai. (2) Tiếp cận từ quan điểm của phương pháp dạy học Từ bình diện dạy học, cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, thế giới đã bàn nhiều đến khả năng sáng tạo của học sinh, và kỹ thuật sáng tạo được xem là quan trọng nhất trong mọi hoạt động sáng tạo của các em. Kỹ thuật đó, theo tác giả Chu Quang Tiềm được bắt đầu từ những linh cảm, những liên tưởng và tưởng tượng phục hồi, nhằm hồi tưởng lại (tái hiện) những hình ảnh do tri giác thu nhận được trong quá trình đọc tác phẩm. Nhưng những tưởng tượng phục hồi, các linh cảm trực giác đó chưa thể trở thành hoạt động sáng tạo mà học sinh phải trải qua thao tác hệ thống hóa, phân tích và dần dần hình thành những liên tưởng sáng tạo.

Sự liên tưởng và tưởng tượng sáng tạo thường liên quan đến các đặc điểm của chi tiết hay hình ảnh mà các em ấn tượng. Sau đó, lí giải và liên tưởng nó bằng sự nếm trải, từ đó hình thành cách thức lập luận trong việc trình bày hướng lí giải của bản thân, tất cả quy trình đó chính là khâu kỹ thuật trong hoạt động sáng tạo. Tác giả nhấn mạnh: “Tưởng tượng sáng tạo là đem những ý tưởng có tính cách linh hoạt tản mạn dung hợp thành nhất quán và sự dung hòa cho ý tưởng thành nhất quán ấy chính là tình cảm”[92, tr. Chúng tôi nhận thấy, tác giả Chu Quang Tiềm đã xác nhận vai trò đặc biệt quan trọng của năng lực tái hiện, liên tưởng, tưởng tượng trong hoạt động tâm lí, hoạt động sáng tạo của chủ thể người học.

Ở góc độ phương pháp tâm lí sư phạm, các công trình nghiên cứu của tác giả Levitov công bố năm 1970 đã chỉ ra rằng, học sinh cần phải có những 12 biểu tượng về những sự vật không có trong kinh nghiệm cũ của họ, nghĩa là về những sự vật chưa bao giờ được tri giác. Theo ông: “Ngôn ngữ văn học giàu hình ảnh và gợi cảm, nó đòi hỏi học sinh phải dùng tưởng tượng để xây dựng và tái hiện những biểu tượng phù hợp"[32, tr. Như vậy, tác giả đã phân tích các thuộc tính đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật; đồng thời, với việc đề cao vai trò của tái tạo trong xây dựng biểu tượng và lĩnh hội tri thức, tác giả đã xem việc sáng tạo hình tượng như một điều kiện để nâng cao hiệu quả tiếp nhận tác phẩm văn chương của chủ thể người học. Có nhiều điểm gặp gỡ và tương đồng với quan điểm trên, tác giả V.Nhikonxki trong công trình Phương pháp giảng dạy văn học ở trường phổ thông năm 1978 đã chỉ ra đặc thù của quá trình cảm thụ đọc sách.

Theo ông, bản thân tác phẩm luôn gợi ra bức tranh của cuộc sống bằng năng lực tâm lí của nhà văn, cảm thụ đọc sách được hiểu như một quá trình tái hiện sáng tạo đầy phức tạp trong khi đọc. Tác giả lưu ý: “Cảm thụ đọc sách không phải là sự tổng hợp những tín hiệu về tình cảm, mà là những biểu tượng được tạo nên bằng hoạt động của sự tái hiện do các tín hiệu từ ngôn ngữ tạo ra”[68, tr. Như vậy, cảm thụ văn học về cơ bản có tính sinh động, điều đó yêu cầu người học cần có sự nuôi dưỡng và chắp cánh cho trí tưởng tượng phong phú của mình để gắn kết quá trình cảm thụ với hoạt động tiếp nhận sáng tạo. Cuối thế kỉ XIX, nghiên cứu về phương pháp giảng dạy văn học ngày một chuyên sâu hơn trong việc tìm ra quy luật và bản chất của quá trình tiếp cận tác phẩm của chủ thể học sinh.

Trong đó, cần phải kể đến các nghiên cứu của Z. Ia Rez, cụ thể là trong công trình Phương pháp luận dạy văn học năm 1983, nhà nghiên cứu này đã chỉ ra rằng, việc kích thích cho các năng lực tâm lí hoạt động, sự đồng sáng tạo của người đọc sẽ giúp lĩnh hội văn bản về mặt lô gíc một cách sâu sắc tính hình tượng. Theo đó, nhiệm vụ quan trọng của người dạy là đánh thức khả năng liên tưởng phong phú, tưởng tượng sáng tạo và sự tái hiện hình tượng một cách chân xác trong tư duy sẽ làm cho sự cảm thụ tác phẩm của họ được phong phú và sâu sắc hơn. Tác giả cho rằng: “Các quan hệ liên tưởng giữ một vai trò hàng đầu trong tư duy nghệ thuật.

Tính 13 đến ý nghĩa của các liên tưởng hình tượng người giáo viên văn sẽ cố gắng liên kết tài liệu lại theo những quy tắc và làm cho học sinh cảm nhận được cả ý niệm lẫn hình tượng của hiện tượng”[82, tr. Có thể nói, tiếp cận TPVC theo hướng vận dụng và phát triển năng lực tái hiện hình tượng, liên tưởng và tưởng tượng là một hướng đi đúng đắn. Như vậy, với đường hướng này, các nhà nghiên cứu đã đưa ra cái nhìn chân xác về bản chất của quá trình giải mã tác phẩm văn học. Tuy nhiên, tác giả luận án nhận thấy, các nghiên cứu trên còn nặng về lí thuyết, chưa bàn luận trực diện về phương pháp cụ thể để phát triển năng lực cho người học ở một thể loại riêng biệt.

Chúng tôi xin kế thừa những thành tựu này để hướng đến phát huy năng lực tiếp nhận, đặc biệt là năng lực tái hiện hình tượng, liên tưởng và tưởng tượng của học sinh trong quá trình tổ chức dạy học truyện ngắn ở nhà trường phổ thông. Tình hình nghiên cứu ở trong nước Ở nước ta, các nhà nghiên cứu lí luận văn học, nhà sư phạm Ngữ văn đều rất quan tâm đến năng lực tái hiện, liên tưởng và tưởng tượng trong các hoạt động sáng tạo. (1) Tiếp cận từ quan điểm của lí luận và phê bình văn học Con đường sáng tạo của nhà văn đã được Hoàng Trinh bàn đến trong cuốn Văn học cuộc sống nhà văn năm 1978, trong công trình này, người viết đã chỉ ra tầm quan trọng của trí tưởng tượng trong sáng tạo nghệ thuật, nó tham gia vào tất cả các khâu và trải qua các bước khác nhau.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Phát triển năng lực tái hiện hình tượng và tưởng tượng cho học sinh lớp 12 trong dạy học truyện ngắn" tập trung vào việc nâng cao khả năng tưởng tượng và tái hiện hình ảnh cho học sinh lớp 12 thông qua việc dạy học truyện ngắn. Tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển năng lực này không chỉ giúp học sinh hiểu sâu hơn về tác phẩm văn học mà còn kích thích sự sáng tạo và tư duy phản biện của các em. Bài viết cung cấp những phương pháp giảng dạy hiệu quả, từ đó giúp giáo viên có thể áp dụng vào thực tiễn lớp học, mang lại lợi ích cho cả giáo viên và học sinh.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp giáo dục và phát triển năng lực cho học sinh, bạn có thể tham khảo các bài viết liên quan như "Phát triển năng lực tự học cho học sinh qua hệ thống bài tập hóa học lớp 12", nơi đề cập đến việc phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua các bài tập thực tiễn. Bài viết "Luận án tiến sĩ về phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh vùng Tây Bắc trong dạy học hóa học phi kim" cũng mang đến cái nhìn sâu sắc về việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh. Cuối cùng, bài viết "Luận văn thạc sĩ về phát triển tư duy phản biện cho học sinh lớp 11 qua dạy học hình học không gian" sẽ giúp bạn hiểu thêm về cách phát triển tư duy phản biện cho học sinh thông qua các hoạt động trải nghiệm. Những tài liệu này sẽ cung cấp cho bạn nhiều góc nhìn và phương pháp hữu ích trong việc giảng dạy và phát triển năng lực cho học sinh.