Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ: "Phát triển năng lực tái hiện hình tượng, liên tưởng và tưởng tượng của học sinh trong dạy học truyện ngắn ở lớp 12" thuộc chuyên ngành Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn Ngữ văn (Khoa học Giáo dục). Luận án được triển khai theo hướng tiếp cận liên ngành giữa lí luận văn học, thi pháp học thể loại, tâm lí học tiếp nhận và phương pháp dạy học bộ môn.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Công cuộc đổi mới giáo dục phổ thông chuyển dịch trọng tâm từ truyền thụ kiến thức sang phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực người học. Trong môn Ngữ văn, bên cạnh năng lực tạo lập văn bản, việc hình thành và phát triển năng lực tiếp nhận tác phẩm giữ vai trò cốt lõi. Tuy nhiên, tác giả luận án chỉ ra các vấn đề cấp thiết xuất phát từ lí luận và thực tiễn:
- Về phương diện tiếp nhận văn học: Cảm thụ văn học là quá trình chiếm lĩnh và sáng tạo. Việc vận hành đồng bộ các hoạt động tâm lí gồm tái hiện hình tượng, liên tưởng và tưởng tượng là phương thức tư duy then chốt giúp chuyển hóa văn bản của nhà văn thành tác phẩm trong thế giới tinh thần của học sinh, thu hẹp khoảng cách thẩm mỹ giữa người đọc và tác giả.
- Về thực tiễn dạy học Ngữ văn tại trường Trung học phổ thông (THPT): Hiệu quả dạy học tác phẩm văn chương chưa đạt kỳ vọng do giáo viên chưa nhận thức rõ cơ chế vận hành tâm lí và mối quan hệ giữa phản ứng tình cảm của học sinh với tâm lí sáng tạo của nhà văn. Năng lực cảm thụ của học sinh còn bộc lộ nhiều hạn chế: tái hiện hình tượng sai lệch hoặc thiếu chân xác, liên tưởng nông cạn, tưởng tượng tản mạn và cảm thụ hời hợt.
- Về thực tiễn dạy học thể loại truyện ngắn ở lớp 12: Giáo viên chưa bám sát các yếu tố thi pháp đặc trưng của thể loại (biểu tượng, chi tiết, sự kiện, tình huống, nhân vật, kết cấu, ngôi kể, lời kể, giọng kể, điểm nhìn) để kích hoạt liên tưởng và tưởng tượng; chưa định dạng được kiểu loại hình tượng trong tâm lí sáng tạo của tác giả, dẫn đến sự đứt gãy tương tác thẩm mỹ giữa học sinh và văn bản truyện ngắn.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu:
- Làm sáng rõ bản chất của quá trình tiếp nhận thể loại truyện ngắn thông qua các hoạt động tái hiện hình tượng, liên tưởng và tưởng tượng của học sinh lớp 12.
- Xây dựng và đề xuất hệ thống biện pháp sư phạm nhằm phát triển đồng bộ năng lực tái hiện hình tượng, liên tưởng và tưởng tượng cho học sinh trong quá trình dạy học đọc hiểu truyện ngắn lớp 12.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- 3.2.1. Nghiên cứu cơ sở lí luận và khảo sát thực tiễn về năng lực tái hiện hình tượng, liên tưởng, tưởng tượng của học sinh trong dạy học truyện ngắn ở trường THPT.
- 3.2.2. Tiến hành thực nghiệm sư phạm các biện pháp đã đề xuất trong dạy học đọc hiểu truyện ngắn lớp 12 nhằm kiểm chứng và khẳng định tính khả thi, hiệu quả của đề tài.
- Giả thuyết khoa học: Nếu làm sáng rõ cơ sở khoa học của việc vận dụng lí thuyết tiếp nhận truyện ngắn và xác lập được các biện pháp thích hợp để phát triển năng lực tái hiện hình tượng, liên tưởng, tưởng tượng cho học sinh thì sẽ nâng cao được hiệu quả dạy học truyện ngắn ở lớp 12.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quá trình phát triển năng lực tái hiện hình tượng, liên tưởng, tưởng tượng của học sinh lớp 12 trong dạy học đọc hiểu truyện ngắn theo hướng tiếp nhận sáng tạo.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi nội dung và tư liệu: Chương trình truyện ngắn Ngữ văn lớp 12; trong đó tập trung khảo sát, phân tích và thực nghiệm sư phạm qua hai tác phẩm trung tâm: Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài và Vợ nhặt của Kim Lân (kết hợp đối chứng cứ liệu từ Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi và Tắt đèn của Ngô Tất Tố).
- Phạm vi khách thể: Giáo viên Ngữ văn và học sinh lớp 12 tại các trường THPT.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa và phân tích tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo hai trục chính: nghiên cứu về các năng lực tâm lí trong tiếp nhận văn học và nghiên cứu về phương pháp dạy học thể loại truyện ngắn.
| Hướng tiếp cận |
Tác giả, công trình tiêu biểu |
Luận điểm chính được luận án kế thừa |
| Lí luận văn học & Mĩ học thế giới |
• Lưu Hiệp (Văn tâm điêu long, chương Thần tứ) • Aristotle (Nghệ thuật thơ ca, chương XVII) • M. Khrapchenko, K. Pauxtopxki |
Trí tưởng tượng và sự tái hiện là cội nguồn của lao động nghệ thuật, giúp nhà văn và người tiếp nhận hóa thân, trải nghiệm cảm xúc và kiến tạo hình tượng. |
| Tâm lí sư phạm & PPDH thế giới |
• Chu Quang Tiềm • Levitov (1970) • V. Nhikonxki (1978) • Z. Ia Rez (1983) |
Kỹ thuật sáng tạo bắt đầu từ tưởng tượng phục hồi đến liên tưởng sáng tạo; cảm thụ đọc sách là quá trình tái hiện sáng tạo từ tín hiệu ngôn ngữ. |
| Dạy học truyện ngắn thế giới |
• Tzvetan Todorov • Bộ GD Kentucky (2000) • Parvin Ghasemi (2011) • Pearson (2014) • Mukti Prakash Thapliya (2012) |
Tưởng tượng hoạt động như bộ lọc thông tin; đọc nhập thân và tư duy phản biện qua truyện ngắn kích thích trí tưởng tượng và làm phong phú kĩ năng phân tích văn bản. |
| Lí luận & Phê bình văn học Việt Nam |
• Hoàng Trinh (1978) • Trần Đình Sử (2008) • Đào Duy Hiệp, Phan Thị Huyền Trang, Trần Ngọc Hiếu... |
Hình tượng văn học là sự tổng hòa giữa tưởng tượng trực giác, tình cảm và trí tuệ; tưởng tượng phân giải và tổ hợp các biểu tượng để tạo ra hình tượng mới. |
| Lí luận & PPDH văn học Việt Nam |
• Phan Trọng Luận (1977, 1983, 1996, 2006, 2012, 2014) • Lâm Vinh (1981) • Nguyễn Duy Bình (1983) • Đỗ Huy Quang (1996) • Đặng Hiển, Nguyễn Thanh Hùng, Nguyễn Trọng Hoàn (2003) • Phạm Toàn, Nguyễn Thị Thanh Hương, Phạm Thị Thu Hương (2012) |
Tái hiện hình tượng là công cụ, khâu truyền thụ và thao tác tư duy trọng yếu; liên tưởng và tưởng tượng là phương thức tự chiếm lĩnh kiến thức và hoàn thiện nhân cách học sinh. |
| Dạy học truyện ngắn tại Việt Nam |
• Trần Thanh Đạm (1974) • Hà Nguyễn Kim Giang (2010) • Lê Tuyết Hạnh, Trần Đăng Suyền (2012) • Đỗ Tiến Sỹ (2012) • Nguyễn Viết Chữ (2015) • Hoàng Văn Vĩnh (2015) |
Dạy học truyện ngắn cần bám sát cốt truyện, nhân vật, chi tiết, thời gian nghệ thuật, lời kể và hệ thống câu hỏi kích thích tưởng tượng của người đọc. |
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
Mặc dù các công trình trước đây đã khẳng định vai trò của liên tưởng, tưởng tượng và đề xuất nhiều cách tiếp cận đọc hiểu truyện ngắn, phần lớn các nghiên cứu dừng lại ở mức độ gợi dẫn lí thuyết chung hoặc phân tích thao tác đọc hiểu đơn lẻ. Vấn đề phối hợp đồng bộ ba năng lực (tái hiện hình tượng, liên tưởng, tưởng tượng) gắn liền với thi pháp thể loại truyện ngắn trong chương trình lớp 12 vẫn chưa được giải quyết một cách trực diện và có hệ thống giải pháp sư phạm cụ thể. Luận án lựa chọn khoảng trống này để xây dựng mô hình tiếp nhận sáng tạo cho học sinh THPT.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Quan niệm về phát triển: Dựa trên Từ điển Tiếng Việt thông dụng (Nguyễn Như Ý, 2003), phép duy vật biện chứng và tâm lí học phát triển, phát triển được xác định là quá trình biến đổi về phương diện cấu trúc hoặc tổ chức lại những cái đã có để tạo ra cái mới ở trình độ cao hơn. Quá trình phát triển năng lực tiếp nhận tuân thủ các nguyên tắc: tính khách quan, tính phổ biến, tính đa dạng phong phú và tôn trọng quy luật tâm lí lứa tuổi.
- Cấu trúc ba năng lực thành phần:
- Năng lực tái hiện hình tượng: Khả năng khôi phục, làm sống lại các kích thích ngôn ngữ thành biểu tượng trực quan; liên hợp các tầng nghĩa, chi tiết, nhân vật của tác phẩm trong tâm trí người học.
- Năng lực liên tưởng: Cơ chế thiết lập mối liên hệ giữa các biểu tượng tâm lí. Luận án phân loại 5 dạng liên tưởng chính trong tiếp nhận truyện ngắn:
- Liên tưởng tương đồng: Kết nối các yếu tố gần giống nhau (ví dụ: liên hệ hành động Mị trốn khỏi nhà Pá Tra trong Vợ chồng A Phủ với chị Dậu chạy ra bóng tối trong Tắt đèn để nhận diện khát vọng tự do).
- Liên tưởng tương phản: Kết nối các yếu tố trái ngược, phục vụ tư duy phản biện, đối chiếu.
- Liên tưởng nhân quả: Suy luận tuyến tính theo logic nguyên nhân - kết quả từ chi tiết văn bản (ví dụ: phân tích nhân vật Tràng trong Vợ nhặt qua nhan đề, tình huống và hành động).
- Liên tưởng tái hiện (kí ức): Hồi tưởng lại kinh nghiệm, sự kiện quá khứ (ví dụ: dòng hồi ức của nhân vật Việt khi bị thương trong Những đứa con trong gia đình).
- Liên tưởng theo quan hệ không gian và thời gian: Mở rộng bối cảnh nghệ thuật để giải mã hình tượng trong tính lịch sử và tâm lí (ví dụ: đối lập căn buồng tối của Mị với không gian mùa xuân Tây Bắc và vùng đất Phiềng Sa).
- Năng lực tưởng tượng: Quá trình tâm lí xây dựng hình ảnh mới trên cơ sở các biểu tượng đã có. Luận án phân định các cấp độ: tưởng tượng tái tạo, tưởng tượng sáng tạo, tưởng tượng hoang đường, mức độ nhân cách hóa và mức độ nhập thân vào đời sống nhân vật.
- Mối quan hệ hữu cơ giữa ba năng lực: Vận dụng luận điểm của L. S. Vưgôtxki (não bộ phối hợp và chỉnh lí sáng tạo kinh nghiệm cũ) và M. Arnauđov (tưởng tượng phá vỡ và tái tổ hợp liên tưởng), luận án xác lập quy trình tiếp nhận khép kín: Tái hiện cung cấp chất liệu cơ sở từ trí nhớ $\rightarrow$ Liên tưởng mở rộng, móc nối các trường nghĩa thi pháp $\rightarrow$ Tưởng tượng tổ hợp, sáng tạo nên chỉnh thể hình tượng nghệ thuật độc đáo mang dấu ấn cá nhân.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Phân tích, tổng hợp, đối chiếu các công trình lí luận văn học, thi pháp học và tâm lí học sư phạm trong và ngoài nước.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Vận dụng tri thức tâm lí học nhận thức, mĩ học tiếp nhận và lí luận dạy học Ngữ văn.
- Phương pháp khảo sát: Dự giờ các tiết dạy học đọc hiểu truyện ngắn tại trường THPT; phát phiếu điều tra lấy ý kiến của giáo viên và học sinh nhằm đánh giá thực trạng năng lực tiếp nhận.
- Phương pháp chuyên gia: Phỏng vấn, trao đổi sâu với các giảng viên phương pháp, nhà lí luận văn học, nhà tâm lí học và giáo viên THPT cốt cán.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy học thực nghiệm và đối chứng qua các giáo án cụ thể (Vợ chồng A Phủ, Vợ nhặt) để kiểm tra tính khả thi của hệ thống biện pháp đề xuất.
- Phương pháp thống kê: Xử lí, định lượng các số liệu khảo sát và kết quả kiểm tra thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm định độ tin cậy của giả thuyết khoa học.
Nguồn dữ liệu nghiên cứu
- Văn bản truyện ngắn trong chương trình Ngữ văn 12 (chủ đạo là Vợ chồng A Phủ và Vợ nhặt).
- Phiếu điều tra khảo sát thực trạng nhận thức và kĩ năng của giáo viên, học sinh THPT.
- Hồ sơ thực nghiệm sư phạm: giáo án thực nghiệm, biên bản dự giờ, bài kiểm tra đánh giá mức độ cảm thụ của học sinh nhóm thực nghiệm và đối chứng.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 1 tổng thuật bức tranh toàn cảnh về lịch sử nghiên cứu vấn đề tái hiện hình tượng, liên tưởng và tưởng tượng trong sáng tạo, tiếp nhận văn học và trong dạy học bộ môn ở phạm vi quốc tế và Việt Nam.
- Tác giả điểm lại các luận điểm kinh điển của Lưu Hiệp, Aristotle, M. Khrapchenko, Pauxtopxki, Chu Quang Tiềm, Levitov, V. Nhikonxki, Z. Ia Rez, Tzvetan Todorov, Parvin Ghasemi, Mukti Prakash Thapliya; cùng hệ thống quan điểm của Phan Trọng Luận, Trần Đình Sử, Hoàng Trinh, Nguyễn Thanh Hùng, Nguyễn Trọng Hoàn, Đỗ Huy Quang, Hoàng Văn Vĩnh...
- Luận án rút ra kết luận: các nghiên cứu đi trước đã xác nhận vai trò sống còn của các thao tác tâm lí này nhưng chưa cụ thể hóa thành quy trình dạy học đặc thù cho thể loại truyện ngắn ở lớp 12. Đây là tiền đề xác lập hướng nghiên cứu độc lập của luận án.
Chương 2. Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2 tập trung kiến tạo khung lí thuyết và khảo sát thực tiễn dạy học:
- Về mặt lí luận: Luận án định nghĩa và phân tích bản chất của "sự phát triển"; làm rõ nội hàm, đặc điểm của năng lực tái hiện hình tượng, năng lực liên tưởng (5 dạng liên tưởng) và năng lực tưởng tượng (các cấp độ từ tái tạo đến sáng tạo và nhập thân) trong mối quan hệ với các yếu tố thi pháp truyện ngắn (cốt truyện, nhân vật, chi tiết, điểm nhìn, thời gian, không gian, lời kể). Chương này chứng minh mối quan hệ tương hỗ, không thể tách rời giữa ba thành tố trong cơ chế tâm lí người học khi tiếp nhận văn bản.
- Về mặt thực tiễn: Trình bày kết quả điều tra, dự giờ tại các trường THPT, chỉ rõ nguyên nhân khiến giờ học truyện ngắn kém hấp dẫn: giáo viên áp đặt phân tích chủ quan, học sinh thụ động ghi chép, thiếu hụt các thao tác kích hoạt trí tưởng tượng và liên tưởng, dẫn đến việc tiếp nhận hình tượng hời hợt và đứt gãy cảm xúc thẩm mỹ.
Chương 3. Một số biện pháp phát triển năng lực tái hiện hình tượng, liên tưởng, tưởng tượng cho học sinh trong dạy học truyện ngắn ở lớp 12
Chương 3 đề xuất hệ thống biện pháp sư phạm đồng bộ dựa trên đặc trưng thi pháp thể loại truyện ngắn:
- Xây dựng hệ thống câu hỏi gợi mở, bài tập tình huống kích thích hoạt động hồi tưởng và tri giác ngôn ngữ để tái hiện chân xác diện mạo, hành động, không gian sống của nhân vật.
- Tổ chức các hoạt động liên tưởng đa chiều (liên tưởng tương đồng, tương phản, nhân quả, liên tưởng thời gian - không gian) nhằm giúp học sinh kết nối các tín hiệu nghệ thuật trong văn bản với vốn trải nghiệm cá nhân và bối cảnh lịch sử văn học.
- Thiết kế quy trình tưởng tượng sáng tạo và đọc nhập thân: hướng dẫn học sinh đặt mình vào hoàn cảnh nhân vật để thấu cảm nội tâm, lấp đầy các khoảng trống văn bản, hình dung mở rộng số phận nhân vật vượt ra ngoài khung khổ tác phẩm nhưng vẫn bám sát logic nghệ thuật của nhà văn.
Chương 4. Thực nghiệm sư phạm
Chương 4 kiểm chứng tính khả thi và tính hiệu quả của hệ thống biện pháp đã đề xuất:
- Thiết kế và triển khai các kế hoạch bài dạy (giáo án) thực nghiệm cho hai tác phẩm trọng tâm: Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài) và Vợ nhặt (Kim Lân).
- Mô tả tiến trình thực nghiệm sư phạm tại các lớp thực nghiệm và lớp đối chứng ở trường THPT.
- Thu thập, thống kê và phân tích kết quả định lượng qua bài kiểm tra đánh giá năng lực tiếp nhận của học sinh; tổng hợp ý kiến phản hồi của giáo viên và học sinh qua phiếu trưng cầu ý kiến nhằm khẳng định tính khoa học, độ tin cậy của mô hình dạy học mới.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lí luận
- Luận án làm sáng tỏ bản chất đặc thù của hoạt động dạy học truyện ngắn lớp 12 dưới góc độ tiếp cận liên ngành giữa thi pháp học thể loại và tâm lí học tiếp nhận.
- Chỉ ra và luận giải vai trò quyết định của hệ thống ba năng lực: tái hiện hình tượng, liên tưởng và tưởng tượng trong việc chuyển hóa văn bản thành tác phẩm tinh thần của người học theo định hướng tiếp nhận sáng tạo.
- Xây dựng khung lí thuyết hoàn chỉnh về cơ chế tương tác tâm lí của học sinh khi giải mã các yếu tố thi pháp cốt lõi của truyện ngắn.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Khắc phục tình trạng dạy học phân tích áp đặt một chiều của giáo viên, giải quyết hiện tượng tách rời giữa kiến thức bài giảng với cảm xúc chủ quan của học sinh trong giờ học tác phẩm tự sự.
- Cung cấp cho giáo viên Ngữ văn THPT hệ thống biện pháp và giáo án mẫu có tính ứng dụng cao, giúp khơi dậy hứng thú, phát huy vai trò chủ thể sáng tạo của học sinh khi đọc hiểu truyện ngắn lớp 12.
- Đóng góp tư liệu thực nghiệm sư phạm và phương pháp đánh giá định lượng năng lực cảm thụ văn học của học sinh.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Giáo viên cần thay đổi cách tiếp cận văn bản: lấy việc tổ chức hoạt động tâm lí tiếp nhận của học sinh làm trung tâm, bám sát các dấu hiệu thi pháp thể loại thay vì thuần túy giảng giải nội dung.
- Các nhà quản lí giáo dục và tổ chuyên môn cần khuyến khích xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập đọc hiểu kích thích liên tưởng, tưởng tượng trong kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi khảo sát và thực nghiệm sư phạm chủ yếu ở thể loại truyện ngắn thuộc chương trình Ngữ văn lớp 12, tập trung vào hai tác phẩm điển hình (Vợ chồng A Phủ, Vợ nhặt), chưa mở rộng kiểm chứng trên toàn bộ các thể loại tự sự khác hoặc các khối lớp khác ở bậc THPT.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Vận dụng và mở rộng khung lí thuyết về tái hiện hình tượng, liên tưởng và tưởng tượng sang các thể loại văn học khác như tiểu thuyết, kí, kịch bản văn học, hoặc áp dụng vào chương trình Ngữ văn ở các cấp học khác trong bối cảnh đổi mới chương trình và sách giáo khoa.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Lí luận và PPDH Ngữ văn: Kế thừa hệ thống cơ sở lí luận liên ngành về tâm lí học tiếp nhận và thi pháp học thể loại; sử dụng khung phân loại liên tưởng và tưởng tượng để phát triển các đề tài nghiên cứu chuyên sâu.
- Giáo viên Ngữ văn tại các trường THPT: Trực tiếp tham khảo hệ thống biện pháp sư phạm, kĩ thuật đặt câu hỏi gợi mở, quy trình hướng dẫn học sinh đọc nhập thân và cấu trúc giáo án thực nghiệm (Vợ chồng A Phủ, Vợ nhặt) để nâng cao chất lượng giờ học đọc hiểu truyện ngắn.
- Các nhà biên soạn chương trình, sách giáo khoa và tài liệu dạy học: Tham khảo cơ sở thực tiễn và mô hình tích hợp các năng lực tâm lí trong việc thiết kế câu hỏi đọc hiểu văn bản tự sự theo định hướng phát triển năng lực.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao luận án lại đặt hoạt động tái hiện hình tượng, liên tưởng và tưởng tượng vào vị trí trung tâm của tiếp nhận truyện ngắn?
Trả lời: Theo luận án, truyện ngắn là mô hình cỡ nhỏ của văn xuôi tự sự mang tính cô đọng cao. Cảm thụ truyện ngắn là quá trình đồng sáng tạo; các hoạt động tái hiện, liên tưởng và tưởng tượng là cửa ngõ của những rung động thẩm mỹ, giúp người học chuyển hóa ngôn từ và các dấu hiệu thi pháp thành hình tượng sống động trong tâm trí, từ đó thấu cảm được thông điệp nghệ thuật của nhà văn.
2. Luận án phân chia năng lực liên tưởng trong tiếp nhận truyện ngắn thành những dạng thức cụ thể nào?
Trả lời: Luận án xác định 5 dạng liên tưởng cơ bản: (1) Liên tưởng tương đồng, (2) Liên tưởng tương phản, (3) Liên tưởng nhân quả, (4) Liên tưởng tái hiện (kí ức), và (5) Liên tưởng theo quan hệ không gian - thời gian.
3. Mối quan hệ giữa ba thành tố tái hiện hình tượng, liên tưởng và tưởng tượng được luận giải như thế nào?
Trả lời: Ba thành tố vận hành theo cơ chế tâm lí khép kín: Tái hiện hình tượng làm nhiệm vụ khôi phục chất liệu và giữ vai trò trung gian; liên tưởng chịu trách nhiệm kết nối, mở rộng các biểu tượng từ văn bản đến trải nghiệm sống; tưởng tượng thực hiện việc tổ hợp, biến đổi và sáng tạo nên hình tượng nhân vật mới mang tính toàn vẹn và độc đáo.
4. Trong luận án, cấp độ "nhập thân" của năng lực tưởng tượng có đặc điểm gì?
Trả lời: Nhập thân là trạng thái người học đặt mình vào chính hoàn cảnh, số phận của nhân vật, cùng suy nghĩ và biểu cảm như nhân vật trong từng tình huống cụ thể. Mức độ hóa thân càng sâu sắc thì hiệu quả cảm thụ bề sâu nội tâm nhân vật càng cao.
5. Luận án lựa chọn những tác phẩm văn học cụ thể nào để tiến hành khảo sát và thực nghiệm sư phạm?
Trả lời: Luận án chọn hai truyện ngắn trọng tâm trong chương trình Ngữ văn lớp 12 là Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài và Vợ nhặt của Kim Lân để khảo sát, xây dựng giáo án và kiểm nghiệm tính khả thi qua thực nghiệm sư phạm.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Phát triển năng lực tái hiện hình tượng, liên tưởng và tưởng tượng của học sinh trong dạy học truyện ngắn ở lớp 12" là công trình nghiên cứu chuyên sâu về phương pháp dạy học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực tiếp nhận sáng tạo. Thông qua việc tích hợp lí thuyết tâm lí học tiếp nhận với thi pháp học thể loại, luận án đã làm rõ cơ chế vận hành của hệ thống ba năng lực cốt lõi và xây dựng thành công hệ thống biện pháp sư phạm đồng bộ. Kết quả nghiên cứu và thực nghiệm đã chứng minh tính khả thi của việc đổi mới phương pháp dạy học truyện ngắn, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục văn học trong nhà trường phổ thông.