Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỐI TƯỢNG 1. Các khái niệm: “tiểu thuyết” và “tiểu thuyết hoá”, “siêu tiểu thuyết” và “yếu tố siêu tiểu thuyết” Để có thể xác định các biểu hiện của yếu tố tiểu thuyết, siêu tiểu thuyết trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, trước mắt, chúng tôi sẽ đưa ra cách hiểu về các khái niệm như “tiểu thuyết” và “tiểu thuyết hóa”, “siêu tiểu thuyết” và “yếu tố siêu tiểu thuyết”. Theo cuốn Từ điển thuật ngữ văn học, các tác giả có đưa ra khái niệm về tiểu thuyết: Đó là “tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian” (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, 1992). Sức chứa đựng của tiểu thuyết dường như không có hạn định, bởi tiểu thuyết mang trong mình khả năng “phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng” (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, 1992).
Ở phương Tây, người Anh dùng từ “novel” để chỉ các truyện mới lạ, người Pháp dùng từ “roman” để nói đến tính li kì, người Mĩ dùng từ “fiction” để nhấn mạnh tính chất hư cấu của câu chuyện. Như vậy, các nước dùng các thuật ngữ trên để định danh cho thuật ngữ “tiểu thuyết” đều chủ ý hướng vào tính đơm đặt thêm, hay sự bắt nguồn của việc tưởng tượng và hư cấu. Có thể thấy, tính chất hư cấu, hay bịa đặt y như thật là một đặc điểm giúp tiểu thuyết nảy nở và phát triển theo nghĩa chưa hoàn tất. Trong cuốn Từ điển tu từ – phong cách – thi pháp học, Nguyễn Thái Hòa đã đưa ra khái niệm tiểu thuyết là một thể loại của tự sự văn học, cũng là “thuật ngữ mượn của Trung Quốc, tương đương với roman (tiếng Pháp) và novel (tiếng Anh)” (Nguyễn Thái Hòa, 2006).
Ở các tư liệu đưa định nghĩa về tiểu thuyết đều tụ lại ở điểm không giới hạn cả về chất và lượng của câu chuyện. Để khu biệt với các thể loại tự sự khác, các nhà lí luận đã đưa ra những đặc trưng của tiểu thuyết dựa vào các yếu tố như nhân vật, cốt truyện 13 và phương diện trần thuật. Trước hết, tiểu thuyết là thiên văn xuôi tái hiện lại một cuộc sống đa phương và chi tiết giống như đời thật, tự nó “hấp thu vào bản thân mình mọi yếu tố ngổn ngang bề bộn của cuộc đời” (Trần Đình Sử, La Khắc Hòa, Phùng Ngọc Kiếm, Nguyễn Xuân Nam, nnk. Tiểu thuyết tập trung miêu tả thế giới bên trong và phân tích tâm lí, do vậy, nhân vật của tiểu thuyết thường gắn với kiểu “con người nếm trải”.
Trong cốt truyện của tiểu thuyết bao giờ cũng chứa đựng những cái thừa, khơi gợi về toàn bộ sự tồn tại của con người. Tiểu thuyết là một thể loại dân chủ, nên “người viết tiểu thuyết có thể nhìn hiện tượng từ nhiều chiều, nhiều điểm nhìn, đa chủ thể, sử dụng nhiều giọng nói” (Trần Đình Sử, nnk., 2012) và như thế tiểu thuyết đã tạo ra một câu chuyện không hoàn kết. Đặc biệt, các nhà lí luận đều nhấn mạnh về “khả năng tổng hợp nhiều nhất các khả năng nghệ thuật của các loại văn học khác” (Trần Đình Sử, nnk., 2012) ở thể loại tiểu thuyết. Với những đặc điểm trên, tiểu thuyết trở thành một thể loại tự sự năng động, dân chủ và giàu khả năng tổng hợp, phản ánh những góc ẩn khuất, mọi tầng bậc của đời sống trong tính toàn vẹn và sinh động so với các thể loại văn học khác.
Tiểu thuyết vốn là thể loại mang trong mình sự năng động, linh hoạt cho nên nó biến đổi không ngừng, nó xúc tác và làm nảy sinh những chuyển biến cho các thể loại khác. Theo nhu cầu làm mới thể loại và quá trình tiếp xúc giữa các thể loại văn học, chất tiểu thuyết xuất hiện, bổ sung hài hòa vào trong các thể loại khác như một chỉnh thể có trật tự, song nó vẫn giữ nguyên bản chất loại hình của mình. Hiện tượng này được gọi là quá trình tương tác thể loại theo hướng “tiểu thuyết hóa”, sau đó khái niệm này chỉ về một loại hình đặc biệt của thể loại tự sự có sự góp mặt và mang những đặc điểm như tiểu thuyết. Đi tìm hiểu Các loại hình cơ bản của truyện ngắn hiện đại, Nguyễn Văn Đấu đã chứng minh được “tiểu thuyết hóa” là hướng viết đi sâu vào việc “phân tích, lí giải đời sống qua quan hệ con người với môi trường, hoàn cảnh, tính cách” (Nguyễn Văn Đấu, 2001).
Khi tiểu thuyết thâm nhập vào thể loại khác để làm mới và “làm chúng lây nhiễm tính biến đổi và tính không hoàn thành của tiểu thuyết” (Trần Viết Thiện, 2012). Như vậy, có thể nhận định “tiểu thuyết hóa” là một hướng tổng hợp thể loại vô cùng phức tạp, tạo ra cấu trúc tự sự mới có khả năng giải phóng những ước lệ, mở ra con đường phát triển cho các thể loại khác. 14 Khi nói về sự chuyển đổi hệ hình trong tâm thức của hậu hiện đại đã hình thành khái niệm metafiction, và được các nhà văn, nhà phê bình Việt Nam gọi là “siêu tiểu thuyết” (hay siêu hư cấu). Cho nên, “siêu tiểu thuyết” (metafiction) là kiểu viết theo phong cách hậu hiện đại, phá vỡ mọi quy tắc của tiểu thuyết truyền thống nhằm mục đích “xóa bỏ ảo giác ngây thơ về tính như thật của tiểu thuyết” (Trần Đình Sử, Trần Ngọc Hiếu, Đỗ Văn Hiếu, La Khắc Hòa, nnk.
Trong phần phụ lục thuật ngữ Tự sự học, Trần Đình Sử đã chỉ ra đặc điểm của loại này là “nhà văn, người kể chuyện trở thành nhân vật chính của tiểu thuyết, hoạt động viết của tiểu thuyết, sự hư cấu, chọn nhân vật trở thành sự kiện cơ bản trong tiểu thuyết” (Trần Đình Sử, nnk. Sự xen lẫn, tổng hòa giữa thực và ảo xếp lớp, chồng chéo lên nhau khiến cho người đọc không khỏi hoài nghi về mọi thứ trong câu chuyện được kể. Siêu tiểu thuyết vừa là một hư cấu nhiều tầng lớp, cũng vừa là lí luận về sự đọc, nhìn nhận lại qua việc đọc. Những truyện ngắn mang yếu tố siêu tiểu thuyết cũng có xu hướng kéo người đọc vào những ảo tưởng do tác giả tạo lập và cùng tham gia vào trò chơi của ngôn ngữ.
Cấu trúc của văn bản mang yếu tố siêu tiểu thuyết trở thành cấu trúc của một trò chơi ngôn ngữ, giống như một mê lộ. Trò chơi đó cuốn người đọc phải mải miết theo đuổi, đi tìm chân lí sâu xa mà nhà văn gửi gắm trong tác phẩm của mình. Từ trò chơi đó, tác giả đã khơi ra nhiều tranh luận xoay quanh về sự viết và sự đọc, ở đó các nhân vật cũng có thể là những người đại diện cụ thể cho những người đọc. Có thể thấy “siêu tiểu thuyết” như là sự trỗi dậy của lời nói mang tính cá thể để truy tìm những sự thật trần trụi.
Nó không ngừng truy vấn sự tồn tại của hư cấu thông qua việc phơi bày ra những dạng thức hư cấu khác, đặt ra câu hỏi cho mối quan hệ giữa thực tại và hư cấu và bản chất của chúng. Về khái niệm “yếu tố siêu tiểu thuyết” cũng là một lối thâm nhập vào trong cấu trúc tự sự của thể loại giống như cách làm của “tiểu thuyết hóa”. Có thể hiểu yếu tố siêu tiểu thuyết là hướng tương tác thể loại có sự thâm nhập của kiểu viết “siêu tiểu thuyết” qua các đặc điểm như tự nhận thức, tự nhận biết khiến cho người đọc dễ rơi vào trạng thái hoang mang vô định. Yếu tố siêu tiểu thuyết trình bày cho người đọc về quan điểm tự đánh giá chính bản thân trong quá trình kiến tạo.
Nó tạo ra những cách tân sáng tạo của thời kì hậu hiện đại, kéo người đọc tham gia vào cuộc hành 15 trình sáng tạo cùng tác giả, giúp truyện kể biến hóa linh hoạt và khó lường trước. Yếu tố siêu tiểu thuyết cũng đưa những kĩ thuật viết văn mang đậm dấu ấn của hậu hiện đại như lạ hóa, nghịch lí, liên kết văn bản, phân mảnh, giễu nhại… vào trong văn bản hư cấu. Về các khái niệm trên, ta cần phân biệt rõ yếu tố tiểu thuyết hay yếu tố siêu tiểu thuyết không phải là những thuật ngữ chỉ thể loại riêng biệt, mà là một bộ phận cấu thành dạng thức mới cho một thể loại pha trộn. Khi thâm nhập vào thể loại, chúng vẫn giữ được nguyên bản chất riêng, nhưng chỉ đóng vai trò làm biến đổi cấu trúc đơn thuần và thay đổi thành một diện mạo mới.
Có thể thấy, điểm chung của tiểu thuyết hay siêu tiểu thuyết đều khiến cho thể loại được phát triển theo hướng thậm phồn, trương nở, mang đậm chất dân chủ và biến đổi phức tạp. Thế nhưng, đây vẫn là hai khái niệm biệt lập, yếu tố tiểu thuyết chủ về nới rộng các giới hạn của thể loại, còn yếu tố siêu tiểu thuyết chủ về quá trình đọc và diễn giải thể loại. Truyện ngắn và xu hướng tương tác thể loại giữa truyện ngắn với tiểu thuyết hiện đại Có rất nhiều định nghĩa, quan niệm khác nhau đã ra đời về thể loại truyện ngắn, và thật khó có thể xác định được một định nghĩa đúng với mọi trường hợp trong thực tiễn sáng tác. Điều đó khiến cho việc nghiên cứu mang tính lí luận về thể loại này vẫn không ngừng hấp dẫn, đồng thời cũng không ngừng là một thử thách đối với giới chuyên môn.
Bước vào những thập niên đầu của thế kỉ XX, cùng với tiểu thuyết và thơ ca, truyện ngắn cũng nhanh chóng tiếp nhận được những ưu thế mới của thời đại, cũng như chịu sự chi phối của quy luật phát triển chung của một nền văn hoá, văn nghệ đang không ngừng đổi mới. Mặc dù thuật ngữ “truyện ngắn” xuất hiện chính thức vào khoảng cuối thế kỉ XIX cùng với báo chí, bản thân nó cũng đã từng có một lịch sử phát triển riêng, nhưng cho đến nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam, người ta vẫn chưa xây dựng được một hệ thống lí luận hoàn chỉnh về truyện ngắn. Được quan niệm là “một bộ phận của tiểu thuyết” (Bùi Việt Thắng, 1999) hay là “một dạng tiểu thuyết đặc biệt” (Vương Trí Nhàn, 2001), truyện ngắn đã có nhiều cách định nghĩa khác nhau. Trong cuốn Sổ tay truyện ngắn, Vương Trí Nhàn đã sưu tập và biên soạn nhiều bài viết trình bày quan niệm về truyện ngắn đến từ nhiều nhà văn nổi tiếng 16 cả trong nước và ngoài nước.