CHƯƠNG 1 TỰ LỰC VĂN ĐOÀN VỚI KHÁI HƯNG Môi trường hoạt động văn chương trực tiếp của Khái Hưng là Tự lực văn đoàn, vì vậy, nói đến sáng tác của nhà văn đất Hải Phòng không thể không nhắc đến tổ chức văn học này. Hơn nữa, cần phải đặt tác phẩm Khái Hưng trở lại trong khuôn khổ, trong lập trường chung của nhóm Tự lực văn đoàn, bởi tiến trình sáng tác của Khái Hưng cũng dựa theo bước tiến hóa chung của tổ chức này. Đem tác phẩm của Khái Hưng ra ngoài khuôn khổ trên, chắc chắn công việc nghiên cứu sẽ gặp nhiều khó khăn cũng như khó tránh khỏi nhiều ngộ nhận, thiếu sót. Tuy nhiên, do phạm vi của đề tài, do có nhiều bài viết, chuyên luận trước đó đã tìm hiểu một cách khá phong phú, cụ thể, chuẩn xác, nên chúng tôi mạn phép không đi sâu phân tích những cơ sở kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, cũng như đánh giá, định vị Tự lực văn đoàn.
Thay vào đó, chúng tôi sẽ quan tâm tìm hiểu Khái Hưng cùng sáng tác của ông qua sự tác động của các yếu tố trên và trong chủ trương chung của Tự lực văn đoàn. TỰ LỰC VĂN ĐOÀN - MÔI TRƯỜNG HOẠT ĐỘNG VĂN CHƯƠNG CỦA KHÁI HƯNG 1.1 Hoàn cảnh ra đời của Tự lực văn đoàn Mỗi một hiện tượng văn học ra đời cần có điều kiện làm tiền đề cho sự xuất hiện và phát triển, Tự lực văn đoàn cũng không ngoại lệ. Trong nhiều yếu tố rất phức tạp của hoàn cảnh, chúng tôi lưu ý một số điểm sau 1. Về kinh tế - chính trị Bước vào những năm 30 của thế kỷ XX, sau hai cuộc khai thác thuộc địa đại quy mô, cùng với chính sách cai trị tàn bạo, chế độ thuộc địa của thực dân Pháp không những đã làm biến đổi sâu sắc, cơ bản xã hội Việt Nam về nhiều phương diện (kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa…), 17 mà còn đẩy cuộc sống của các tầng lớp nhân dân đến đường cùng, khiến mâu thuẫn xã hội trở nên gay gắt.
Cao điểm của mâu thuẫn ấy là nhiều cuộc khởi nghĩa, bạo động nổ ra ( khởi nghĩa Yên Bái, phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh,…). Để tận diệt, bọn thống trị người Pháp đã đàn áp dã man các phong trào cách mạng của dân ta với không biết bao nhiêu bản án tử hình, khổ sai, chung thân. Cảm thấy cần có sự ổn định bề mặt dựng trên khủng bố, bọn thực dân đã tận dụng chiêu bài “khai hóa” cùng thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt hòng xoa dịu, ru ngủ, mị dân. Một mặt, chúng hô hào chủ trương Pháp - Việt đề huề, chấn hưng Phật giáo, cải cách y phục, tổ chức chợ phiên, dạ hội, khơi dậy phong trào vui vẻ trẻ trung như khiêu vũ, bầu hoa khôi, thể thao, những thú ăn chơi cô đầu, thuốc phiện, sòng bạc, … Mặt khác, chúng đưa Bảo Đại hồi loan và gieo rắc những hy vọng duy tân lừa gạt.
Đây là sự kiện quan trọng làm náo động đương thời, mở ra một viễn cảnh chính trị mới như lời trần tình của vua Bảo Đại: “Chí tôi muốn từ bỏ những cách chính trị quá cũ, không thích hợp với thời đại ngày nay” [60,8]. Được sự hậu thuẫn của Pháp, Bảo Đại thực thi cải cách chính trị, xã hội qua việc thành lập nội các mới gồm thành phần trí thức trẻ. Những Nguyễn Hữu Bài, Tôn Thất Đàn, Phạm Liệu, …phải rút lui nhường chỗ cho Ngô Đình Diệm (31tuổi), Phạm Quỳnh (40 tuổi), Hồ Đắc Khải (38 tuổi), Bùi Bằng Đoàn (46 tuổi), Thái Văn Toản (47 tuổi). Chẳng những có ý hướng canh tân bằng cách cải tổ nội các trẻ, cá nhân nhà vua còn có những hành động xé rào: Thứ nhất, quyết định bãi bỏ tất cả các hủ tục bao đời trong triều với những nghi lễ phiền phức.
Thứ hai, chủ trương tự do kết hôn khi dám làm trái ý hoàng tộc để cưới cho được Nam Phương - một người con gái thứ dân, thuộc công giáo - phong làm Hoàng hậu, rồi khai mở chế độ một vợ một chồng thay vì đa thê như hủ tục bao đời. 18 Những quyết định ấy, vào thời điểm đó là rất lớn, có thể coi như một cuộc cách mạng, vì đụng chạm tới tập tục của cả một truyền thống hoàng triều, rất khó được chấp nhận. Phải chăng, các yếu tố trên là một trong những nguyên nhân tác động đến tầng lớp thanh niên, trí thức trẻ như Khái Hưng ? Bởi chúng ta có thể nhận ra mối liên hệ giữa những chính sách cải lương của thực dân Pháp, những ý hướng cải cách, canh tân của Bảo Đại, với chủ trương đả phá cái cũ, cổ súy theo mới, quảng bá lối sống vui vẻ trẻ trung của các nhà văn Tự lực. Về văn hóa Không thể phủ nhận việc ra đời của Tự lực văn đoàn còn do sự tác động ngày càng sâu sắc của đời sống đô thị tư bản chủ nghĩa và ảnh hưởng của tư tưởng, văn hoá, văn học phương Tây, trước hết là của Pháp.
Bởi vấn đề quyết định đối với một nền văn học, một hiện tượng văn học, trước hết là vấn đề công chúng. Công chúng nào, văn học ấy. Công chúng của nền văn học hiện đại chỉ thực sự xuất hiện và mở rộng dần trong phạm vi toàn quốc từ đầu thế kỷ XX gắn với việc mọc lên từ Nam chí Bắc hàng loạt đô thị, thị trấn có tính chất tư bản chủ nghĩa như những trung tâm kinh tế, văn hoá, hành chính của xã hội thực dân. Ở đấy xuất hiện những giai cấp mới, những tầng lớp xã hội mới: tư sản, tiểu tư sản (viên chức, học sinh, những người buôn bán hay sản xuất nhỏ, …), công nhân, dân nghèo thành thị,…Thị hiếu của họ rất khác nhau, thậm chí đối lập nhau, nhưng nét chung là đều phủ nhận ý thức hệ phong kiến, quan tâm vấn đề giải phóng cá nhân, phát huy cá tính, đồng thời yêu cầu văn học phải thoát khỏi hệ thống ước lệ dày đặc trong các hình thức biểu hiện và miêu tả của văn học trung đại đã trở thành hết sức gò bó, vô lí đối với quan niệm thẩm mỹ hiện đại.
Họ đòi hỏi những thể loại văn học mới, đặc biệt là tiểu thuyết văn xuôi, không phải viết về những anh hùng liệt nữ, những giai nhân tài tử, những số phận và những phong cảnh ở tận đẩu tận đâu bên 19 nước Tàu, mà viết về những chuyện đời thường của họ, đề cập đến những vấn đề mà họ quan tâm. Có thể thấy, trong số công chúng ấy, tầng lớp trí thức Tây học chính là nhân vật trung tâm của đời sống văn hoá thời kì từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945. Bởi, chủ yếu thông qua tầng lớp này, ảnh hưởng của các trào lưu tư tưởng, văn hoá, văn học của thế giới hiện đại ngày càng thấm sâu vào ý thức người làm văn, đọc sách. Thật vậy, sau khi chế độ thi cử Hán học lần lượt bị xóa bỏ ở Bắc kỳ (1915), Trung kỳ (1918), bọn thực dân, một mặt lập chế độ kiểm duyệt các cơ quan ngôn luận, mặt khác độc quyền truyền bá tư tưởng nô dịch, cho mở rộng hệ thống trường Tây, báo chí, xuất bản sách, tổ chức những hội phổ biến văn hóa, v…v.Các sách báo khoa học kỹ thuật, văn học, triết học của Pháp và phương Tây được dịch sang chữ Quốc ngữ và đăng tải trên các báo Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí, Phụ nữ tân văn,…Thế giới tư tưởng, văn hóa, văn chương của trí thức Việt bấy giờ đâu chỉ có Khổng Tử, Lão Tử, mà còn có Montesquieu, Diderot, Voltaire, Rousseau; đâu chỉ là Lí Bạch, Đỗ Phủ, Vương Xương Linh, Thôi Hiệu, Vương Bột, Trần Tử Ngang, Bạch Cư Dị, mà còn là Hugo, Musset, Stendhal, Balzac, Flaubert, Baudelaire, Rimbaud, Verlaine, Nietzsche, Gide, Dostoievsky.
Xã hội Việt Nam đã có những thay đổi chạm tới tầng trầm tích văn hoá có bề dày tới hàng ngàn năm. Tuy nhiên, trong thực tế, cái kế hoạch “xâm lược văn hoá” đầy tham vọng nhằm tạo ra những “ông Tây An Nam” như mong muốn của bọn Pháp đã không thực hiện được. Bởi không phải tất cả những người trí thức Tây học đều mất gốc. Ngược lại, một tầng lớp thanh niên trí thức Việt Nam ra đời với tư duy mới, nhu cầu thẩm mỹ mới và khát vọng đi tới.
Họ tiếp thu chính ngay văn hoá của đất nước kẻ thù để bồi bổ cho mình một cách chủ động, thông minh, sáng tạo. Yêu nước, dù quan điểm cứu nước có khác nhau, dù chưa đủ dũng khí để dẫn tới hành động hy sinh cứu nước, nhưng tình yêu ấy cũng giúp họ biết trân trọng truyền thống văn hoá cha ông, biết 20 yêu quí tiếng nói dân tộc, biết góp phần vào việc giữ gìn nó, phát triển nó, đổi mới nó trong điều kiện của họ. Sự ra đời của Tự lực văn đoàn không nằm ngoài tinh thần chung đó. Hoạt động của Tự lực văn đoàn 1.
Những ngày đầu Tháng 9 năm 1932 …Vào một tòa nhà hai tầng, ở số 80 phố Quan Thánh, lên lầu là tòa soạn báo Phong Hóa – nơi bắt đầu của tổ chức văn học đầu tiên “mang đầy đủ tính chất một hội đoàn sáng tác theo nghĩa hiện đại”[117]. Sở dĩ nói như vậy, là vì đây là một tổ chức văn học độc lập, có tôn chỉ, mục đích, có cơ quan ngôn luận (tờ Phong Hoá từ 1932- 1936 và tờ Ngày Nay từ 1936 đến khi bị đình bản), có nhà xuất bản (Đời nay), có giải thưởng văn học riêng, văn chương có những đặc điểm riêng về nội dung tư tưởng, về hình thức và phong cách nghệ thuật. “Lấy lương tri mà xét đoán, theo lẽ phải mà hành động, lấy trào phúng làm phương pháp, tiếng cười làm vũ khí”[132], ngay từ số báo ra mắt (số13) phát hành vào ngày 8 tháng 9 năm 1932, Tự lực văn đoàn đã trở thành một hiện tượng đột xuất, nổi trội trong làng báo Hà Nội bấy giờ. “Trẻ con ôm đi bán rong, vừa chạy vừa la inh ỏi khắp các phố phường Hà Nội.
Thiên hạ tò mò mua xem, báo bán chạy như tôm tươi”[111,152]. Tờ báo sau đó nhanh chóng được công chúng bình dân coi là tờ báo của mình, độc giả ngày càng nhiều và bài gửi đến ngày càng lắm. Qua thời gian hoạt động với không ít thành công, tháng 3 năm 1934, trên số báo 87 của mình, Tự lực văn đoàn chính thức tuyên bố thành lập. Về tên gọi, “Văn đoàn” là một số nhà văn tự nguyện kết lại trong một tập thể.
“Tự lực” là tôn chỉ, tự sức các nhà văn Việt Nam viết ra những cuốn sách có giá trị về văn chương mà không phải phiên dịch hay mô phỏng sách nước ngoài.