Chương 1 XUÂN DIỆU VÀ TRUYỆN NGẮN TRỮ TÌNH VIỆT NAM 1930-1945 1. Truyện ngắn trữ tình Việt Nam 1930-1945 1. Quan niệm về truyện ngắn và truyện ngắn trữ tình 1. Quan niệm về truyện ngắn Truyện ngắn là một thể loại hết sức gần gũi và có nhiều ý nghĩa đối với sự phát triển toàn diện và vững chắc của văn học, cũng như đối với sự rèn luyện mài dũa ngòi bút của các nhà văn.
Truyện ngắn là một khái niệm quen thuộc. Từ điển thuật ngữ văn học ghi nhận truyện ngắn là “tác phẩm tự sự cỡ nhỏ. Nội dung của thể loại truyện ngắn bao trùm hầu hết các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó là ngắn. Truyện ngắn được viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ”.
Các nhà văn, với trải nghiệm thực tế của mình, đã đưa ra những cảm nhận cụ thể và một số đúc kết đa dạng. Aimatov đã phát biểu: “Truyện ngắn giống như một thứ tranh khắc gỗ, lao động nghệ thuật ở đây đòi hỏi chặt chẽ, cô đúc, các phương tiện phải được tính toán một cách tinh tế, nét vẽ phải chính xác. Đây là một việc vô cùng tinh tế. Xoay xỏa trên một mảnh đất hẹp, đó chính là chỗ để cho truyện ngắn phân biệt với các thể tài khác” [54, tr.
Nhấn mạnh đến chi tiết, Nguyễn Công Hoan cho rằng: “Truyện ngắn không phải là truyện mà là một vấn đề được xây dựng bằng chi tiết” [66, tr. Các nhà nghiên cứu, lý luận đều thống nhất nhận diện truyện ngắn ở những tiêu chí cốt lõi sau: Truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ. Hình thức “nhỏ”, “ngắn” là dấu hiệu đầu tiên để người đọc nhận diện truyện ngắn. Dung lượng truyện ngắn kéo dài từ vài chục chữ đến khoảng 20000 chữ.
Truyện ngắn không có tham vọng ôm vào mình một hiện thực rộng lớn, hoành tráng. Ngắn ở đây đồng 12 nghĩa với hàm súc, tinh lọc. Nguyên tắc chung nhất của truyện ngắn không cho phép dồn ép hoặc nhồi nhét rút gọn nội dung của một truyện dài, hoặc một hình thức tương đương như thế, thành một truyện ngắn. Như vậy, ngắn gọn trong truyện ngắn là cái ngắn gọn tinh lọc và chặt chẽ.
Bên cạnh đặc điểm “ngắn”, các nhà nghiên cứu còn khu biệt truyện ngắn ở tính chất giới hạn trong việc phản ánh đời sống và ở hiệu quả nghệ thuật mà nó tạo ra khi so sánh với một thể loại gần gũi là tiểu thuyết. Cùng thuộc về loại hình tự sự hư cấu, truyện ngắn gần gũi tiểu thuyết ở chỗ nó cũng có khả năng phản ánh hầu hết các phương diện của đời sống như đời tư, thế sự hay sử thi. Truyện ngắn thường hướng tới việc khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn của con người. Vì thế, trong truyện ngắn thường có ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp.
Nhân vật của truyện ngắn thường là hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội, hoặc trạng thái tồn tại của con người. Cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một thời gian, không gian hạn định. Nếu tiểu thuyết là cuộc đời trong sự trọn vẹn của nó, truyện ngắn lại là mặt cắt của dòng đời. Cốt truyện của truyện ngắn có thể nổi bật, hấp dẫn, nhưng chức năng của nó nói chung là để nhận ra một điều gì.
Cái chính của truyện là gây ra một ấn tượng sâu đậm về cuộc đời và tình người. Kết cấu của truyện ngắn đòi hỏi phải có sự chặt chẽ, sao cho chủ đề tập trung, tư tưởng thống nhất và thấm sâu vào toàn bộ các bộ phận của tác phẩm, kể cả những chi tiết nhỏ nhất, để có thể tạo nên hiệu quả nghệ thuật duy nhất, từ đó tạo nên một ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc. Chi tiết là yếu tố rất quan trọng trong truyện ngắn. Chi tiết góp phần tạo dựng cảnh trí, không khí, tình huống và khắc họa hành động, tính cách, tâm tư nhân vật.
Nhà văn Nguyên Ngọc khẳng định “Truyện ngắn có thể có cốt truyện, thậm chí cốt truyện li kì, gay cấn, kể được. Truyện ngắn cũng có thể chẳng có cốt truyện gì cả, không kể được 13 nhưng truyện ngắn không thể nghèo chi tiết. Nó sẽ như nước lã” [29, tr. Chi tiết trong truyện ngắn thường cô đúc và có dung lượng lớn.
Cùng lối hành văn mang nhiều ẩn ý, chúng tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết. Chi tiết đắt giá có thể nâng tác phẩm lên đến “cấp độ tượng trưng, tạo sức ám ảnh” [66, tr. Tóm lại, với những đặc điểm cơ bản vừa nêu, có thể khẳng định truyện ngắn là một thể loại dân chủ, gần gũi với đời sống hằng ngày, lại súc tích, dễ đọc, có tác dụng và ảnh hưởng kịp thời trong đời sống. Quan niệm về truyện ngắn trữ tình Truyện ngắn trữ tình được các tác giả đề cập đến với những tên gọi, định nghĩa khác nhau.
Truyện ngắn trữ tình cũng là tên gọi quen thuộc trong nhiều bài viết, công trình nghiên cứu bàn về vấn đề này. Có thể kể đến là: Truyện ngắn một số vấn đề nghề nghiệp - Vương Trí Nhàn (Sổ tay truyện ngắn, Nxb Tác phẩm mới, 1980), Về chất thơ trong truyện ngắn - Nguyễn Kiên (03/1996), Truyện ngắn những vấn đề lý thuyết và thể loại - Bùi Việt Thắng (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000), Luận án tiến sĩ “Ba phong cách truyện ngắn trữ tình trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945: Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh” của Phạm Thị Thu Hương (1995), Luận án tiến sĩ “Các loại hình cơ bản của truyện ngắn hiện đại (Trên cơ sở tư liệu truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945)” của Nguyễn Văn Đấu (2001). Về thuật ngữ “trữ tình”, Từ điển thuật ngữ văn học giải thích: “Trữ tình phản ánh đời sống bằng cách bộc lộ trực tiếp ý thức của con người, nghĩa là con người tự thấy mình qua những ấn tưởng, ý nghĩ, cảm xúc chủ quan của mình đối với thế giới và nhân sinh. Phương thức trữ tình cũng tái hiện các hiện tượng của đời sống, như trực tiếp miêu tả thiên nhiên hoặc thuật lại ít nhiều sự kiện tương đối liên tục.
nhưng sự tái hiện này không mang mục đích tự thân, mà tạo điều kiện để chủ thể bộc lộ cảm xúc, chiêm nghiệm, suy tưởng của mình. Tác phẩm trữ tình thể hiện tâm trạng do đó nó thường không 14 có cốt truyện, hiểu theo nghĩa chặt chẽ của từ này và dung lượng của nó thường ngắn (vì một trạng thái tâm trạng không thể kéo dài)” [32, tr. Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn phân chia truyện ngắn thành hai dạng “Nhìn vào thực tế: có truyện có cốt truyện thật đầy đủ, các khâu thắt nút, cao trào, mở nút. Ngược lại có truyện gần như thơ, rất khó tóm tắt được cốt truyện” [54, tr.
Ông chỉ ra, truyện ngắn trữ tình là một xu hướng phát triển của truyện ngắn hiện đại: “Thêm nhiều truyện ngắn trữ tình, bên cạnh những truyện ngắn có cốt truyện sắc nhọn như đã quen biết” [54, tr. Đồng thời, ông nhấn mạnh đó là “loại truyện ngắn gần với thơ, chỉ cốt tạo ấn tượng, ngoài ra không quan tâm gì đến nhân vật, cốt truyện gì hết” [54, tr. Năm 1996, Nguyễn Kiên cũng có những lời bàn gián tiếp về truyện ngắn trữ tình trong bài Về chất thơ trong truyện ngắn. Sau khi khẳng định “Sự thâm nhập của thơ vào truyện ngắn là một yếu tố tự nhiên, gây kích thích, thuộc quy luật vận động nội tại của nghệ thuật”, nhà văn đã nhắc đến loại truyện ngắn “Từ ý tưởng nghệ thuật đến giọng điệu, hơi văn.
đều hòa hợp và cùng mang cái phẩm chất trữ tình gần với thơ” [40, tr. Bùi Việt Thắng trong công trình Truyện ngắn những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại cho rằng: “Truyện ngắn tâm tình là truyện ngắn thiên về tính trữ tình, gần với thơ, trong truyện ta cảm nhận được tâm thức hoặc nhân cách nhân vật hơn là ý nghĩa của câu chuyện” [65, tr. Tác giả Bùi Việt Thắng nêu lên những đặc điểm cơ bản của truyện ngắn tâm tình là tính tự sự giảm dần, tính trữ tình tăng lên “Tính phi cốt truyện: truyện ngắn trữ tình không kể lại được vì cốt truyện không tiêu biểu, nếu có thì đó lại là cốt truyện bên trong - tức cốt truyện tâm lý diễn tả những tâm trạng điển hình của nhân vật. Cấu trúc của truyện rất lỏng lẻo - sự lỏng lẻo cố ý để làm cho truyện co dãn linh hoạt phù hợp với việc thể hiện các sắc thái tâm lý, tình cảm của con người” [65, tr.
15 Trong luận án “Ba phong cách truyện ngắn trữ tình trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945 (Thạch Lam-Thanh Tịnh-Hồ Dzếnh)”, Phạm Thị Thu Hương cho rằng“Truyện ngắn trữ tình đã đưa vào văn xuôi nghệ thuật Việt Nam một chất thơ man mác, bàng bạc rất riêng. Truyện ngắn trữ tình mang lại cho người đọc một cảm giác nhẹ nhàng, sâu lắng, sau những trang viết tràn trề hiện thực của các nhà văn hiện thực” [37, tr. Có thể coi đây là công trình đầu tiên có nhiều đề xuất mới mẻ, có những nhận định về đặc trưng loại hình truyện ngắn trữ tình khá sâu sắc. Năm 2001, với luận án “Các loại hình cơ bản của truyện ngắn hiện đại (Trên cơ sở cứ liệu truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945)” Nguyễn Văn Đấu cho rằng “Truyện ngắn - trữ tình hóa là truyện về thế giới đời sống đã được nội cảm hóa đậm nét, là truyện tâm hồn, tình cảm, truyện về sự giác ngộ, thức tỉnh niềm vui, nỗi buồn của con người trước cuộc sống” [21, tr.
Khi tìm hiểu đặc trưng truyện ngắn trữ tình, Nguyễn Thị Duyên cho rằng đối tượng của truyện ngắn trữ tình là “thiên nhiên gợi cảm xúc, cảm giác nhẹ nhàng” [18, tr.10] và “con người với cảm xúc, tâm tư biến chuyển nhẹ nhàng [18, tr. Theo tác giả, truyện ngắn trữ tình có ba kiểu kết cấu thường gặp là: kết cấu hồi tưởng, kết cấu cảnh tình tương ứng, kết cấu lắp ghép. Về trần thuật, “ Truyện ngắn trữ tình khá tiêu biểu cho loại truyện để đọc - tức là chỉ thấy thú vị khi đọc, còn khi kể thì sự hấp dẫn của nó không còn nữa” [21, tr.36], điểm nhìn trần thuật mang đậm dấu ấn chủ quan, nhịp điệu trần thuật khoan thai, giọng điệu trần thuật sâu lắng thiết tha và biểu cảm. Từ quan niệm về truyện ngắn trữ tình nêu trên, có thể thấy đặc trưng của truyện ngắn trữ tình như sau: Truyện ngắn trữ tình gần với thơ, mang đậm chất thơ.