CHƯƠNG I. CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT 1. Cảm hứng nghệ thuật trong tác phẩm văn học Từ trước đến nay có nhiều cách hiểu khác nhau với khái niệm “Cam hứng nghệ thuật”, các cách hiểu đó đều thông nhất ở chỗ khang định vai trò quan trọng của cảm hứng nghệ thuật trong tác phẩm. Cảm hứng nghệ thuật trong tác phẩm văn học giống như sợi chỉ đỏ xuyên suốt, xâu nối các khối văn bản trong tác phẩm.
Cuốn Tir điển thuật ngữ văn hoc đưa ra khái niệm về cảm hứng nghệ thuật (hay còn gọi là cảm hứng chủ đạo) là “trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tư tưởng xác định, một sự đánh gia nhất định, gây tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận tác phẩm. Có thé nói cảm hứng nghệ thuật chính là những cảm xúc, tình cảm chân thành của nhà văn gửi găm trên mỗi trang giấy. Cảm hứng nghệ thuật được xem như “một điều kiện không thể thiếu trong việc tạo ra những tác phẩm đích thực”(Bêlinxki). Nhờ “sợi dây” cảm hứng này mà toàn bộ các cấp độ, các yếu tố của nội dung tác phẩm được thống nhất trong một không khí cảm xúc nhất định.
Nhưng với ý nghĩa lớn lao hơn, cảm hứng nghệ thuật còn trở thành “công cụ đắc lực” dé thông qua đó nhà văn thê hiện thế giới quan của bản thân và khăng định phong cách cá nhân của mình trên văn đàn.Cảm hứng nghệ thuật trong tác phẩm văn học với niềm say mê khăng định cái tốt, cái tích cực; phủ nhận những điều xấu xa giả dối sẽ đem lại cho tác phâm một luồng sinh khí, biến những tư tưởng khô khan thành các hình tượng sinh động, tao ra một bầu khí quyển nóng bỏng, biến tác phẩm trở thành một sợi dây truyền tình cảm của tác giả đến TBƯỜI tiếp nhận. Sự nhiệt thành trong việc bộc lộ cảm xúc của nhà văn, nhà thơ sẽ khiến “cam hứng chủ đạo của tác phẩm chi phối sự thống nhất cảm xúc của hình tượng, chi phối hệ thống nghệ thuật biểu cảm của tác phẩm”. Đối với truyện ngắn, cảm hứng nghệ thuật càng đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Người ta thường nói về thể loại truyện ngắn như một “lát cắt của mặt gỗ”, là “sự dồn nén và cô đặc lại”, một “khoảnh khắc ngắn ngủi” của đời sống được lồng vào trong một thiên truyện chỉ dài mấy mươi trang giấy.
Tuy 9 nhiên sức gợi cảm của thê loại này lại rất lớn và thường mang tính chất mở ở sự ngắn gọn và cô đọng của nó. Truyện ngắn nên gọn nhưng phải tỉnh tế và bén nhọn về tư tưởng nghệ thuật. Chính vì tính chất ngăn gọn ấy mà cảm hứng chủ đạo của tác phâm trở thành “chất keo” gắn kết ý tứ và các phần nội dung để trở thành một thiên tác phẩm có giá trị. Bởi vậy có thé coi cảm hứng chủ đạo gần như linh hồn của tác phẩm.
Nếu thiếu đi linh hồn, tác phẩm chi còn là cái xác khô cứng và đương nhiên sẽ không thể sống trong lòng độc giả. Nếu như đối với truyện dai va tiéu thuyét, do dung lượng lớn nên việc miêu ta chi tiết sự vận động của một tâm hồn, một tính cách với những diễn biến tâm lý phức tạp nhằm đạt tới chiều dài của một cuộc đời và sự khái quát hóa về một số phận con người nên cảm hứng chủ đạo của tác phẩm được thé hiện rất rõ thì truyện ngắn do dung lượng tác phẩm có hạn, cảm xúc của tác giả càng phải dồn nén nhiều hơn. Vì thé mà có nhiều nhận xét cho rằng: truyện ngăn gần với tho hơn các thé loại tự sự khác như truyện dài và tiêu thuyết. Ở một số truyện ngắn có xuất hiện các “tứ”.
“Tứ” trong truyện ngắn chính là “chủ đề nhưng đã gắn với hình ảnh, với chất liệu” (Ma Văn Kháng). “Tứ” là yếu tố chủ yếu tạo nên “chất thơ” trong truyện ngắn. Chất thơ hay tính chất trữ tình trong tác phẩm truyện ngắn toát lên từ khung cảnh, chất liệu, từ không khí chung của toàn tác phẩm, hay từ sự hòa hợp giữa yéu tố khách quan và chủ quan của toàn thiên truyện .Truyện ngắn cũng có điểm tương đồng với thơ ở chỗ những xúc cam tâm lý thường bộc lộ một cách cao độ hơn, thé hiện nội dung tư tưởng một cách nỗi bật, tập trung vào một vấn đề nhân sinh trọng tâm chứ không dàn trải như ở thé loại tiêu thuyết, như lời nhận xét của nhà văn Lỗ Tan “qua một mang lông mà biết toàn bộ con báo, qua một con mắt mà truyền được cả tỉnh thần”. Vì vậy, truyện ngắn luôn đòi hỏi cảm hứng nghệ thuật phải đồi dào, có định hướng, từ đó thé hiện nội dung tư tưởng một cách sắc bén và tạo nên một cấu trúc nghệ thuật chặt chẽ, hai hòa giữa yếu tố lí trí và tình cảm.
Cảm hứng nghệ thuật không phải là tình cảm được xướng lên thành một phát ngôn trong tác phẩm, nó là tình cảm mà người đọc cảm nhận được từ tình huống, từ khung cảnh, từ chất liệu, từ không khí chung của toàn tác phẩm. Lí luận văn học coi cảm hứng nghệ thuật là một yếu tố của bản thân nội dung nghệ thuật, của thái độ tư tưởng xúc cảm của nhà 10 văn với thế giới được mô tả. Cảm hứng nghệ thuật trong tác phẩm văn học luôn thống nhất với dé tài và tư tưởng tác phẩm, nó tạo nên cho tác phẩm một sự thống nhất ở mọi cấp độ. Đồng thời, cảm hứng nghệ thuật còn thể hiện được thế giới quan của nhà văn, bộc lộ được quan điểm của nhà văn trước mọi vấn đề của cuộc sống.
Cảm hứng nghệ thuật trong tác phẩm có vai trò quan trong, có vai trò không thé thiếu, như Bélinxki đã nói, bởi nó “biến sự chiếm lĩnh thuần túy trí óc đối với tư tưởng thành tỉnh yêu đối với tư tưởng, một tình yêu mạnh mẽ, một khát vọng nhiệt thành”. Cảm hứng nghệ thuật trong văn học Việt Nam sau 1975 Cảm hứng chu đạo trong văn chương Việt Nam trước năm 1975 gan liền với những sự kiện lớn lao có liên quan tới vận mệnh dân tộc: công cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và sự nghiệp xây dựng Tổ quốc. Sau ngày đất nước thống nhất (1975), đời sống con người đổi khác, tư tưởng, tâm lí, nhu cầu vật chất và tinh than của con người cũng không còn như trước, vì vậy văn học cũng không thể chỉ mang mãi cảm hứng cũ. Hiện thực cuộc sống đời thường sau chiến tranh mở ra những vùng đất mới, khơi gợi những nguồn cảm hứng mới mẻ cho các nhà văn.
Sau 1975, cảm hứng ngợi ca trong văn học không còn đóng vai trò chủ đạo như trong văn học 30 năm trước. Đề tài, chủ đề của tác phẩm văn học gần với đời sống hiện thực hơn. Các nhà văn đã đụng đến một số hiện tượng ít được đề cập trong văn học trước 1975 như phơi bày một vai mặt tiêu cực trong xã hội hoặc nhìn thắng vào những tốn thất nặng nề trong chiến tranh hay bước đầu đề cập đến bi kịch cá nhân. Dat nước cần được đôi mới toàn diện va sâu sắc, văn học cũng đòi hỏi như vậy.
Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng khăng định “đổi mới đang là nhu cầu bức thiết”, “có ý nghĩa sông còn” và nói rõ: “Thái độ của Dang ta trong việc đánh giá tình hình là nhìn thắng vào sự thật, đánh gía đúng sự thật, nói rõ sự thật”. Đại hội Đảng lần thứ VI là một sự kiện lịch sử trọng đại đã cắm một cột mốc lớn đánh dấu sự đổi mới mạnh mẽ của nền văn học nước nha. Thành tựu quan trọng nhất của văn học sau 1975 là sự đổi mới trong ý thức nghệ thuật của giới cầm bút. Sau Đại hội Đảng lần VI, hầu hết người làm thơ, viết văn 11 thuộc các thế hệ khác nhau đều chung một ý nghĩ “không thể viết như cũ được nữa” (Lê Lựu trả lời phỏng vẫn báo Quân đội nhân dân, ngày 24/4/1988).
Và từ đó, một khuynh hướng văn học mới phát triển mạnh mẽ với cái nhìn hiện thực thắng thắn hon, đa chiều hơn. Công cuộc đổi mới càng ngày càng phát triển cả ở bề rộng lẫn chiều sâu, sự đổi mới diễn ra từ tư tưởng thâm mĩ đến hệ thống thể loại, thi pháp và phong cách nghệ thuật. Các nhà văn không còn “nhìn đời và nhìn người một phía”, họ không chỉ dừng lại ở cảm hứng ngợi ca mà nhận thức được rằng “hiện thực không phải là một cái gì đơn giản, xuôi chiều; con người là một sinh thể phong phú, phức tạp, còn nhiều bí ân phải khám phá; nhà văn phải là người có tư tưởng, phải nhập cuộc bằng tư tưởng chứ không chỉ bằng nhiệt tình và trong tìm tòi sáng tạo không chỉ dựa vào kinh nghiệm cộng đồng mà còn phải dựa vào kinh nghiệm của cá nhân mình nữa; độc giả không phải là những đối tượng để thuyết giáo mà là những người bạn để giao lưu, đối thoại một cách bình dang. Với cái nhìn đa chiều ấy, văn học đồng thời cũng xuất hiện những cảm hứng mà văn học thời chiến tranh rat ít xuất hiện như: cảm hứng bi kịch, cảm hứng trào lộng.
Cảm hứng bi kịch khai thác những bi kịch đổi đời; bi kịch hậu chiến; bi kịch tình yêu, hôn nhân.phản ánh đúng những bộn bề của cuộc sống của thời kinh tế thị trường đầy xáo động. Những tác phẩm mang cảm hứng này đánh dấu sự khởi sắc của văn chương thời kỳ đổi mới. Có thé nhắc tới những sáng tác ở giai đoạn đầu như Đất trang (Nguyễn Trọng Oánh), Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (Nguyễn Minh Châu), Thdi xa vắng (Lê Luu), Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng).Và ở chặng đường sau là hàng loạt những tên tuổi như Bảo Ninh, Đoàn Lê, Võ Thị Hảo, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ. Cảm hứng phê phán, cảm hứng trào lộng cũng là một nguồn cảm hứng lớn trong văn học giai đoạn này.
Khi ý thức cá nhân phát triển, khi con người không còn được nhìn ở góc nhìn lịch sử, công dân nữa mà chủ yếu được nhìn nhận ở phương diện cá nhân trong quan hệ đời thường, những bị, hài kịch bắt đầu xuất hiện. Cảm hứng trào lộng mở ra những bức tranh cuộc sống với nhiều mảng màu tương phản: niềm vui chiên thăng xen với nôi buôn mât mát, sự đủ đây của vật chât thời mở 12 cửa lại là mầm mống của mất mát đạo đức, tình cảm trong cuộc sống tinh thần, hạnh phúc tổn tại song song với những bất hạnh của đời thường.