Chương 1 NHÀ VĂN VŨ HÙNG – NGƯỜI DỰNG BẢO TÀNG THIÊN NHIÊN BẰNG CHỮ Ngay từ những ngày đầu cầm bút, nhà văn Vũ Hùng đã lao động bền bỉ cho sự nghiệp phục vụ thiếu nhi và gắn bó suốt nghiệp viết của mình với đề tài thiên nhiên – muông thú. Bằng tâm huyết, tài năng, vốn sống, vốn văn hoá vượt trội của mình, ông đã lưu giữ những giá trị tuyệt vời của thiên nhiên trong từng trang viết. Tác phẩm của ông thật sự là những món quà quý giá mà nhà văn dành tặng tất cả bạn đọc hôm nay khi thiên nhiên ngày càng thu hẹp và dần xa tầm với con người. Cuộc đời và quan niệm văn chương của Vũ Hùng 1.
Cuộc đời Vũ Hùng Vũ Hùng sinh ngày 28 tháng 02 năm 1931 tại làng Láng, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội, trong một gia đình viên chức nhỏ. Ngày nhỏ, ông sống cùng gia đình trong một làng ngoại thành Hà Nội, nơi có những ruộng lúa và vườn rau, những ao làng để trẻ chăn trâu đưa trâu đến đằm mình, những gò nhãn nơi chim gáy gọi nhau về nghỉ trưa, những gò đất phủ kín những dây lạc tiên nở đầy hoa trắng, ngôi chùa xưa cũ, tường mái rêu phong nép dưới những cây muỗm cổ thụ và con sông Tô Lịch êm đềm thấp thoáng những cánh cò trắng. Ngay từ thuở thiếu thời, ông đã sớm thấy thiên nhiên là một phần của tâm hồn trẻ em. Vũ Hùng học tiểu học ở trường Tiểu học của phủ Hoài Đức rồi trường Tiểu học Sinh Từ - Hà Nội (nay là trường Tiểu học Lý Thường Kiệt).
Tháng 9 năm 1944, Vũ Hùng đậu khóa tuyển sinh cuối cùng vào trường Bưởi (sau Cách mạng Tháng Tám, trường đổi tên là Chu Văn An). Nhanh nhẹn và hiếu động, Vũ Hùng thích toán và vật lý hơn văn học, thế nhưng ông đọc rất nhiều sách. Những trang sách của Thế Lữ, Lan Khai, của các nhà văn Anh, Pháp cùng với khung cảnh thiên nhiên êm đềm nơi làng quê thời thơ ấu đã góp phần thôi thúc, đưa tuổi trẻ của Vũ Hùng đến vùng trời tưởng tượng bao la đầy quyến rũ của thiên nhiên. Vũ Hùng từng chia sẻ, một trong những tác giả có ảnh hưởng nhất tới ông là Rudyard Kipling – nhà văn người 15 Anh gốc Ấn đoạt giải Nobel năm 1907 với tác phẩm nổi tiếng Chuyện rừng xanh.
Đặc biệt, chủ nghĩa nhân đạo và phong cách lấp lánh chất thơ của hai nhà văn Pháp Alphonse Daudet, Anatole France và vốn văn hóa nhân bản mà ông tiếp nhận được từ văn hóa phương Tây ngày ông còn học ở ngôi trường danh giá – Trường Trung học Bảo hộ - Trường Bưởi đã ảnh hưởng nhiều đến tư tưởng và cách viết của ông sau này. Dấu ấn ấy thể hiện rõ trong những tác phẩm viết về thiên nhiên muông thú thấm đượm chủ nghĩa nhân văn và có lối viết giản dị, ngôn ngữ chuẩn mực. Ông nhập ngũ năm 1950 khi đang học năm thứ hai chuyên khoa toán (lớp 11 chuyên toán bây giờ). Ông từng học tại các trường Thủy quân Việt Nam (khóa 2) và trường Lục quân Trần Quốc Tuấn (khóa 7).
Sau khi tốt nghiệp khoa Thông tin trường Lục quân Trần Quốc Tuấn, ông giữ nhiệm vụ đài trưởng đài Vô tuyến điện của Trung đoàn quân Tình nguyện Việt Nam tại Trung Lào. Năm 1954, ông học trường Bách khoa, tốt nghiệp kĩ sư điện, phục vụ tại Binh chủng Thông tin rồi phụ trách trang Khoa học Kĩ thuật của báo Quân đội nhân dân. Ông là biên tập viên nhiều năm tại Nhà xuất bản Thế giới và Nhà xuất bản Văn học. Năm 1986, ông là Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế Bộ Văn hóa.
Gần 30 năm đời lính với những chuyến đi dài đến nhiều vùng đất, đặc biệt trong thời kì là đài trưởng vô tuyến điện của trung đoàn quân Tình nguyện Việt Nam tại Trung Lào khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trên ba nước Đông Dương đang chuyển mạnh sang giai đoạn tổng phản công, bước chân ông in dấu nơi nhiều cánh rừng, ngọn núi, tâm trí đầy ắp phong cảnh của những vùng đất xa lạ và khung cảnh sống của những sắc tộc ít người. Ông đã tích lũy được những hiểu biết, những trải nghiệm phong phú về phong tục của nhiều dân tộc, về núi rừng, chim muông, thảo nguyên, biển cả. Đó là những vốn sống, những trải nghiệm quan trọng thôi thúc ông cho ra đời những tác phẩm rất đẹp về thiên nhiên, muông thú. Mấy mươi năm là người lính, ông bảo rằng chiến tranh có thể làm cho người ta trở nên lạnh lùng, vô tình trong hận thù nhưng cũng khiến cho con người ta nhạy cảm, biết nâng niu cuộc sống.
Ông là người được chiến tranh tôi rèn theo hướng thứ hai. Điều đó cộng với tình yêu và sự rung cảm sâu nặng, nguyện sống nguyện chết với núi rừng, 16 trăn trở trước sự tồn vong của muôn loài đã cho ông những áng văn đẹp và đậm tính nhân văn. Từ năm 1989, nhà văn Vũ Hùng định cư tại Pháp. Hà Nội đến Paris, là cả câu chuyện dài, có vất vả, long đong; có cả an nhiên bình thản.
“Ông vượt qua tất cả, trụ lại và đứng vững, chỉ với tài năng và sự chân thành. Đây cũng chính là giai đoạn mà tên tuổi ông trên văn đàn bị mờ nhòe, bị bao phủ bởi những câu chuyện tam sao thất bản” (Văn Thành Lê, 2017).2014, về nước sống những năm cuối đời, chấm dứt cuộc thiên di kéo dài một phần tư thế kỉ. Cùng với việc trở về của ông, tác phẩm của ông sống lại trong lòng độc giả và được chính những người làm sách thừa nhận, tôn vinh. Năm 2016, 12 tác phẩm văn học thiếu nhi (trong bộ 18 tác phẩm) của nhà văn đã được trao Giải Vàng ở hạng mục Sách Hay tại Giải thưởng Sách Việt Nam.
Năm 2017, Giải thưởng Sự nghiệp Văn học - giải thưởng dành cho tác giả có cống hiến lớn cho nền văn học nước nhà - vinh danh nhà văn với bộ 18 tác phẩm văn học thiếu nhi. Với tặng thưởng này, Vũ Hùng đã trở thành tác giả đầu tiên không phải là thành viên Hội Nhà văn Việt Nam được Hội trao tặng giải thưởng. Hiện nhà văn đang sống cùng gia đình tại thành phố Hồ Chí Minh. Quan niệm văn chương của Vũ Hùng 1.
Văn chương là tiếng nói về môi sinh Cuộc sống sôi động, luôn dịch chuyển của người quân báo làm Vũ Hùng say mê. Ông theo đơn vị đi đây đó khắp nơi, tiếp xúc rộng rãi, có dịp quan sát sinh hoạt của nhiều vùng và có nhiều khám phá về núi rừng thiên nhiên. Mang một tâm hồn nhạy cảm và óc quan sát sắc bén, Vũ Hùng tích luỹ được những hiểu biết phong phú về tri thức bản địa của nhiều dân tộc, về tập tính của nhiều loài thú và cách ứng xử của chúng. Ông thật lòng yêu quý con người, thiên nhiên và muốn truyền đạt cho người khác những kinh nghiệm sống của mình.
Những trang văn của ông ra đời từ những trải nghiệm và ước muốn ấy. Ông chia sẻ: "Người viết chỉ có thể viết về những gì mình trải nghiệm sâu sắc. Những năm làm lính tôi đi lại rất nhiều, toàn đi bộ, được biết nhiều cảnh lạ đường xa, được gặp các thợ săn, người tìm trầm, quản tượng, nhiều lần cùng họ quan sát 17 các dấu chân, cùng ngồi trên một chòi rình. nên có thể nói là thông thạo đôi chút cuộc sống rừng.
Những cuốn sách đã in chỉ đơn giản là những chuyện tôi gặp trong những hoàn cảnh đó. Thiên nhiên chứa đựng nhiều bí ẩn mà tôi muốn tìm hiểu” (PV/VOV. Ông cũng tâm sự rằng ông đã có một tuổi thơ chan hòa giữa thiên nhiên và điều đó đã hình thành nên ở ông mong muốn được viết về thiên nhiên. Ý tưởng viết sách của ông là viết để giới thiệu về đất nước, thiên nhiên Việt Nam, về muông thú, con người.
Có thể nói, tất cả những chuyến đi lên rừng xuống biển đã giúp ông tích lũy thêm vốn sống, thôi thúc ông cầm bút viết, lưu giữ những giá trị tuyệt vời của thiên nhiên. Ông mong muốn qua tác phẩm của mình, bạn đọc sẽ “hiểu về một thời chưa xa lắm, thiên nhiên đất nước ta tươi đẹp, trong lành như thế, muông thú phong phú như thế và con người hiền hòa như thế” (Mỹ Bình, 2018). Thiên nhiên trong văn ông là không gian sống đáng yêu giữa con người và tự nhiên, là những khám phá lý thú về cuộc sống, những bài học sâu sắc của cuộc đời, dạy trẻ em bảo vệ môi trường, yêu thiên nhiên, yêu quê hương, đất nước. Nhà văn là người góp phần gìn giữ sự sống của môi trường Với tài năng văn học, học vấn sâu rộng, với tấm lòng yêu quý thiên nhiên và trẻ thơ, nhà văn Vũ Hùng đã tạo nên những trang văn đẹp và hay hiếm có về thiên nhiên hoang sơ trong rừng nguyên sinh Việt Nam.
Từng câu từng chữ của nhà văn thấm đượm hơi thở núi rừng, biển cả, đưa người đọc đến với từng cành cây ngọn cỏ, hòa mình vào đời sống thật kì thú và đáng yêu của loài vật. Điều này thật cần thiết với bạn đọc hôm nay, khi thiên nhiên đang ngày đang ngày càng thu hẹp, dần xa tầm với con người. Vũ Hùng tâm niệm: “Muốn viết về cái gì cũng phải có hiểu biết sâu sắc về nó…Vốn sống và vốn nhân bản sâu sắc là hai cái cơ bản trong hành trình trở thành một người viết về thiên nhiên. Người viết cũng phải yêu cuộc đời nữa.
Tôi nghĩ, văn chương nghệ thuật là cái lâu dài. Tôi từ chối phụng sự những cái ngoài văn chương, ngoài cái đẹp” (Vũ Hùng, 2016). Thiên nhiên trong văn chương của ông chính là cái đẹp mà ông muốn phụng sự. Theo từng trang viết tài hoa của nhà văn, mối giao cảm 18 giữa con người với cỏ cây muông thú hiện lên sống động.
Xuất phát từ tình cảm thật sâu nặng với sự tồn vong của đời sống muôn loài, với sự trăn trở về đời sống hoang dã trong rừng sâu núi thẳm, ông xác định cho mình một sứ mệnh: “Thiên nhiên chứa đựng nhiều bí ẩn mà tôi muốn tìm hiểu…Tôi muốn giới thiệu mọi điều đó với bạn đọc. Nếu biết rõ về thiên nhiên, về sinh hoạt và phong tục tập quán của các vùng đất nước, bạn đọc có lẽ cũng sẽ như tôi, càng thêm yêu mến đất nước, yêu mến con người” (Vũ Hùng, 2016). Ông cũng nói rằng ông yêu thiên nhiên vì thiên nhiên đẹp và bền vững hơn những thế lực muốn chinh phục nó. Đó là một đối tượng không phải để chinh phục mà để con người nghiên cứu thích nghi.