Chương 1. TỔNG QUAN VỀ PHONG TRÀO THƠ MỚI (1932 - 1945) VÀ SỰ XUẤT HIỆN NHÓM ÁO BÀO GỐC LIỄU 1. Tổng quan về phong trào Thơ mới (1932-1945) 1. Sự xuất hiện của phong trào Thơ mới Vào đầu những năm đầu thế kỉ XX, Thơ mới ra đời được xem như một cuộc cách mạng trong thơ ca.
Phong trào Thơ mới (1932-1945) được hình thành từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan. Đó là sự ảnh hưởng, du nhập của thơ ca phương Đông và phương Tây trong bối cảnh nền văn học nước ta chuyển từ phạm trù trung đại sang hiện đại. Thơ cũ (trong Nam phong, Văn học tạp chí) là tiếng nói của một tầng lớp phong kiến đã thất bại và đầu hàng đế quốc. Nền văn học trung đại chịu ảnh hưởng của các hệ tư tưởng Trung Hoa, học thuyết Phật, Nho, Đạo đã ảnh hưởng và tạo nên những nét đặc thù trong quan niệm của người trung đại về bản chất vũ trụ, không gian và thời gian, thiên nhiên, con người.
Các nhà thơ thường xuất thân từ tầng lớp quý tộc, quan lại, Nho sỹ, họ làm thơ theo một khuôn mẫu của văn học trung đại với thủ pháp như ước lệ, tượng trưng, sùng cổ phi ngã. Văn học trung đại chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Trung Quốc với thi pháp ý tại ngôn ngoại, thi trung hữu nhạc, thi trung hữu họa. Trong văn học thời trung đại của dân tộc, các cây bút lớn đều khẳng định tư tưởng, cá tính và tài nghệ độc đáo của họ, có thể kể đến Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Tản Đà,… Văn học trung đại thường hay viết về thiên nhiên. Thiên nhiên biểu hiện trong cảm quan vũ trụ, mỹ cảm và tư tưởng triết học phương Đông của các thi sĩ.
Các nhà thơ trung đại làm thơ theo những khuôn mẫu, để tỏ chí (ngôn chí, cảm hoài), để truyền Đạo. Cho nên cái tôi trữ tình, cái tôi chủ thể sáng tạo bị lấn át, khuất lấp bởi con người bổn phận, con người bề tôi, trung thần. Bút pháp quen thuộc là ước lệ, sùng cổ, phi ngã. Đại thi hào Nguyễn Du cũng có những câu thơ miêu tả vẻ đẹp của Thúy Vân, Thúy Kiều: “Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang/ Hoa cười ngọc thốt đoan trang/ Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da./ Làn thu thuỷ, nét xuân sơn/ Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh” (Truyện Kiều).
Với bút pháp ước lệ tượng trưng, các nhà thơ trung đại bộc lộ được vẻ đẹp của con người từ đó mang phần dự cảm về số phận phía trước mà họ phải trải qua.Trong văn học trung đại, các e 11 tác giả luôn có xu hướng tìm về quá khứ. Họ lấy quá khứ làm chuẩn mực cho cái đẹp, lẽ phải, đạo đức. Chân lý quá khứ là chân lý có sức sáng tỏa muôn đời. Vì thế, văn chương thường lấy tiền đề là lý lẽ và kinh nghiệm của cổ nhân, của lịch sử xa xưa: “Giường kia treo cũng hững hờ/ Đàn kia gẩy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn” (Khóc Dương Khuê – Nguyễn Khuyến).
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Pháp bắt đầu cai trị vào Việt Nam, chúng đẩy mạnh phong trào khai phá thuộc địa, đẩy nhanh làn gió của văn hóa phương Tây tràn vào Việt Nam, trong đó có văn hóa Pháp. Việt Nam từ chế độ phong kiến chuyển sang chế độ nửa thực dân nửa phong kiến. Bên cạnh đó, thành phần xã hội cũng có sự thay đổi, các nhà tư bản, tư sản, tiểu tư sản, giai cấp công nhân, đặc biệt là sự xuất hiện của giới trí thức Tây học ngày càng nhiều. Sự ảnh hưởng của văn hóa Pháp diễn ra mạnh mẽ ở tầng lớp tri thức, thanh niên thành thị của nước ta.
Một bộ phận tầng lớp tri thức ăn mặc theo phong cách Tây, ăn uống món Tây, nói tiếng Tây… khác xa lối sống truyền thống của dân tộc Việt: “Chúng ta ở nhà Tây, đội mũ Tây, đi giày Tây, mặc áo Tây. Chúng ta dùng đèn điện, đồng hồ, ô-tô, xe lửa, xe đạp. còn gì nữa! Nói làm sao xiết những điều thay đổi về vật chất, phương Tây đã đưa tới giữa chúng ta! Cho đến những nơi hang cùng ngõ hẻm, cuộc sống cũng không còn giữ nguyên hình ngày trước” [58; tr. Ngoài ra, có nhiều thanh niên, học sinh bắt đầu say sưa đọc văn học Pháp.
Trong nền văn học Việt Nam lúc bấy giờ, lực lượng sáng tác chủ yếu là thanh niên trí thức Tây học. Xét trên địa hạt thơ ca, các nhà thơ từ bỏ kiểu thơ Đường luật thời trung đại với hệ thống vần luật, niêm luật đã quá gò bó để đi đến lối thơ tự do hơn, phóng khoáng hơn. Thay vì nói về cái ta như thời kì trước, các nhà Thơ mới đi sâu vào bộc lộ cái tôi cá nhân, đó là cái tôi không thõa mãn với thực tại, cái tôi buồn chán và hướng tới việc đi tìm lối thoát riêng. Có thể thấy, “cái tôi” khi vừa mới phát hiện ra, nó đã đem lại cho thơ ca nhiều giá trị mới thể hiện sự cách tân của thơ vì cuộc đời và lẽ sống thời đại mới.
“Cái tôi” trong Thơ mới gắn liền với từng lớp thị dân, với nền văn minh công nghiệp, đó vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể của nền văn hoá mới. Các nhà Thơ mới đều có ý thức khẳng định mình như một thực thể duy nhất không lặp lại. Sự cựa quậy, bứt phá tìm đến bản ngã đã ít nhiều xuất hiện trong thơ Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ nay càng trở nên quyết liệt hơn trong e 12 Thơ mới. “Cái tôi” ra đời đòi được giải phóng cá nhân, thoát khỏi luân lí lễ giáo phong kiến chính là sự tiếp nối và đề cao cái bản ngã đã được khẳng định trước đó.
Đó là một sự lựa chọn khuynh hướng thẩm mỹ và tư duy nghệ thuật mới. “Cái tôi” với tư cách là một bản thể, một đối tượng nhận thức và phản ánh của thơ ca xuất hiện như một tất yếu văn học. Xuân Diệu - “nhà thơ mới nhất trong các nhà Thơ mới” (Hoài Thanh) đã lên tiếng trước: “Tôi là con chim đến từ núi lạ/ Ngứa cổ hót chơi” (Lời thơ vào tập Gởi hương). Con đường duy nhất giúp họ gửi gắm tâm sự lạc loài, thất thế chính là văn chương.
Các nhà thơ tìm cách thoát li khỏi thực tại với nhiều cách khác nhau. Hoài Thanh – Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam có viết: “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh.
Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngơ ngẩn buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận” [58; tr. Qua đây, có thể thấy cảm xúc trong thơ mới thường là những nỗi buồn cô đơn, “cái buồn của Thơ mới không phải là cái buồn ủy mị, bạc nhược mà là cái buồn của những người có tâm huyết, đau buồn vì bị bế tắc chưa tìm thấy lối ra” [64; tr.
Nỗi buồn, cô đơn tràn ngập trong cảm thức của tác giả được hiện lên với hình ảnh: “Con nai vàng ngơ ngác/ Đạp trên lá vàng khô” (Lưu Trọng Lư). Đó còn là nỗi buồn về sự chia li, đổ vỡ. Với họ “Tình chỉ đẹp khi còn dang dở/ Đời mất vui khi đã vẹn câu thề” (Ngập ngừng - Hồ Dzếnh). Vũ Hoàng Chương như mất hết cả niềm đam mê, khi: “Em ơi lửa tắt bình khô rượu/ Đời vắng em rồi say với ai?” (Đời vắng em rồi).
Hàn Mặc Tử cũng “hoá dại khờ”: “Người đi một nửa hồn tôi mất/ Một nửa hồn tôi hóa dại khờ” (Những giọt lệ). Họ đã mạnh dạn hơn khi thể hiện những tư tưởng mới, sử dụng những thể thơ tự do phóng khoáng, những câu thơ với độ dài ngắn khác nhau cùng với hệ thống ngôn ngữ gần gũi, đời thường, tự nhiên. Đến năm 1917, nhà báo Phạm Quỳnh, nổi tiếng là người bảo vệ cho những quan điểm thơ cũ, nhiệt liệt ủng hộ thơ cũ cũng phải thú nhận sự gò bó của các luật thơ cũ, ông viết: “Người ta nói tiếng thơ là tiếng kêu của con tim. Người Tàu định luật nghiêm cho người làm thơ thực là muốn chữa lại, sửa lại tiếng kêu ấy cho nó hay hơn nhưng cũng nhân đó mà làm mất đi cái giọng tự nhiên vậy” [50].
Sau e 13 đó, Phan Khôi cũng viết nhiều bài báo chỉ trích những trói buộc của thơ văn cũ và đòi cởi trói cho sáng tác thơ ca. Cần thấy rằng, những yếu tố manh nha về cái mới trong thi ca đã xuất hiện từ trước năm 1930 và sự ủng hộ dành cho cái mớiaấy không phải là ít. Trong cuốn Thi nhân Việt Nam Hoài Thanh đã nhắc đến nhà thơ Tản Đà với sự trân trọng cho dù ông không phải là một nhà Thơ mới: “Trên hội Tao đàn, chỉ tiên sinh là người của hai thế kỷ, đại biểu cho một lớp người để chứng giám cho công việc của lớp người kế tiếp” [58; tr. Tiếp theo đó, năm 1928, Nguyễn Văn Vĩnh cũng đã phá vỡ vần điệu niêm luật, số câu, số chữ của “thơ cũ” khi dịch bài La cigale et la fourmi (Con ve và con kiến) của La Fontaine sang tiếng Việt.
Năm 1929, Trịnh Đình Rư tiếp tục viết trên báo Phụ nữ tân văn (số 26): “Cái nghề thơ Đường luật khó đến như thế, khó cho đến đỗi kẻ muốn làm thơ, mỗi khi có nhiều tư tưởng mới lạ muốn phát ra lời, song vì khó tìm chữ đối, khó chọn vần gieo, nên ý tưởng dầu hay cũng đành bỏ bớt. Cái phạm vi của thơ Đường luật thật là hẹp hòi, cái qui củ của thơ Đường luật thật là tẩn mẩn. Ta nếu còn ưa chuộng mà theo lối thơ này mãi, thì nghề thơ văn của ta chắc không có bao giờ mong phát đạt được vậy” [51]. Đến đầu thập niên 1930, văn hóa Việt Nam diễn ra cuộc vận động đổi mới thơ ca mạnh mẽ với sự xuất hiện làn sóng thơ mới với cá tính sáng tác độc đáo.
Cuộc vận động đề xướng sử dụng các thể loại thơ mới, không tuân theo những quy tắc, những lối vần luật, niêm luật của các thể loại thơ cổ. Cuộc cách tân này đi vào lịch sử văn học tên gọi phong trào Thơ mới.