Chương I CƠ SỞ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI I. Khái quát về truyện ngắn I. Khái niệm truyện ngắn Tác giả Nguyễn Như Ý trong cuốn Từ điển tường giải và liên tưởng tiếng Việt (Nxb Văn hóa thông tin, 1995) đã quan niệm: “Truyện ngắn là tác phẩm văn học có ít nhân vật tập trung vào một sự kiện duy nhất qua đó thể hiện, không phải toàn diện, mà chỉ một mặt tâm lí của nhân vật chính trong một hoàn cảnh riêng biệt” Trong cuốn giáo trình Lí luận văn học, Phương Lựu (chủ biên) đã trình bày: Truyện ngắn là hình thức ngắn của tự sự. Khuôn khổ ngắn nhiều khi làm cho truyện ngắn có vẻ gần gũi với các hình thức truyện kể dân gian như truyện cổ, giai thoại, truyện cười, hoặc gần gũi với những bài kí ngắn.
Nhưng thực ra không phải. Nó gần gũi với tiểu thuyết hơn cả bởi là hình thức tự sự tái hiện cuộc sống đương thời. Nội dung của truyện ngắn có thể rất khác nhau: đời tư, thế sự, hay sử thi nhưng cái độc đáo của nó lại là ngắn. Truyện ngắn có thể kể về một đoạn đời một sự kiện hay một “chốc lát” trong cuộc sống nhân vật, nhưng cái chính của truyện ngắn không phải ở hệ thống sự kiện, mà ở cái nhìn tự sự đối với cuộc đời.
Truyện ngắn nói chung không phải vì “truyện” của nó “ngắn” mà vì cách nắm bắt cuộc sống của thể loại. Tác giả truyện ngắn thường hướng tới khắc hoạ một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn con người. Chính vì vậy trong truyện ngắn thường rất ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp. Nhân vật truyện ngắn thường là hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn Hoàng Thị Tố Quyên 9 So sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan tồn tại của con.
Cốt truyện của truyện ngắn có thể nổi bật hấp dẫn, nhưng chức năng của nó là gây một ấn tượng sâu đậm về cuộc đời và tình người. Bút pháp trần thuật thường là chấm phá. Yếu tố có ý nghĩa quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là chi tiết có dung lượng lớn và hành văn mang ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết. Nghiên cứu các truyện ngắn xuất sắc của Nguyễn Công Hoan dưới góc độ ngôn ngữ học sẽ giúp cho việc cảm nhận cái tài của tác giả, cái hay, cái đặc sắc của tác phẩm.
Đặc trưng thẩm mĩ của ngôn ngữ truyện ngắn Khi nghiên cứu đặc trưng thẩm mĩ của ngôn ngữ truyện ngắn chúng ta không thể tách rời ngôn ngữ nghệ thuật. Bởi vì những đặc trưng thẩm mĩ của ngôn ngữ nghệ thuật cũng là những đặc trưng thẩm mĩ của ngôn ngữ truyện ngắn. Ngôn ngữ nghệ thuật nó đi từ sự thông tin đến sự sáng tạo. Nó không chỉ nhằm mục đích thông báo một sự kiện mà còn phải tái tạo lại cuộc sống một cách toàn vẹn, cụ thể và sinh động trong những hình tượng nghệ thuật.
Ngôn ngữ đó đông thời cũng mang dấu ấn cá tính và phong cách nghệ sĩ rất rõ. Sức mạnh của ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện trong sự phối hợp giữa các từ sao cho mỗi từ ngoài biểu tượng trực tiếp của nó ra còn kéo theo cả một loại biểu tượng khác hiện lên trong tâm hồn người đọc. Để đạt được điều trên, các nhà văn đã vận dụng triệt để mọi phương tiện biểu hiện trong ngôn ngữ học trong đó không thể không kể đến phép so sánh. Phép so sánh góp phần mang lại cho ngôn ngữ nghệ thuật tính gãy gọn, rõ ràng, cụ thể và sinh động.
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn Hoàng Thị Tố Quyên 10 So sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan Với mỗi độc giả để hiểu hết nhiều tầng ý nghĩa của ngôn ngữ nghệ thuật chúng ta phải phối hợp các kiến thức liên ngành. Trong truyện ngắn, các hình thức tổ chức ngôn ngữ bao gồm: Ngôn ngữ tác giả, ngôn ngữ nhân vật, ngôn ngữ xen kẽ “vừa tác giả vừa nhân vật”. Các yếu tố này đan cài nhau nhằm phản ánh một cách toàn vẹn nhất hiện thực của xã hội. Vì vậy ngôn ngữ nghệ thuật có nhiệm vụ miêu tả một cách chính xác những đối tượng được phản ánh, tác động trực tiếp đến người đọc và có ảnh hưởng kịp thời trong đời sống.
Khái quát về phép so sánh I. Khái niệm so sánh và cấu trúc của phép so sánh So sánh là một thao tác của tư duy, đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác, để thấy sự tương đồng và khác biệt giữa chúng. Không phải ngẫu nhiên mà người phương Tây có câu châm ngôn nổi tiếng: “Chân lý chỉ được nhận thức ra trong sự so sánh”! Về khái niệm phép so sánh, chúng ta có thể thấy rằng: Những trình bày của các tác giả bên cạnh những điểm chung cũng có những điểm khác nhau nhất định và điểm khác nhau chủ yếu là ở các mô hình so sánh được đưa ra. Các tác giả Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hoà trong cuốn giáo trình Phong cách học tiếng Việt đã định nghĩa về so sánh như sau: “So sánh là phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác miễn là hai sự vật có một nét tương đồng nào đó để gợi ra những hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức của người đọc, người nghe” [9, tr189].
Theo các tác giả này, hình thức đầy đủ nhất của phép so sánh tu từ gồm 4 yếu tố sau: - Cái cần được so sánh, kí hiệu là (A) Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn Hoàng Thị Tố Quyên 11 So sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan - Cơ sở so sánh, kí hiệu là (t) - Từ so sánh, kí hiệu là (tss) - Cái được dùng làm chuẩn so sánh, kí hiệu là (B) Ta có thể khái quát lên thành bảng sau: Cấu trúc 1. B Hai cánh tay trơn như phết mỡ Ví dụ Ông ấy khoẻ như vâm Trận đánh này kịch liệt hơn trận trước Nghĩa là mô hình cấu trúc so sánh đầy đủ sẽ là: A (t) tss B Tuy nhiên, trên thực tế, tuỳ từng trường hợp người ta có thể đảo trật tự so sánh hoặc bớt một yếu tố trong mô hình; cụ thể là ta có 5 biến thể của mô hình cấu trúc so sánh trên: 1. Đảo trật tự so sánh: (t) A tss B Ví dụ: Chòng chành như nón không quai Như thuyền không lái như ai không chồng (Ca dao) 2. Bớt cơ sở so sánh: A tss B Ví dụ: Ai về ai ở mặc ai Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn Hoàng Thị Tố Quyên 12 So sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan Ta như dầu đượm thắp hoài năm canh (Ca dao) 3.
Bớt từ so sánh: A (t) B Ví dụ: Gái thương chồng đương đông buổi chợ Trai thương vợ nắng quái chiều hôm (Ca dao) 4. Thêm “bao nhiêu” “bấy nhiêu” Ví dụ: Qua đình ngả nón trông đình Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu (Ca dao) 5. Dùng “là” làm từ so sánh: A là B Ví dụ: Quê hương là chùm khế ngọt (Đỗ Trung Quân, Quê hương) Hay: Nhân dân là bể Văn nghệ là thuyền (Tố Hữu) Tác giả Nguyễn Thế Lịch trong bài viết “Các yếu tố và cấu trúc của so sánh nghệ thuật” (đăng trên Số phụ Tạp chí ngôn ngữ số 1, 1988) đã đưa ra Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn Hoàng Thị Tố Quyên 13 So sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan định nghĩa như sau: “So sánh thường được hiểu là đưa một sự vật ra đối chiếu về một mặt nào đó với một sự vật khác khác loại nhưng lại có đặc điểm tương tự mà giác quan có thể nhận biết để hiểu sự vật đưa ra đó dễ dàng hơn”. Như vậy, theo Nguyễn Thế Lịch điều kiện để một so sánh tu từ tồn tại là hai sự vật đem ra đối chiếu phải khác loại.
Tác giả cũng đưa ra một cấu trúc so sánh hoàn chỉnh gồm 4 yếu tố giống như Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hoà ở trên, cụ thể là: - Yếu tố cần so sánh hay yếu tố được/bị so sánh (YTĐ/BSS): (A) - Yếu tố biểu thị thuộc tính của sự vật, nêu rõ phương diện so sánh (YTPDSS): (t) - Yếu tố thể hiện quan hệ so sánh (YTQH): (tss) - Yếu tố được dùng làm chuẩn để so sánh (YTSS); (B) Do đó mô hình cấu trúc so sánh (CTSS) hoàn chỉnh sẽ là: 1. YTSS Mặt đẹp như hoa Đặc điểm của từng yếu tố trong mô hình trên được tác giả Nguyễn Thế Lịch trình bày cụ thể như sau: + Đối với yếu tố được so sánh, về nguyên tắc bất luận là sự vật, hiện tượng gì cũng có thể đem ra so sánh. Chẳng hạn: - So sánh người, sự vật: Em như cây quế giữa rừng Thơm tho ai biết, ngát lừng ai hay Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn Hoàng Thị Tố Quyên 14 So sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan (Ca dao) - So sánh hành động: Thấy anh như thấy mặt trời Chói chang khó ngó, trao lời khó trao. (Ca dao) - So sánh thuộc tính: Trong như tiếng hạc bay qua Đục như tiếng suối mới sa nửa vời.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều) + Về yếu tố phương diện, Nguyễn Thế Lịch cho rằng: trong CTSS nó có vai trò xác định ý nghĩa của so sánh, thể hiện thuộc tính của sự vật mà yếu tố được so sánh biểu thị, thuộc tính này là thuộc tính tiêu biểu của sự vật mà yếu tố so sánh biểu thị. Đối với cấu trúc so sánh vắng YTPD phải dựa vào liên tưởng để tìm ra nét tương đồng giữa YTĐSS và YTSS, từ đó mới có thể xác định được là đã so sánh về phương diện nào. + Yếu tố quan hệ được xem như là đơn giản nhất trong CTSS. Nó bao gồm các từ so sánh, từ “là” và cặp từ hô ứng “bao nhiêu…bấy nhiêu”.
Các từ so sánh được dùng phổ biến nhất là: như, tựa, như là, như thể, chừng như, tựa như, hồ như… Ví dụ: Cổ tay em trắng như ngà Con mắt em liếc như là dao cau. (Ca dao) Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.