Chương 1. Một số vấn đề lý luận về tư duy nghệ thuật và quan niệm thơ của Lê Đạt Chương 2. Cái tôi trữ tình và một số biểu tượng đặc sắc trong thơ Lê Đạt Chương 3. Ngôn ngữ thơ Lê Đạt 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.ninh) PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TƢ DUY NGHỆ THUẬT VÀ QUAN NIỆM THƠ CỦA LÊ ĐẠT 1.
Một số vấn đề lí luận về tƣ duy nghệ thuật 1.1 Khái niệm tư duy Tư duy không chỉ là đối tượng nghiên cứu của khoa học tâm lý, triết học, … mà còn là đối tượng nghiên cứu của lĩnh vực nghệ thuật. “Tư duy là hoạt động nhận thức lý tính của con người. Khí quan của tư duy chính là bộ óc người với một hệ thống tinh vi của gần 16 tỉ tế bào thần kinh [52, 676]. Tư duy không chỉ là một sản phẩm xã hội hay chỉ là sản phẩm tự nhiên, mà là sản phẩm có tính tổng hoà của quá trình lịch sử nhân loại.
Tư duy là kết quả phát triển của vật chất tự tổng hợp qua hàng vạn, hàng triệu năm. Sự ra đời của tư duy chính là bằng chứng về sự xuất hiện của con người. Do vậy có thể định nghĩa: “Con người là một động vật có tư duy”. Tư duy (pensée) là toàn bộ những hoạt động tâm lý của con người, chỉ có con người mới có, đó là đời sống trí tuệ của con người.
Tư duy được phân biệt với ý thức (conscience). Nói đến ý thức là nói đến sự “phản ánh” hiện thực của hoạt động tâm lý. Hay nói đúng hơn, ý thức là tư duy ở trạng thái tĩnh, và tư duy ở trạng thái động, tư duy là hành động nhận thức của con người. Tư duy và lý trí (raison) không phải là một.
Nói đến lý trí là nói đến cái lôgích có tính nguyên tắc của nhận thức. Nói đến tư duy là nói đến sự vận động có tính tổng thể của các yếu tố tư tưởng và tình cảm, cảm xúc và lý trí nhằm mục đích nhận thức. Tư tưởng (Idée) hay còn gọi là quan niệm tư tưởng vừa là kết quả lại vừa là xuất phát điểm của tư duy. Quan hệ con người với con người, con người với xã hội, con người với hoàn cảnh sống … là những mối quan hệ chủ yếu tạo nên quan niệm tư tưởng ở mỗi con 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.ninh) người.
Tư tưởng mang tính chất dân tộc, đoàn thể, quốc gia, tính giai cấp… nghĩa là mang tính chủ quan hơn so với tư duy. Tư tưởng nằm ở phạm trù nội dung, tư duy nằm ở phạm trù phương pháp. Tuy nhiên giữa chúng vẫn có mối quan hệ mật thiết với nhau. “Đặc trưng của tư duy là phản ánh các mối quan hệ của con người đối với thế giới khách quan, quan hệ con người với con người và quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng; truy tìm các mối quan hệ, biểu diễn các mối quan hệ đó bằng các phương tiện ngôn ngữ, đó là toàn bộ chức năng nhận thức của tư duy [64, 18].
Nói đến tư duy là nói đến những hoạt động của bộ óc người ở trạng thái sống động của nó. Tư duy nảy sinh từ sự sống và gắn liền với hoạt động của các tế bào não. Đó là một quá trình xử lý lượng thông tin do các khí quan cảm giác thu nhận được. Trong lịch sử phát triển của con người, sự hình thành và phát triển của tư duy gắn làm một với sự hình thành và phát triển của chủ thể.
“Vậy, phán đoán đầu tiên của sự sống là ở chỗ, với tư cách là chủ thể cá thể, sự sống tự tách mình ra khỏi tính khách quan” (G. Nói đến sự sống trong vận động tư duy chính là nói đến cơ sở sinh lý của tư duy. Yếu tố “sống” đó sẽ tạo cho tư duy một thuộc tính quan trọng, đó là sự trao đổi tinh thần có tính chất giao tiếp, tính chất “cảm ứng” “giao cảm” giữa người với người. Bởi vậy, giao tiếp ngôn ngữ là một giao tiếp có tính bề ngoài, còn trao đổi tinh thần, giao lưu tư tưởng và tình cảm là bản chất của hoạt động tư duy.
Tư duy là một “trạng thái” bên trong của vật chất (Plêkhanôp) nhưng chỉ có ở vật chất đặc biệt, phát triển ở trình độ cao, tức là ở con người. Mọi quan niệm cho rằng tư duy, tinh thần hay ý niệm tồn tại độc lập, bên ngoài đầu óc con người, đều là quan niệm tư duy phi chủ thể, hoặc là tạo ra một chủ thể siêu nhiên đối lập với con người. Nhưng cả tư tưởng và tư duy sẽ không nảy sinh được nếu không có ngôn ngữ. Ngôn ngữ là công cụ của tư duy.
Ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư tưởng. “Không có ngôn ngữ thì tư duy chỉ là những dự báo mơ hồ, những phản ứng có tính bản năng trước hiện thực. Không có tư duy thì ngôn ngữ chỉ là tiếng kêu bập bẹ của 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.ninh) trẻ sơ sinh mà thôi. Tư duy làm cho ngôn ngữ phát triển phong phú, tinh xảo.
Ngôn ngữ tạo điều kiện cho tư duy đi sâu được vào bản chất của sự vật hơn” [64, 19]. Quan niệm về tư duy nghệ thuật Tư duy nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của con người trong lĩnh vực nghệ thuật. Có nhiều quan điểm về vấn đề này, tuy nhiên chúng tôi thống nhất với quan điểm của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học NXB Giáo dục 2006 và ý kiến của tác giả Nguyễn Bá Thành trong cuốn Tƣ duy thơ và tƣ duy thơ hiện đại Việt Nam NXB văn học Hà Nội 1996. Trong Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: “Tư duy nghệ thuật là dạng hoạt động trí tuệ của con người hướng tới sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật.
Bản chất của nó do phương thức thực tiễn tinh thần của hoạt động chiếm lĩnh thế giới bằng hình tượng quy định. Sự chuyên môn hoá lối tư duy này tạo thành đặc trưng nghệ thuật và tiềm năng nhận thức của nó. Tư duy nghệ thuật là một phương thức hoạt động nghệ thuật nhằm khái quát hoá hiện thực và giải quyết nhiệm vụ thẩm mỹ. Phương tiện của nó là các biểu tượng, tượng trưng có thể trực quan được.
Cơ sở của nó là tình cảm. Dấu hiệu bản chất của tư duy nghệ thuật là: ngoài tính giả định, ước lệ, nó hướng tới sự nắm bắt những sự thật đời sống cụ thể, cảm tính mang nội dung khả nhiên (cái có thể có) có thể cảm thấy, theo xác suất khả năng và tất yếu. Chính nhờ đặc điểm này mà nội dung khái quát của nghệ thuật thường mang tính phổ quát hơn, triết học hơn so với sự thật cá biệt. Bằng trí tưởng tượng sáng tạo vốn là chất xúc tác của hoạt động tư duy nghệ thuật, nghệ sĩ xây dựng các giả thiết, làm sáng rõ các bộ phận còn bị che khuất của thực tại, lấp đầy các “lỗ hổng chưa biết” tính cấu trúc của tư duy nghệ thuật gắn với năng lực nhìn thấy thế giới một cách toàn vẹn, nắm bắt nó qua những dấu hiệu phát sinh, đồng thời phát hiện các mối liên hệ mới chưa được nhận ra… Tư duy nghệ thuật đòi hỏi một ngôn ngữ nghệ thuật làm “hiện thực trực tiếp cho nó.
Ngôn ngữ đó là hệ thống các ký hiệu nghệ thuật, các hình tượng, các phương tiện tạo hình và biểu hiện. Nó có mã nghệ thuật, tức là hệ thống năng động 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.ninh) gồm các quy tắc sử dụng ký hiệu để gìn giữ tổ chức và truyền đạt thông tin. Điểm xuất phát của tư duy nghệ thuật vẫn là lý tính, là trí tuệ có kinh nghiệm, biết nghiền ngẫm và hệ thống hoá các kết quả nhận thức. Đặc điểm của tư duy nghệ thuật là tính lựa chọn, tính liên tưởng, tính ẩn dụ.
Trên cơ sở của tư duy nghệ thuật người ta tạo ra các tư tưởng và “quan niệm nghệ thuật” lựa chọn các phương tiện, biện pháp nghệ thuật. Dạng tư duy này chỉ phát huy hiệu quả khi gắn với tài năng, biết cảm nhận được một cách nhạy bén về viễn cảnh lịch sử, nắm bắt tinh thần thời đại, dự báo tương lai và tài năng sáng tạo nghệ thuật [26, 381-382]. Trên cơ sở nghiên cứu và phân tích khái quát những vấn đề về tư duy nghệ thuật Tác giả Nguyễn Bá Thành trong cuốn Tƣ duy thơ và tƣ duy thơ hiện đại Việt Nam đã bàn nhiều về vấn đề tư duy nghệ thuật nói chung và tư duy thơ nói riêng và đi đến kết luận: “Tư duy nghệ thuật là sự khôi phục và sáng tạo các biểu tượng trực quan, là sự hình tượng hoá hiện thực khách quan theo nhận thức chủ quan. Tư duy nghệ thuật chịu sự chi phối mạnh mẽ của thế giới quan và nhân sinh quan của người sáng tạo”.
Tư duy nghệ thuật khác với tư duy khoa học ở chỗ: tư tưởng tình cảm không chỉ là năng lượng của tư duy mà còn là đối tượng nhận thức của tư duy. Hình tượng nghệ thuật được coi là hình tượng của cảm xúc, nghĩa là “năng lượng” tình cảm còn đọng lại trong hình tượng như là một yếu tố nội dung, một bộ phận hợp thành. Tuy vậy, nếu đối lập lý trí với tình cảm, tư duy khoa học với tư duy nghệ thuật, chúng ta sẽ đi đến chỗ coi nghệ thuật chỉ bao hàm những yếu tố trực giác, những ấn tượng cảm tính mà không có ý nghĩa sâu sắc, không mang nội dung trí tuệ” [64, 54-55]. Tư duy thơ là một phương thức biểu hiện của tư duy nghệ thuật.
Tư duy thơ là phương thức nhận thức và biểu lộ tình cảm của con người bằng hình tượng ngôn ngữ. “Đặc điểm quan trọng nhất của tư duy thơ là sự thể hiện của cái tôi trữ tình, cái tôi cảm xúc, cái tôi đang tư duy. Cái tôi trữ tình trong thơ được biểu hiện dưới hai dạng thức chủ yếu là cái tôi trữ tình trực tiếp và cái tôi trữ tình gián tiếp. Thơ trữ tình, coi trọng sự biểu hiện cái chủ thể đến mức như là nhân vật số một trong 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.ninh) mọi bài thơ… Do sự chi phối của quan niệm thơ và phương pháp tư duy của từng thời đại mà vị trí của cái tôi trữ tình có những thay đổi nhất định… Tư duy thơ phản ánh những tình cảm cộng đồng và tư duy thời đại” [64, 56].
So với tư duy lôgích thì tư duy hình tượng có được một phạm vi rộng rãi hơn cho sự liên tưởng và quyền tưởng tượng của người sáng tạo.