Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn chuyên ngành Lý luận Văn học (mã số 62 22 32 01) của nghiên cứu sinh Nguyễn Huy Phòng, thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2015 dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phạm Thành Hưng và TS. Nguyễn Văn Nam, mang tiêu đề: "Phong cách nghệ thuật Nguyễn Huy Tưởng".

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Lịch sử văn học khẳng định rằng sự vận động và phát triển của một nền văn học dân tộc luôn gắn liền với sự định hình của các phong cách nghệ thuật cá nhân. Trong tiến trình văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nguyễn Huy Tưởng là một gương mặt lớn với hành trình sáng tác trải dài từ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Mặc dù đã có nhiều hội thảo, bài viết và công trình khoa học khảo sát cuộc đời, sự nghiệp của ông ở từng tác phẩm, từng thể loại riêng lẻ, nhưng việc tiếp cận toàn bộ di sản sáng tác của nhà văn một cách toàn diện, bao quát và có hệ thống dưới hệ hình lý thuyết phong cách nghệ thuật vẫn còn là một khoảng trống học thuật cần được nghiên cứu thấu đáo.

Mục tiêu nghiên cứu

  1. Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về phong cách và phong cách cá nhân nhà văn trong nghiên cứu văn học.
  2. Ứng dụng lý thuyết phong cách học để nhận diện, phân tích các đặc điểm phong cách nghệ thuật của Nguyễn Huy Tưởng trên cả hai bình diện: quan niệm nghệ thuật/thế giới quan và phương thức biểu hiện nghệ thuật.
  3. Khẳng định vị trí, đóng góp của phong cách nghệ thuật Nguyễn Huy Tưởng đối với tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Dấu ấn sáng tạo và các tín hiệu nghệ thuật mang tính ổn định, lặp lại xuyên suốt quá trình sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng, đặt trong sự đối sánh với các tác giả cùng thời và thế hệ kế cận.
  • Phạm vi tư liệu khảo sát: Luận án tập trung vào 4 thể loại tiêu biểu phản ánh văn phong và cốt cách của tác giả:
Thể loại Tác phẩm khảo sát tiêu biểu
Tiểu thuyết Đêm hội Long Trì, An Tư, Sống mãi với Thủ đô
Kịch Vũ Như Tô, Bắc Sơn, Những người ở lại, Lũy hoa (kịch bản phim)
Truyện thiếu nhi Lá cờ thêu sáu chữ vàng, Tìm mẹ, An Dương Vương xây thành Ốc, Kể chuyện Quang Trung
Nhật ký Toàn bộ các tập Nhật ký của nhà văn ghi chép liên tục trong suốt 30 năm (1930 – 1960)

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu lý thuyết phong cách tại Việt Nam

Luận án điểm lại các mốc phát triển của việc vận dụng lý thuyết phong cách trong nghiên cứu văn học nước nhà:

  • Giai đoạn đầu thế kỷ XX: Các nhà phê bình như Hoài Thanh (Thi nhân Việt Nam), Thiếu Sơn (Phê bình và cảo luận), Vũ Ngọc Phan (Nhà văn hiện đại), Hải Triều, Lê Tràng Kiều, Trương Tửu, Lê Đình Kỵ đã gián tiếp vận dụng trực giác phong cách thông qua phê bình tiểu sử, ấn tượng và xã hội học.
  • Giai đoạn từ sau 1960: Lý thuyết phong cách học hiện đại được tiếp nhận bài bản qua các công trình dịch thuật từ các nhà lý luận Nga (V. Vinogradov, V. Jirmunsky, M. Khrapchenko, Vexelopxki, Shklovsky). Điển hình là công trình Thơ Hồ Xuân Hương (1968) của Nguyễn Lộc; bài viết của Đỗ Đức Hiểu (1985) về phân kỳ lịch sử văn học theo phong cách lớn; chuyên luận Nhà văn, tư tưởng và phong cách (1979) của Nguyễn Đăng Mạnh; Thơ Hồ Xuân Hương từ cội nguồn vào thế tục (1995) của Đào Thái Tôn; cùng các tiểu luận lý thuyết của Tôn Thảo Miên (1997, 2006).
  • Vận dụng ngôn ngữ học cấu trúc và thi pháp học: Phan Ngọc với Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều (1985) và Thử xét văn hoá, văn học bằng ngôn ngữ học (2000); Đỗ Lai Thúy với Con mắt thơ (1992) và Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực (1999) qua khái niệm phong cách là sự lệch chuẩn của Léo Spitzer; tiếp nối bởi các công trình của Hà Minh Đức, Trần Đăng Suyền, Nguyễn Ngọc Thiện, Tôn Phương Lan, Trần Đình Sử.

Lịch sử nghiên cứu sáng tác Nguyễn Huy Tưởng

  1. Nghiên cứu trong nước:
    • Giai đoạn đương thời (trước 1960): Nhà báo Hoa Bằng trên tạp chí Tri tân đánh giá cao tiểu thuyết Đêm hội Long Trì và các bài khảo cứu lịch sử. Vở kịch Bắc Sơn (1946) công diễn tại Nhà hát Lớn Hà Nội được các báo Độc Lập, Đồng Minh, Kiến Thiết, Vì Nước, Tiên Phong đánh giá là mốc chuyển quan trọng mở ra kịch nói cách mạng.
    • Giai đoạn sau 1960 đến nay: Các nhà nghiên cứu Phong Lê, Hà Minh Đức, Tôn Thảo Miên, Bích Thu, Hoàng Trung Thông, Như Phong, Lưu Văn Lợi, Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Minh Châu đã đưa ra nhiều nhận xét sâu sắc về văn phong đôn hậu, điềm đạm, cảm quan lịch sử và tinh thần sử thi kết hợp trữ tình trong văn nghiệp Nguyễn Huy Tưởng.
  2. Tiếp nhận tại Trung Quốc:
    • Luận án dẫn khảo sát của Vũ Phong Tạo cho thấy từ khóa "Việt Nam tác gia Nguyễn Huy Tưởng" trên công cụ tìm kiếm tiếng Trung trả về 831.000 kết quả trong 0,28 giây.
    • Bộ Trung Quốc đại Bách khoa toàn thư (80 quyển) giới thiệu Ký sự Cao Lạng và Truyện anh Lục; giáo trình Tuyển tập tiểu thuyết Việt Nam hiện đại giảng dạy Bốn năm sau.
    • 6 tác phẩm của ông được dịch sang tiếng Trung gồm: Tìm mẹ, Truyện anh Lục (dịch giả Nhan Bảo, 1963), Bốn năm sau, Thằng Quấy, Lá cờ thêu sáu chữ vàng (bản song ngữ 2012), Ký sự Cao Lạng (Hoàng Mẫn Trung dịch, 1957).
    • Trang yuenan.com xếp Nguyễn Huy Tưởng vào danh sách 29 tác giả lớn của Việt Nam; luận văn thạc sĩ của Hồ Như Khuê (Đại học Sư phạm Hoa Đông, 2005) nghiên cứu về ảnh hưởng của kịch Lôi Vũ đến sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Mặc dù các tài liệu trước đã chỉ ra nhiều đặc điểm nội dung và nghệ thuật của từng tác phẩm, khái niệm "phong cách nghệ thuật Nguyễn Huy Tưởng" vẫn chưa được triển khai thành một hệ thống luận điểm hoàn chỉnh, nhất quán trên toàn bộ các thể loại kịch, tiểu thuyết, truyện thiếu nhi và nhật ký. Luận án chọn nhiệm vụ lấp đầy khoảng trống này.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án dựa trên lý thuyết phong cách học văn học, tích hợp quan điểm của các học giả phương Tây và phương Đông:

  • Phương Tây: Khrapchenko (phong cách là phương pháp chiếm lĩnh đời sống bằng hình tượng và biểu hiện cá tính sáng tạo), Vinogradov (hệ thống biểu hiện ngôn từ nghệ thuật được cá thể hóa), V. Jirmunsky (sự thống nhất giữa nội dung tư tưởng và hình thức), Antoine Compagnon (ba tiêu chí nhận diện phong cách: biến hóa hình thức trên nội dung ổn định, nét đặc trưng nhận dạng tác giả, sự lựa chọn lối viết), Roland Barthes (lối viết là ngụ ý của hình thức), Stephen Ullman, Georges Flaubert, Roman Jakobson.
  • Phương Đông: Lưu Hiệp (Văn tâm điêu long - mối quan hệ giữa tài năng, khí chất, học vấn và phong cách thời đại), Viên Mai (Tùy viên thi thoại - bản sắc cá nhân và văn khí).

Khung phân tích của luận án triển khai trên 2 bình diện cơ bản:

  1. Bình diện nội dung thẩm mĩ: Thế giới quan, tư tưởng, quan niệm nghệ thuật, vùng hiện thực thẩm mĩ và hệ thống hình tượng nhân vật.
  2. Bình diện hình thức biểu hiện: Bút pháp hư cấu lịch sử, tổ chức ngôn từ, giọng điệu - âm hưởng, kết cấu và thi pháp không gian - thời gian nghệ thuật.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

  • Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Khảo sát cấu trúc văn bản, hình tượng tác giả, cách bài trí không gian - thời gian, nghệ thuật tổ chức điểm nhìn và ngôn từ.
  • Phương pháp nghiên cứu tiểu sử: Phân tích ảnh hưởng của gia đình, quê hương Kinh Bắc, bối cảnh thời đại và trải nghiệm thực tế đến cảm quan sáng tác của nhà văn.
  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng với các nhà văn cùng thời (Nguyễn Tuân, Nam Cao, Thạch Lam, Tô Hoài...) và các tác giả cùng viết đề tài lịch sử để chỉ ra nét riêng biệt.
  • Phương pháp thống kê ngôn ngữ: Khảo sát tần số xuất hiện của các từ ngữ đặc trưng, các trường từ vựng và tín hiệu nghệ thuật xuất hiện lặp lại trong văn bản.
  • Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp tri thức văn hóa học, sử học và ngôn ngữ học để phân tích chiều sâu tri thức lịch sử - văn hóa trong tác phẩm.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 thiết lập nền tảng lý luận và tổng thuật lịch sử vấn đề:

  1. Lý thuyết phong cách: Truy nguyên thuật ngữ từ Stylos/Stylus/Style thời cổ đại Hy - La (Aristote, Cicero) đến thời cận - hiện đại. Luận án phân định mối quan hệ giữa phong cách tác giả, phong cách thời đại và phong cách ngôn ngữ.
  2. Bình diện phong cách cá nhân: Xác lập hai trục khảo sát gồm trục nhận thức/thế giới quan (cách nhìn, thái độ đối với đời sống) và trục kỹ thuật/hình thức nghệ thuật (cách tổ chức chất liệu, kết cấu, ngôn từ, giọng điệu).
  3. Lịch sử nghiên cứu: Khái quát tiến trình tiếp nhận phong cách học tại Việt Nam; tổng kết các bài viết, công trình nghiên cứu về Nguyễn Huy Tưởng trong nước và việc dịch thuật, tiếp nhận tác phẩm của ông tại Trung Quốc; từ đó chỉ ra tính cấp thiết của đề tài luận án.

Chương 2: Hành trình sáng tạo và quan niệm của Nguyễn Huy Tưởng về nghệ thuật

Chương 2 tập trung phân tích các yếu tố tiền đề hình thành phong cách và hệ thống quan niệm nghệ thuật của tác giả:

  1. Nhân tố ảnh hưởng:
    • Gia đình: Sinh ngày 06/05/1912 tại làng Dục Tú, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc Đông Anh, Hà Nội). Xuất thân từ gia đình nhà nho nghèo yêu nước; mẹ là bà Điều tần tảo (nhà văn từng lấy bút danh Điều Tử); cha mất sớm năm ông 7 tuổi nhưng để lại tấm gương khí tiết không làm quan cho giặc; người bác và người anh ruột truyền dạy những câu chuyện lịch sử ban đầu.
    • Quê hương: Vùng đất Cổ Loa, Kinh Bắc giàu truyền thống văn hóa dân gian và huyền tích lịch sử, hình thành nên tâm thức hoài niệm và ý thức dân tộc sâu sắc.
    • Thời đại và hoạt động xã hội: Học trường Bonnal (Hải Phòng), làm thư ký Sở Đoan (1935); tham gia Hướng đạo sinh, Hội Truyền bá Quốc ngữ, nhóm Văn hóa Cứu quốc (1943), vào Đảng Cộng sản Việt Nam (1946), đại biểu Quốc hội khóa I, sáng lập và làm Giám đốc đầu tiên của Nhà xuất bản Kim Đồng (1957).
  2. Con người Nguyễn Huy Tưởng: Được bạn bè, đồng nghiệp (Xuân Diệu, Nguyễn Minh Châu, Như Phong, Lưu Văn Lợi, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông, Phong Lê) ghi nhận ở tính cách hiền lành, đôn hậu, nghiêm cẩn, khiêm tốn; thể hiện khát vọng lớn qua 30 năm ghi nhật ký ("viết văn để tỏ lòng yêu nước", khát khao sáng tác tác phẩm xứng tầm giải Nobel phản ánh tâm hồn Việt Nam).
  3. Hành trình sáng tạo:
    • Giai đoạn trước 1945: Khẳng định tên tuổi với kịch Vũ Như Tô, tiểu thuyết Đêm hội Long Trì, An Tư.
    • Giai đoạn sau 1945: Gắn bó với hiện thực kháng chiến và kiến thiết đất nước qua kịch Bắc Sơn, Những người ở lại, ký sự, truyện thiếu nhi và tiểu thuyết Sống mãi với Thủ đô.
  4. Quan niệm nghệ thuật:
    • Quan niệm về thiên chức cao cả của người nghệ sĩ: Mượn văn chương để phụng sự non sông, đánh thức lòng yêu nước và ý thức lịch sử dân tộc.
    • Quan niệm về văn chương và tiêu chuẩn cái đẹp: Cái đẹp gắn liền với sự chân thật, hướng thiện và hòa quyện với quyền lợi của nhân dân.
    • Quan niệm về đặc trưng của thơ và tiểu thuyết lịch sử: Tôn trọng sự thật lịch sử nhưng phải thăng hoa bằng cảm xúc và tưởng tượng nghệ thuật.

Chương 3: Nét tinh tế, tài hoa của Nguyễn Huy Tưởng trong khám phá đời sống lịch sử - văn hóa

Chương 3 đi sâu vào thế giới nội dung thẩm mĩ – hạt nhân phong cách của Nguyễn Huy Tưởng:

  1. Vùng hiện thực thẩm mĩ đặc sắc:
    • Cảm thức về truyền thống lịch sử dân tộc: Hướng về những thời kỳ quật khởi, những trang sử chống ngoại xâm oanh liệt của cha ông từ thời An Dương Vương, nhà Trần đến phong trào Tây Sơn.
    • Cảm thức về âm hưởng hào hùng của chiến tranh cách mạng: Tái hiện không khí sục sôi của khởi nghĩa Bắc Sơn, cuộc chiến đấu 60 ngày đêm bảo vệ Thủ đô năm 1946 và chiến dịch biên giới.
    • Cảm thức về vẻ đẹp Thăng Long - Hà Nội: Khắc họa chiều sâu văn hiến, nét thanh lịch, hào hoa của đất kinh kỳ qua các thời kỳ lịch sử chuyển biến.
  2. Các kiểu nhân vật tiêu biểu:
    • Kiểu nhân vật quân vương, tướng sĩ: Những nhân vật mang vóc dáng sử thi, gánh vác sứ mệnh quốc gia đại sự (Trần Hưng Đạo, Trần Quốc Toản, Quang Trung...).
    • Kiểu nhân vật kẻ sĩ Thăng Long: Những trí thức giàu lòng tự trọng, tha thiết với cái đẹp và văn hóa dân tộc nhưng mang nhiều trăn trở thời thế (Vũ Như Tô, các nhân vật trong Sống mãi với Thủ đô).
    • Kiểu nhân vật người phụ nữ: Những người phụ nữ giàu đức hy sinh, đoan trang, kiên trinh và chịu nhiều bi kịch lịch sử (An Tư công chúa, Đan Thiềm...).

Chương 4: Những sáng tạo độc đáo của Nguyễn Huy Tưởng trong phương thức biểu hiện

Chương 4 khảo sát các phương tiện thi pháp và kỹ thuật biểu đạt nghệ thuật:

  1. Nghệ thuật hư cấu đề tài lịch sử: Kết hợp nhuần nhuyễn giữa "sử tính" (sự thật lịch sử) và "văn tính" (tưởng tượng nghệ thuật); làm sống lại không khí thời đại thông qua các chi tiết đời thường và chiều sâu tâm lý nhân vật.
  2. Dấu ấn sáng tạo trong sử dụng ngôn từ: Lựa chọn từ ngữ trang trọng, cổ kính, giàu chất tạo hình và nhạc điệu; phục chế lời ăn tiếng nói phù hợp với từng giai tầng và bối cảnh lịch sử.
  3. Âm hưởng và giọng điệu: Giọng điệu chủ đạo là ngợi ca sử thi hùng tráng hòa quyện với chất trữ tình đôn hậu, trầm tĩnh, sâu lắng.
  4. Kết hợp kết cấu cổ điển và hiện đại: Vận dụng lối kết cấu kịch tính phương Tây kết hợp với lối kết cấu theo dòng biên niên và cảm thức văn hóa truyền thống phương Đông.
  5. Không gian và thời gian nghệ thuật: Xây dựng không gian mang đậm màu sắc văn hóa - lịch sử (kinh thành, chiến lũy, đền đài) và thời gian lịch sử được rọi chiếu qua tâm thức hiện đại.

Kết quả và những đóng góp mới

Dựa trên công bố của luận án, các đóng góp mới bao gồm:

  1. Về mặt lý luận: Cung cấp cái nhìn hệ thống về việc ứng dụng lý thuyết phong cách học vào khảo sát toàn diện một hiện tượng văn học cụ thể; chứng minh phong cách là sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan, cảm quan lịch sử và hệ thống thi pháp biểu hiện.
  2. Về mặt thực tiễn:
    • Là công trình đầu tiên nghiên cứu toàn diện và có hệ thống sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng dưới góc độ lý thuyết phong cách nghệ thuật.
    • Định vị và khẳng định vững chắc danh vị của Nguyễn Huy Tưởng như một "nhà chép sử bằng văn chương" và "nhà văn của Hà Nội" với đóng góp nền tảng cho dòng văn học đề tài lịch sử và kịch bản văn học Việt Nam hiện đại.
    • Làm rõ quá trình chuyển biến tư tưởng và nghệ thuật của lớp nhà văn tiền chiến khi đi theo con đường cách mạng vô sản.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi khảo sát chuyên sâu vào 4 mảng thể loại chính (tiểu thuyết, kịch, truyện thiếu nhi và nhật ký), chưa thể bao quát toàn bộ các bài viết báo chí ngắn hoặc các tài liệu hành chính văn nghệ trong giai đoạn ông làm công tác quản lý.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng nghiên cứu đối sánh phong cách Nguyễn Huy Tưởng với các cây bút cùng thế hệ như Nguyễn Tuân, Nam Cao, Tô Hoài để nhận diện rõ nét hơn diện mạo phong cách thời đại 1930 – 1945 và 1945 – 1960.
    • Khảo sát sâu hơn về sự tiếp nhận và dịch thuật các tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng tại các quốc gia trong khu vực Đông Á.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật đối với:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Lý luận văn học, Văn học Việt Nam và Sư phạm Ngữ văn trong việc tiếp cận phương pháp phê bình phong cách học.
  • Giảng viên và giáo viên khi biên soạn giáo trình, bài giảng về tác gia Nguyễn Huy Tưởng và các tác phẩm trong chương trình giáo dục phổ thông/đại học (Vũ Như Tô, Bắc Sơn, Lá cờ thêu sáu chữ vàng).
  • Các nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa quân sự, văn hóa Thăng Long - Hà Nội khi tìm hiểu sự tương tác giữa tư liệu lịch sử và sáng tạo nghệ thuật.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát phong cách nghệ thuật Nguyễn Huy Tưởng qua những thể loại cụ thể nào?
Luận án tập trung vào 4 thể loại chính:

  • Tiểu thuyết (Đêm hội Long Trì, An Tư, Sống mãi với Thủ đô).
  • Kịch (Vũ Như Tô, Bắc Sơn, Những người ở lại, kịch bản phim Lũy hoa).
  • Truyện thiếu nhi (Lá cờ thêu sáu chữ vàng, Tìm mẹ, An Dương Vương xây thành Ốc, Kể chuyện Quang Trung).
  • Toàn bộ các tập Nhật ký của nhà văn trong 30 năm (1930 – 1960).

2. Hai bình diện cơ bản được luận án sử dụng để nhận diện phong cách tác giả là gì?

  • Bình diện thứ nhất: Thế giới quan, tư tưởng, quan niệm nghệ thuật và cách cảm thụ khám phá đời sống (vùng hiện thực thẩm mĩ, hình tượng nhân vật).
  • Bình diện thứ hai: Phương thức biểu hiện nghệ thuật (bút pháp hư cấu, tổ chức kết cấu, ngôn từ, âm hưởng, giọng điệu, không gian và thời gian nghệ thuật).

3. Đâu là những nhân tố tiểu sử quan trọng ảnh hưởng đến cảm quan sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng?

  • Truyền thống gia đình nhà nho nghèo yêu nước, đức hy sinh của người mẹ (bút danh Điều Tử), tấm gương khảng khái của người cha và những câu chuyện lịch sử từ người bác, người anh.
  • Quê hương làng Dục Tú, huyện Đông Anh nằm cạnh kinh thành Cổ Loa – cái nôi lịch sử Kinh Bắc.
  • Hoạt động cách mạng sớm: tham gia Văn hóa Cứu quốc (1943), đại biểu Quốc hội khóa I, gắn bó sâu nặng với Thủ đô Hà Nội.

4. Dữ liệu tiếp nhận tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng tại Trung Quốc được luận án ghi nhận như thế nào?
Theo khảo sát của dịch giả Vũ Phong Tạo dẫn trong luận án, có 6 tác phẩm được dịch sang tiếng Trung (Tìm mẹ, Truyện anh Lục, Bốn năm sau, Thằng Quấy, Lá cờ thêu sáu chữ vàng, Ký sự Cao Lạng). Tác giả được đưa vào Trung Quốc đại Bách khoa toàn thư, giáo trình đại học và là đối tượng nghiên cứu trong luận văn thạc sĩ năm 2005 tại Đại học Sư phạm Hoa Đông.


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Phong cách nghệ thuật Nguyễn Huy Tưởng" của tác giả Nguyễn Huy Phòng là công trình nghiên cứu hệ thống và chuyên sâu về một trong những tác gia lớn của văn học Việt Nam hiện đại dưới góc nhìn lý thuyết phong cách. Công trình đã làm sáng tỏ sự hòa quyện giữa cảm quan lịch sử dân tộc, âm hưởng sử thi lãng mạn và bút pháp nghệ thuật tài hoa, đôn hậu trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng. Kết quả nghiên cứu khẳng định vị thế của ông như một nhà văn của đề tài lịch sử và văn hóa Hà Nội, đồng thời cung cấp nguồn tư liệu học thuật quan trọng cho việc nghiên cứu và giảng dạy văn học dân tộc thế kỷ XX.