Chương 1: Những vấn đề chung về nhân vật thư sinh trong truyện thơ Nôm bác học thế ky XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX Chương | trình bay các van đề thuộc về cơ sở lý luận như: khái niệm và đặc điêm của truyện thơ Nôm bác học, nhân vật thư sinh và những tiền dé thúc đây ra đời hình tượng nhân vật này trong truyện thơ Nôm bác học thế ky XVIII — nửa đầu thé kỷ XIX cũng như cơ sở phân loại kiêu hình nhân vật. Từ đó đi đến việc khang định sự xuất hiện của nhân vật thư sinh trong truyện thơ Nôm bác học giai đoạn nay là một điều tất yếu dé đáp ứng được thị hiểu thâm mỹ cia độc giả lúc bay giờ. Các kiêu hình nhân vật thư sinh trong truyện thơ Nôm bác học thế kỷ XVIII— nửa đầu thể kỷ XIX Chương2 chúng tôi tập trung phân tích đặc điểm của từng kiêu hình nhân vật thư sinh dựa trên những tiêu chí cụ thể. Chúng tôi tập trung phân tích những nét khu biệt nhất của mỗi kiêu hình nhân vật thư sinh dé làm nên “van tay” riêng của họ trong vô vàn nhân vật của truyện thơ Nôm bác học.
Đông thời, thông qua đặc điểm của mỗi kiêu hình nhân vật thư sinh giúp tác gia thẻ hiện quan niệm của minh vẻ con người và xã hội. Nghệ thuật xây dựng nhân vật thư sinh trong truyện tho Nôm bac học thế kỷ XVIII — nửa đầu thế kỷ XIX Chương 3 chủ yếu làm rõ các biện pháp nghệ thuật được sử dụng dé xây dựng nên các nhân vật thư sinh trong truyện thơ Nôm bác học. Chính cách tác giả lựa chọn những cách thức khác nhau trong việc sử dụng biện pháp nghệ thuật sẽ góp phan thé hiện đặc điểm nhân vật. Chúng tôi tập trung vào ba biện pháp nghệ thuật là: Nghệ thuật miêu tả nhân vật, nghệ thuật tô chức ngôn ngữ và nghệ thuật xây dựng tình huồng.
16 CHUONG I: NHUNG VAN DE CHUNG VE NHAN VAT THU SINH TRONG TRUYEN THO NOM BAC HOC THE KY XVIII - NỬA DAU THÊ KY XIX 1. Giới thuyết về nhân vật thư sinh trong truyện tho Nôm bac học thé ky XVIH ~ nửa đầu thé ky XIX L.L Khai niệm nhân vật văn học Nhân vật văn học là yếu tố không thiếu đối với loại tác phẩm tự sự và kịch!. Trong sách Ly luận văn học tập 2 — Tae phẩm và thể loại văn học của tác già Trần Dinh Sử (chủ biên). nhân vật văn học là “khái niệm dùng dé chỉ hình tượng các ca thé con người trong tác phẩm văn học — cái đã được nhà văn nhận thức, tái tao, thê hiện bằng các phương tiện riêng của nghệ thuật ngôn từ” (Tran Dinh Sử, 2017, tr.
Từ khái niệm của nhà nghiên cứu Tran Đình Sử, có thể hiéu nhân vật văn học là hình tượng con người được nhà văn xây dựng qua quá trình nhận thức hiện thực — tái tạo hiện thực đó bằng những phương tiện nghệ thuật trong tác phâm văn học. Trong /50 thuật ngữ văn học, tac giả Lại Nguyên Ân định nghĩa nhân vật văn học “được hiểu lả hình tượng nghệ thuật về con người, một trong những dấu hiệu về sự ton tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ" (Lại Nguyên An, 2017, tr. Lại Nguyên Ân trước hết khăng định nhân vật văn học là một hình tượng, đây là một yêu tô quan trọng. Nếu một sự vật được tái hiện một cách đơn thuần trong văn học, thì nó chỉ là một hình ảnh, nhưng khi hình ảnh đó mang những tư tưởng, triết lý, cảm hứng thì sự vật đó mới trở thành hình tượng.
Điều nảy cho thấy tác giả khang định nhân vật văn học chính là đối tượng tác giả gửi gắm những tư tưởng nhất định và có tỉnh chủ đích khi xây dựng trong tác phâm. Đồng thời, ông cũng nhắc đến tính toàn vẹn của con người trong tác pham văn học. Tức là, mỗi nhân vật văn học bắt buộc phải là một hình tượng nghệ thuật có đủ đầy thuộc tính một con người thật Ì Theo cách phản chia của Aristotle trong Nghé thuật thơ ca. Dựa vào nguyên tắc phan ánh phan chia văn học thành 3 loại.
Ong cho rằng nghệ thuật là sự “mỏ phỏng”, “bat chước” thực tại. Tương ứng với 3 hình thức mô phóng đó là 3 loại văn học: loại tác phẩm tự su, loại tắc phẩm trữ tình vả loại kịch. 17 sự với những số phận, tính cách riêng được thẻ hiện qua các yếu tô ngoại hình, tâm lý, lời nói, hành động, mỗi quan hệ với tự nhiên và xã hội,. Trong định nghĩa của tác giả Lại Nguyên An còn dé cập đến vấn đẻ “bén cạnh con người, nhân vật văn học có khi còn là các con vật, các loải cây, các sinh thể hoang đường được gan cho những đặc điểm giéng con người" (Lại Nguyên An, tr.
Nhân vật văn học không chỉ la con người, mà còn là đồ vật, con vật,. được nhân cách hóa khi đi qua lãng kính văn học. Tiêu biêu cho kiêu nhân vật nảy là ở thê loại ngụ ngôn và đồng thoại. Dé trở thành được nhân vật văn học thì các loài vật ay phải được nhân hóa, phóng chiều suy nghĩ và cảm xúc dé mang day đủ đặc tính của con người.
Bởi con người là đối tượng phan ánh của văn học (nói cụ thé hơn là bản chat xã hội cua con người). Văn học làm sao khước từ việc thé hiện con người khi mang trong mình chức năng nhận thức và giáo dục, nhằm giúp con người hiệu vẻ cuộc đời vả chính bản thân minh. Tác giả đi từ quá trình fvong tượng — tạo ra một hiện thie thứ hai với nhân vật, không gian, thời gian. đến /iền tưởng — gắn kết tắt cả chỉ tiết đó thành một chỉnh thê thông nhất trong mỗi quan hệ biện chứng với nhân vật.
Wien thực thứ hai được sang tao dựa trên sự phản ánh hiện thực đời sống (dù là thé loại khoa học viễn tưởng). Con người chính là trung tâm của xã hội, có thé nói miêu tá con người là phương thức dé miêu tá toàn bộ thé giới. Tóm lại, nói một cách khái quát, nhân vật văn học là hình ảnh của con người trong hiện thực khách quan được tái tạo bằng các thủ pháp văn học qua lăng kính chủ quan của tác giả sau quá trình nhận thức. Nhân vật văn học có thé lả con người hoặc một sinh thê khác, nhân vật đó bắt buộc mang những đặc điểm của con người ở đời sông hiện thực.
Đó la lý do khi đọc một tác pham, nhân vật đó dù rằng ta chỉ mới gặp lần đầu tiên, nhưng lại đem đến một cảm giác gần gũi, quen thuộc, có khi ta nhìn thay chính mình ở nhân vật. Nếu ở văn bản thông tin, độc gia chỉ là người ngoài cuộc dé tiếp nhận. thì đến với văn bản văn học, nhờ có nhân vật văn học mà chúng ta có thê mang “đôi giày của nhân vat” dé nhập thân vả trai nghiệm như một người trong cuộc. Từ qua trình trai nghiệm đó, nhân vật văn học đem đến cái bừng thức và vỡ òa từ bên trong khi chúng 18 ta nhìn thay những van dé nhân sinh trong cuộc sóng, thậm chí là thấy chính mình ở nhân vật.
Tuy nhiên, dù là tự sự hư cau hay phi hư cấu thì ta tuyệt nhiên không đồng nhất nhân vật văn học với con người ngoài đời sông, chúng thông nhất nhưng không đồng nhất. Bởi khi con người ấy đặt chân vào trang văn, một điêu tất yếu họ sẽ là “đứa con” được nhà văn tạo ra bằng sự chủ quan của mình, cái chủ quan đó ít nhiều chi phối đến cách xây dựng nhân vật.Bakhtin (dẫn theo Tran Dinh Sử, 2017, tr.122) cũng chỉ ra trong mỗi tương quan “nha văn - nhân vật", có hai yếu tô chỉ phối đến sự thé hiện nhân vật trong tác phẩm: lập trường tác giả và ban chất thé loại. Nhân vật là phương thức thé hiện quan điểm sống và cách mà nhà văn nhìn nhận, lý giải, đánh giá cuộc sông. Đồng thời, nhân vật văn học được mô tả trong tính xã hội lịch sử cụ thé, tức là mỗi nhân vật gan với tư tưởng.
quan niệm về con người của thời dai tac phẩm ra đời. Vì vậy mà độc giả không nên phán xét hay chê trách nhân vật văn học như một con người hiện hữu trong thời đại của chúng ta. Mỗi thời đại có mỗi cảm quan về con người lý tưởng, cách hành xử như thé nào là đúng mực, như thé nào là phù hợp cũng hoàn toàn khác nhau. Trong những giai đoạn nhất định, tác phẩm buộc mang trong mình chức năng phục vụ cho mục đích sáng tác nào đó, vì vậy mà những hành động, suy nghĩ, ứng xử của con người trong tác phẩm cũng bị chi phối.
Vậy nên, nhân vật văn học đến cuối củng van chỉ là một sản phâm của trí tưởng tượng, họ có đời sông riêng, có cuộc đời riêng của chính họ trong tác phẩm và trong quá trình tiếp nhận nơi độc giả. Điều quan trọng là độc giả hãy đến với nhân vật văn học bang trái tim thiện lành, một cái nhìn thấu đáo, tạo dựng cho nhân vật một "cuộc đời" tốt đẹp thay vì lay góc nhìn chủ quan của con người khác nhau về không gian lẫn thời gian mà phán xét, chỉ trích họ. Nhân vật văn học được tác giả dùng những phương thức nghệ thuật mả tái tạo, xây dựng nên. Pau tién, nhân vật văn học được tác giả miêu tả bằng chỉ tiết qua các phương diện chính: hành động, nội tâm và ngoại hình.
Các nhân vật trong văn học dân gian chủ yếu được thê hiện thông qua miêu tả hành động, phạm tri nội tâm it được chú ý. Xuất phát từ tư duy sơ ngộ cùng quan niệm “nhan quả báo ứng”, nhân 19 vật được đựng nên chỉ là những “nhân vật chức năng” hành động theo một sự "lập trình” sẵn dé thé mục dich, củng cô quan niệm của người sáng tác. Nhưng khi văn học bắt đầu thoát khỏi những câu chuyện chí quái, thần kỳ mà bước chân vào nghệ thuật đúng nghĩa qua các sáng tác truyền kỳ, con người bước chân vào trang văn không chỉ có hành động ma còn được miêu tả thé giới nội tâm phong phú. Bên cạnh đó, nhân vật văn học còn được miều tá ngoại hình một cách có chủ đích.
Ngoại hình của các nhân vật thường miều tả ngay từ cách tác giả giới thiệu, tính chủ dich nam ở đây. Bởi lẽ, cái ngoại hình được tác giả dùng dé giới thiệu đó gắn liên với tích cách vả số phận của họ. Các dau hiệu về ngoại hình đó được đúc kết thành những “công thức”, cuộc đời nhân vật cũng phát triển theo công thức khởi thủy đó.