Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tìm tòi và cách tân trong thơ Văn học nghệ thuật muốn tồn tại và phát triển cần luôn đổi mới, không thể là sự dập khuôn máy móc hay lặp lại chính mình. Nói như nhà văn Nam Cao: “Văn chương không cần những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những cái gì chưa có”(Đời thừa).
Từ quan điểm ấy ta có thể hiểu tìm tòi, cách tân là đòi hỏi của người đọc và cũng là nhu cầu tự thân để nghệ thuật tồn tại. Quan niệm về tìm tòi và cách tân Theo Từ điển tiếng Việt, “tìm tòi là tìm một cách công phu, kiên nhẫn để thấy ra, nghĩ ra cái khác” [90, tr.1276] còn “cách tân thì giống đổi mới, cải cách, canh tân, là thay đổi hoặc làm cho thay đổi tốt hơn, tiến bộ so với trước đáp ứng yêu cầu của sự phát triển và thường gắn liền với văn hóa nghệ thuật” [90, tr.141] Theo Từ điển tiếng Pháp (Larousse.com), tìm tòi (rechérche) “là sự tìm kiếm” còn cách tân (rénovation) “là sự làm mới lại, cải tạo, cải thiện cái gì đó”. Theo Từ điển tiếng Anh (Vdict.com), tìm tòi (reseach) “là sự khám xét, khám phá, sưu tầm” còn cách tân (innovation) “là sự đưa vào những cái mới, sáng kiến, phương pháp mới, hay là sự tiến hành đổi mới”. Từ những định nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu khái quát: Tìm tòi chính là sự khám phá, kiếm tìm ra những giá trị mới, phá bỏ thế tĩnh tại của hiện hữu sáng tạo.
Nó phụ thuộc chủ yếu vào ý thức chủ quan của người sáng tác. Nói như Thạch Lam có những cái đẹp người ta không ngờ, ai cũng nhìn nhưng không phải ai cũng thấy. Nhiều người dù có tư tưởng đổi mới nhưng có thể họ cũng không tìm thấy điều nghệ thuật cần, không thấy những 8 điều cần trong đời sống. Bởi vậy, nếu ta không có ý thức tìm thì sẽ không thấy và sẽ không có thay đổi trong sáng tạo.
Cách tân, ở nghĩa cơ bản được hiểu tương đồng với nghĩa của từ đổi mới, nhưng vì là từ Hán Việt nên có thể mang nét nghĩa khái quát cao hơn, toàn diện hơn từ đổi mới (là từ thuần Việt). Cách tân có thể hiểu là làm mới lại (thay đổi) cái cũ và làm ra cái mới hoàn toàn. Chẳng hạn, có những đề tài trước kia trong văn học từng được xem là cấm kị thì bây giờ nhà văn sẵn sàng xông pha, chạm tới vùng cấm và trưng ra những cảm xúc, những cách nói mới khác nhau cho những đề tài đó. Bên cạnh đó, nếu đổi mới thường dùng bao trùm cho nhiều lĩnh vực, nhiều bình diện khác nhau thì cách tân thường được dùng nhiều hơn trong lĩnh vực của văn học nghệ thuật.
Nhiều ý kiến còn cho rằng cách tân thường nghiêng về thủ pháp nghệ thuật nhưng thực ra thủ pháp nghệ thuật chỉ là một bình diện còn cách tân bao hàm nội dung căn bản hơn cả về hệ tư tưởng, quan niệm. Từ cách hiểu đó, chúng ta có thể nhận ra những biểu hiện của cách tân ở các mức độ, cấp độ hoặc các bình diện khác nhau ngay cả trong cùng một trào lưu, một phương pháp. Ở mức độ hẹp, cách tân có thể bao hàm sự thay đổi căn bản cả một giai đoạn văn học. Nhiều người dùng cách tân với hàm nghĩa như “cuộc cách mạng trong thi ca” để nói về phong trào Thơ Mới (Hoài Thanh - Thi nhân Việt Nam).
Còn ở mức độ cao hơn, cách tân là sự làm thay đổi một hệ hình văn học thậm chí có thể làm thay đổi ngay trong cùng một hệ hình, một trào lưu. Ví dụ cùng là chủ nghĩa lãng mạn nhưng ở mỗi giai đoạn văn học, chủ nghĩa lãng mạn lại có những cách làm mới khác nhau, giữa những người khởi đầu và những người phát triển tiếp theo cũng có cách khám phá khác nhau. Vậy về bản chất, tìm tòi và cách tân là hai phạm trù độc lập nhưng lại không thể tách rời nhau. Nếu tìm tòi là hành động tất yếu của sự khám phá và đi tìm cái mới thì cách tân chính là kết quả của sự khám phá, là cái mới, cái chất lượng, không trùng lặp mang đến những giá trị nghệ thuật phong phú.
Ngược lại, nếu cách tân là hoạt động tất yếu của nghệ thuật thì tìm tòi trở thành một trong 9 những điều kiện của cách tân vì không phải bất cứ sự tìm tòi nào cũng đem đến sự cách tân, nó có thể tạo ra cái khác mà không hẳn cái mới. Quá trình này không chỉ tác động thay đổi hệ hình văn học trên nền tảng tư duy mà còn làm mới đối tượng, đem đến những giá trị mỹ học mới cho văn học. Mỗi thời đại, mỗi giai đoạn văn học, sự tìm tòi và cách tân sẽ tạo ra những tiền đề vừa đáp ứng đòi hỏi của văn học vừa phù hợp tâm thức thời đại, đem đến những cách tân kết tinh thành tựu nghệ thuật. Tuy nhiên, có những thời điểm, cách tân có thể đạt tới đỉnh cao, toàn bích nhưng lại nó không bao giờ dừng lại mãi mãi ở cái đỉnh ấy.
Xem xét sự tìm tòi, cách tân chúng ta không chỉ nên so sánh hơn kém, quan trọng cần tìm ra bản chất, tìm ra những giá trị khác, giá trị mới hợp với thời đại không nhất thiết phải hơn cái cũ. Nó không phụ thuộc vào thế hệ, lứa tuổi mà ở sự mới mẻ người nghệ sĩ mang lại. Tìm tòi, cách tân trong thơ và trong thơ Việt Nam hiện đại 1. Tìm tòi, cách tân trong thơ Tìm tòi và cách tân trong văn chương không chỉ gắn với những thay đổi của thời đại mà còn gắn với đặc trưng thể loại.
Đối với thơ, sự tìm tòi và cách tân bao giờ cũng thường bắt đầu từ sự thay đổi của chủ thể trữ tình, sau đó là phát hiện ra những cách cảm thụ thế giới, sự rung cảm mới phù hợp với sự chuyển biến của thời đại văn học. Vậy, tác phẩm văn học ngoài việc phải thể hiện được những đặc trưng riêng của thể loại thì còn phải chứa những cái mới làm thay đổi cách nhìn quen thuộc và phải khác đi với những gì có trước đó. Trong thơ, sự tìm tòi và cách tân thường có sự thống nhất, hài hòa giữa ba phương diện cơ bản sau: Thứ nhất, đó là sự đổi mới quan niệm về thơ. Nó được bộc lộ qua sự tinh lọc, kết tụ cảm quan mới của nhà thơ về thế giới, về con người, về cái đẹp và khơi dậy những mỹ cảm mới cho thơ qua từng giai đoạn phát triển.
Thứ hai, đó là sự khám phá ra những rung động, cảm xúc mới. Nhà thơ muốn sáng tác một tác phẩm nghệ thuật hay, có giá trị tồn tại mãi với thời gian 10 thì ngoài tài năng, sự hiểu biết, sự nếm trải buồn vui trong cuộc đời cũng cần có xúc cảm chân thật tự đáy tâm hồn. Nó phải là “trạng thái tâm lí đang rung chuyển khác thường”(Nguyễn Đình Thi) chứ không tĩnh tại bất biến, phải là những rung động mới, trinh nguyên của tâm hồn khi tiếp xúc với cuộc sống. Thơ khác với thể loại tự sự ở chỗ không chỉ tập trung tái hiện khách quan hiện thực hay miêu tả sự kiện đời sống bên ngoài mà đi sâu khám phá những xúc cảm mới, biện giải về đời sống bên trong của con người với mối tương quan hiện thực nhiều chiều xung quanh con người.
Thứ ba, bất kì sự thay đổi nội dung nào trong thơ cũng sẽ đưa thơ đến những hình thức nghệ thuật mới tác động mạnh mẽ tới người đọc, thậm chí làm cho liên tưởng, tưởng tượng trong thơ đổi khác. Với thơ trữ tình, sự tìm tòi cách tân của hình thức nghệ thuật đóng vai trò quan trọng giúp ta nhìn rõ hơn những thay đổi trong tư duy nghệ thuật thơ ở kết cấu, từ ngữ, các biện pháp tu từ, hình ảnh, giọng điệu. Tìm tòi, cách tân trong thơ Việt Nam hiện đại Trong thơ Việt Nam hiện đại, sự tìm tòi và cách tân có sự tiếp nối ba giai đoạn: Nửa đầu thế kỉ XX, cuộc cách mạng thi ca đã tạo nên những thay đổi sâu sắc, toàn diện trên cả phạm trù thơ. Thơ có sự chuyển đổi hệ hình từ thơ cổ điển sang thơ mới, trung tâm là sự thay đổi cái tôi trữ tình từ thời đại cái ta sang thời đại cái tôi.
Đề xướng phá bỏ những khuôn mẫu của thể thơ cũ, các nhà thơ mới đề cao cảm xúc cá nhân, phát huy trí tưởng tượng, đem đến cho người đọc một thế giới tinh thần phong phú với những nỗi buồn âu lo, sự cô đơn nhưng cũng nhiều cảm xúc nồng nàn, rạo rực và khát vọng của thế hệ nhà thơ mới. Trên báo Nam Phong số 5/1917, Phạm Quỳnh thừa nhận: “Người ta nói tiếng thơ là tiếng kêu của con tim. Người Tàu định luật nghiêm cho người làm thơ thực là muốn chữa lại, sửa lại tiếng kêu ấy cho nó hay hơn nhưng cũng nhân đó mà làm mất đi cái giọng tự nhiên vậy”. Các cuộc tranh cãi thơ cũ và thơ mới cũng diễn ra khá 11 gay gắt.
Trong đó, nhiều bài viết chỉ trích nặng nề những trói buộc của thơ cũ và đòi hỏi phải cởi trói cho thơ ca. Cuộc canh tân này đi vào lịch sử văn học với sự ra đời của phong trào Thơ Mới. Tuy nhiên, ngoài yếu tố tác động bên ngoài buộc thơ phải đổi mới thì thực chất bản thân thơ giai đoạn này cũng có sự tự vận động, tự cách tân thành những xu hướng khác nhau để đi xa hơn trên hành trình mười mấy năm phát triển của mình. Ở chặng đầu từ năm 1932 - 1935, sự thay đổi căn bản nhất của thơ là sự xuất hiện của cái tôi cá nhân lãng mạn với những tên tuổi nổi bật như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư.
Khi Thơ Mới lên đến đỉnh cao, thơ lại xuất hiện những tìm tòi theo hướng tượng trưng siêu thực với những tên tuổi như Huy Cận, Xuân Diệu… Đến chặng cuối,Thơ Mới vẫn có thêm những cách tân đột phá nhưng có lẽ do áp lực từ bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa và văn học nên thơ một lần nữa có sự chuyển đổi sang hệ hình mới. Ta có thể kể tên một số nhà thơ tiêu biểu ở chặng này có nhiều đóng góp như Bích Khê, Hàn Mặc Tử… Sang giai đoạn 1945 - 1975, xuất phát từ nhiệm vụ chung của văn học, thơ chủ yếu gắn liền với nhiệm vụ chính trị, cách mạng, gắn liền với đời sống cộng đồng và đời sống dân tộc.