Tổng quan luận án
Công trình khoa học "Thơ nữ Việt Nam sau 1975 những tìm tòi và cách tân" là luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam - hiện đại (mã số 9.21), do nghiên cứu sinh Lê Thùy Nhung thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2021, dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Văn Long và TS. Nguyễn Phượng.
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ quy luật vận động nội tại của văn học: nghệ thuật luôn đòi hỏi sự đổi mới, không chấp nhận việc rập khuôn hay lặp lại chính mình. Sau năm 1975, cùng sự phát triển của nền văn học dân tộc trong bối cảnh lịch sử và xã hội mới, bộ phận thơ nữ đã có những thay đổi sâu sắc về diện mạo với sự hiện diện của một đội ngũ tác giả đông đảo. Nhiều hiện tượng thơ nữ ghi nhận thành tựu và được trao tặng các giải thưởng quốc tế, tiêu biểu như nhà thơ Ý Nhi đón nhận giải thưởng Cikada của Thụy Điển năm 2015, Nguyễn Phan Quế Mai có tác phẩm xuất bản trong chuỗi ấn phẩm Lannan Translations Selection Series của Hoa Kỳ năm 2014, hay Vi Thùy Linh thực hiện các chương trình giao lưu, biểu diễn thơ tại Pháp và châu Âu. Bên cạnh đó, thi đàn cũng xuất hiện những luồng tranh luận về các thể nghiệm nghệ thuật táo bạo của các cây bút nữ trẻ. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả luận án chỉ ra là: phần lớn các công trình phê bình, nghiên cứu từ sau năm 1975 đến nay chỉ tập trung đánh giá khái quát đặc điểm chung hoặc khảo cứu phong cách của một tác giả, một nhóm tác giả riêng lẻ ở từng giai đoạn cụ thể. Do đó, việc xây dựng một công trình bao quát toàn diện, hệ thống hóa những tìm tòi và cách tân của thơ nữ từ sau năm 1975 đến nay là yêu cầu khoa học cần thiết.
Mục đích nghiên cứu của luận án là nhận diện, lí giải những tìm tòi và cách tân của thơ nữ Việt Nam từ sau năm 1975 trên các phương diện chính của nội dung và nghệ thuật; đồng thời đánh giá ý nghĩa của tiến trình đổi mới này đối với sự phát triển chung của thơ ca dân tộc, khẳng định vị trí và đóng góp của các nhà thơ nữ. Luận án xác định bốn nhiệm vụ nghiên cứu trọng tâm:
- Xác định quan niệm về tìm tòi và cách tân làm cơ sở lí luận, nhìn nhận lại tình hình nghiên cứu về thơ nữ sau năm 1975 để tạo dựng cơ sở thực tiễn.
- Nhận diện bức tranh diện mạo của thơ nữ sau năm 1975 qua các chặng đường song hành, tiếp nối giữa các thế hệ tác giả, các quan niệm thơ và các xu hướng cách tân chủ yếu.
- Phân tích cụ thể những tìm tòi, cách tân của thơ nữ sau năm 1975 trên phương diện nội dung (cảm hứng trữ tình, cái tôi trữ tình) và hình thức nghệ thuật (cấu trúc, hình ảnh, ngôn ngữ, giọng điệu).
- Khảo sát, đối chiếu so sánh thơ nữ sau năm 1975 với thơ ca giai đoạn trước năm 1975, đồng thời so sánh với sáng tác của các tác giả nam giới cùng thời để làm rõ nét riêng biệt.
Đối tượng nghiên cứu là những tìm tòi và cách tân của thơ nữ sau năm 1975 trên phương diện nội dung (cảm hứng trữ tình, cái tôi trữ tình) và hình thức nghệ thuật (cấu trúc, hình ảnh, ngôn ngữ, giọng điệu) qua các hiện tượng thơ tiêu biểu. Phạm vi nghiên cứu khảo sát các tác phẩm tiêu biểu của ba thế hệ nhà thơ nữ: thế hệ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ (Xuân Quỳnh, Ý Nhi, Phan Thị Thanh Nhàn, Lâm Thị Mỹ Dạ, Nguyễn Thị Hồng Ngát); thế hệ xuất hiện ở chặng đầu thời kỳ đổi mới (Phạm Thị Ngọc Liên, Lê Thị Mây, Đoàn Thị Lam Luyến, Dư Thị Hoàn, Lê Khánh Mai, Vũ Thị Huyền); và thế hệ xuất hiện từ nửa cuối thập niên 1990 đến nay (Phan Huyền Thư, Nguyễn Phan Quế Mai, Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Ngọc Tư, Từ Huy, Ng.anhanh, Lữ Thị Mai, Như Quỳnh de Prelle, Nguyễn Thị Thúy Hạnh).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tình hình nghiên cứu về những tìm tòi và cách tân trong thơ nữ Việt Nam sau năm 1975 được tác giả luận án tổng thuật theo hai hướng nghiên cứu chính:
Hướng nghiên cứu thứ nhất tập trung vào các công trình khảo cứu diện mạo và đặc điểm chung của thơ nữ sau năm 1975. Bích Thu trong bài viết "Nỗ lực đổi mới trong thơ nữ đương đại" (2010) nhận định sự xuất hiện đông đảo của các cây bút nữ đã làm thay đổi không khí thi đàn, chia thơ nữ thành hai xu hướng: tiếp nối truyền thống và thể nghiệm hiện đại; đồng thời tác giả cũng chỉ ra các hạn chế như lạm dụng nỗi buồn cá thể hoặc ngôn ngữ nhục cảm. Đoàn Thị Đặng Hương trong lời tựa cuốn "Thơ nữ Việt Nam tuyển chọn 1945 - 1995" nhấn mạnh vẻ đẹp dịu dàng và mãnh liệt của mảng thơ tình yêu. Hà Minh Đức trong cuốn "Đi tìm chân lý nghệ thuật" (bài viết "Một vài suy nghĩ về thơ tình những năm gần đây") đánh giá cao sự chân thành, xúc động của tiếng thơ tình phái nữ. Nguyễn Lương Ba qua bài "Những chuyển động trong thơ hôm nay, chuyển động như thế nào?" (2002) đã đối sánh sự tiếp nối giữa thế hệ trưởng thành từ chiến tranh và thế hệ trẻ, ghi nhận bước chuyển mạnh mẽ sang cảm xúc si mê và tính dục. Phạm Quốc Ca trong công trình "Mấy vấn đề về thơ Việt Nam 1975 - 2000" nhận xét thơ tình thời kỳ này duy lý, tỉnh táo hơn, song cũng dẫn lại những ý kiến đánh giá còn phân tán của dư luận. Đặng Thu Thủy trong "Thơ trữ tình Việt Nam từ giữa thập kỉ 80 đến nay, những đổi mới cơ bản" lý giải sự hồi sinh của cái tôi cá nhân bắt đầu từ ý thức bi kịch và sám hối. Lê Lưu Oanh trong "Thơ trữ tình Việt Nam 1975 - 1990" phân tích sự khai thác chiều sâu thân phận và những bất hạnh muôn đời của người nữ. Inrasara qua các bài nghiên cứu ("Thơ nữ trong hành trình cắt đuôi hậu tố nữ & 20 tiếng thơ nữ quyền đương đại", "Song thoại với cái mới", "Thơ đổi mới, một khởi đầu mới") khẳng định ý thức vượt thoát mặc cảm thân phận của các nhà thơ nữ và sự hình thành dòng thơ nữ quyền. Nguyễn Bá Thành trong "Tư duy thơ hiện đại Việt Nam" xem khát vọng giải phóng phái tính là biểu hiện mang tính thời đại và nhân loại. Trần Mạnh Tiến trong "Thơ Việt, trên hành trình đổi mới" và Nguyễn Đăng Điệp trong bài viết "Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam" phân định ranh giới giữa hai phạm trù "tính nữ" và "nữ tính", chỉ rõ sự bùng nổ của văn học nữ sau năm 1986. Ngoài ra, hướng nghiên cứu này còn bao gồm các luận văn, luận án chuyên ngành như công trình của Hà Thị Dung ("Đặc điểm thơ nữ thế hệ chống Mỹ cứu nước"), Trần Thị Kim ("Thơ nữ Việt Nam hiện đại (Từ đầu TK XX đến nay)"), và Hồ Tiểu Ngọc ("Thơ nữ Việt Nam 1986 - 2015 nhìn từ lý thuyết giới").
Hướng nghiên cứu thứ hai đi sâu vào từng tác giả tiêu biểu. Đối với nhà thơ Ý Nhi, Hoàng Hưng nhận diện bút pháp trữ tình gián cách, cảm xúc để nguội và thơ tự do không vần; Lưu Khánh Thơ chỉ ra cấu trúc câu thơ kiệm lời, giàu suy tưởng; Chu Văn Sơn phân tích chất nghĩ, ranh giới giữa thơ và phi thơ cùng khí vị thiền. Đối với Xuân Quỳnh, các nhà nghiên cứu Lưu Khánh Thơ, Nguyễn Thị Minh Thái, Thiếu Mai, Vương Trí Nhàn, Đoàn Thị Đặng Hương, Phong Lê khẳng định vẻ đẹp của tiếng thơ nồng nàn da diết, gắn liền với khát vọng hạnh phúc đời thường. Đối với Đoàn Thị Lam Luyến, các bài viết của Phan Thị Thanh Nhàn, Thái Doãn Hiếu, Lê Hồ Quang làm rõ tâm thế người đàn bà dám bộc lộ những mất mát, đau xót trong tình ái. Đối với Dư Thị Hoàn, Lê Thiếu Nhơn, Mãng Nguyên và Inrasara đánh giá cao tập "Lối nhỏ" (1988) với tinh thần hoài nghi và sự từ bỏ lối mòn tập thể để xác lập lối đi riêng. Đối với Vi Thùy Linh, Chu Văn Sơn định danh là "thi sĩ ái quyền" với cái tôi mang nỗi lòng phức hợp; Nguyễn Đăng Điệp phân tích năng lượng yêu tận hiến; cùng các nhận xét của Nguyễn Huy Thiệp, Thụy Khuê, Nguyễn Thụy Kha, Trần Thiện Khanh, Ngô Văn Giá. Đối với Phan Huyền Thư, các bài viết của Văn Cầm Hải, Nguyễn Thụy Kha, Nguyễn Huy Thiệp ghi nhận những thể nghiệm trong tập "Nằm nghiêng". Đối với Ly Hoàng Ly, Nguyễn Việt Chiến phân tích sự kết hợp giữa ngôn ngữ thi ca và nghệ thuật thị giác, mở ra lối thơ đọc chậm.
Vị trí của luận án: Kế thừa các kết quả nghiên cứu riêng lẻ và khắc phục tính chất cục bộ của các bài viết trước đó, luận án xác lập vị trí là công trình chuyên sâu, hệ thống hóa toàn diện các chặng đường phát triển của thơ nữ sau năm 1975, phân tích đồng bộ trên cả hai trục nội dung tư tưởng và hình thức biểu đạt nghệ thuật.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận án được xây dựng từ việc tường giải các khái niệm cốt lõi:
- Khái niệm "tìm tòi": Theo Từ điển tiếng Việt, tìm tòi là việc tìm kiếm một cách công phu, kiên nhẫn để thấy ra, nghĩ ra cái khác. Theo từ điển tiếng Pháp Larousse, tìm tòi (recherche) là sự tìm kiếm; theo từ điển tiếng Anh Vdict, research là sự khám xét, khám phá, sưu tầm. Bản chất của tìm tòi là hoạt động khám phá, kiếm tìm những giá trị mới nhằm phá bỏ trạng thái tĩnh tại của thực tại sáng tạo.
- Khái niệm "cách tân": Theo Từ điển tiếng Việt, cách tân là làm cho thay đổi tốt hơn, tiến bộ hơn so với trước nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển. Từ điển tiếng Pháp định nghĩa rénovation là sự làm mới lại, cải tạo; từ điển tiếng Anh định nghĩa innovation là việc đưa vào những phương pháp, sáng kiến mới. Cách tân bao gồm việc làm mới cái cũ hoặc tạo lập cái mới hoàn toàn, bao hàm sự chuyển biến về hệ tư tưởng, quan niệm nghệ thuật và thi pháp.
- Mối quan hệ giữa tìm tòi và cách tân: Tìm tòi và cách tân là hai phạm trù độc lập nhưng gắn bó chặt chẽ. Tìm tòi là hành động tất yếu và là điều kiện cần; cách tân là kết quả của sự tìm tòi, xác lập những giá trị mới phù hợp với tâm thức của thời đại.
- Ba phương diện tìm tòi và cách tân trong thơ: Luận án xác định cách tân trong thơ ca diễn ra đồng bộ ở ba bình diện: đổi mới quan niệm về thơ (cách nhìn nhận về thế giới, con người và cái đẹp); khám phá những rung động, cảm xúc mới (đi sâu vào thế giới nội tâm chân thật); và đổi mới hình thức nghệ thuật (từ ngữ, cấu trúc, tu từ, hình ảnh, giọng điệu).
Về phương pháp nghiên cứu, luận án sử dụng kết hợp năm phương pháp nghiên cứu văn học định tính:
- Phương pháp hệ thống cấu trúc: Giúp bao quát, nhận diện và liên kết các dạng thức, đặc điểm sáng tác của các nhà thơ nữ trong một tiến trình logic xuyên suốt.
- Phương pháp phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại: Tiếp cận văn bản thơ dựa trên các quy luật biểu cảm của thể loại trữ tình để phát hiện các dấu hiệu đổi mới.
- Phương pháp loại hình: Khảo sát sự dịch chuyển loại hình văn học từ văn học cách mạng sang văn học thời kỳ đổi mới và sự tiếp cận các yếu tố của tư duy hậu hiện đại.
- Phương pháp liên ngành: Kết hợp văn học với tâm lý học, phân tâm học, xã hội học và lý thuyết giới/nữ quyền nhằm lí giải căn nguyên sáng tạo và ý thức phái tính.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Thực hiện so sánh lịch đại (đối chiếu thơ nữ sau năm 1975 với thơ ca giai đoạn kháng chiến và phong trào Thơ Mới) và so sánh đồng đại (đối chiếu thơ nữ với thơ nam giới cùng thời kỳ).
Nguồn ngữ liệu khảo sát bao gồm các tập thơ tiêu biểu của các nhà thơ nữ qua ba thế hệ sáng tác, kết hợp với hệ thống tư liệu phê bình văn học, kỷ yếu hội thảo và các bài báo chuyên ngành có liên quan.
| Phương pháp nghiên cứu |
Mục đích áp dụng trong luận án |
| Hệ thống cấu trúc |
Bao quát diện mạo và logic vận động của thơ nữ sau 1975 |
| Phân tích theo thể loại |
Làm rõ đặc trưng biểu cảm và thi pháp thể loại trữ tình |
| Loại hình |
Nhận diện bước chuyển từ văn học cách mạng sang đổi mới |
| Liên ngành |
Kết hợp xã hội học, tâm lý học, lý thuyết giới và nữ quyền |
| So sánh, đối chiếu |
So sánh lịch đại (trước - sau 1975) và đồng đại (thơ nữ - thơ nam) |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 1 tập trung giải quyết hai nội dung cơ bản: xác lập cơ sở lí luận về tìm tòi, cách tân và tổng thuật lịch sử vấn đề nghiên cứu. Tác giả điểm lại quy luật cách tân trong thơ ca qua ba chặng đường phát triển của thơ Việt Nam hiện đại:
- Nửa đầu thế kỷ XX: Phong trào Thơ Mới tạo nên cuộc chuyển đổi hệ hình thi ca từ cổ điển sang hiện đại, đưa cái tôi cá nhân thay thế cái ta cộng đồng, vận động từ khuynh hướng lãng mạn (Thế Lữ, Lưu Trọng Lư) qua tượng trưng, siêu thực (Xuân Diệu, Huy Cận, Bích Khê, Hàn Mặc Tử).
- Giai đoạn 1945 - 1975: Thơ ca gắn liền với nhiệm vụ chính trị và vận mệnh dân tộc, định hình hình tượng cái tôi công dân - chiến sĩ; đồng thời ghi nhận những tìm tòi hiện đại chủ nghĩa ở đô thị miền Nam (Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, Bùi Giáng).
- Giai đoạn sau năm 1975: Quá trình đổi mới tiếp tục với sự chuyển biến của các nhà thơ cách mạng (Nguyễn Duy, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh), sự xuất hiện trở lại của các thể nghiệm ngôn từ (Trần Dần, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng) và sự tham gia của các thế hệ tác giả mới (Dương Kiều Minh, Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Quang Thiều).
Trên nền tảng lịch sử đó, chương 1 tổng thuật chi tiết các công trình nghiên cứu chung về thơ nữ và các bài viết về những tác giả tiêu biểu (Ý Nhi, Xuân Quỳnh, Đoàn Thị Lam Luyến, Dư Thị Hoàn, Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly), chỉ rõ các ý kiến khẳng định cũng như những nhận xét phản biện về các thể nghiệm quá đà, làm cơ sở thực tiễn cho đề tài.
Chương 2: Khái quát diện mạo thơ nữ Việt Nam sau 1975
Chương 2 phác họa bức tranh toàn cảnh về thơ nữ sau năm 1975 thông qua ba nhân tố: bối cảnh lịch sử - xã hội, sự tiếp nối các thế hệ tác giả, và các quan niệm cùng xu hướng cách tân.
- Bối cảnh lịch sử, văn hóa: Sự kiện 30/4/1975 mở ra giai đoạn hòa bình thống nhất nhưng cũng đặt văn học trước những thử thách của thời kỳ hậu chiến và khủng hoảng kinh tế. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986) trở thành mốc chuyển biến quan trọng, giải phóng ý thức cá nhân và dân chủ hóa đời sống văn học, được tiếp nối bằng giai đoạn mở cửa, hội nhập quốc tế từ giữa thập niên 1990.
- Sự song hành và tiếp nối giữa các thế hệ:
- Thế hệ kháng chiến: Ý Nhi, Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mỹ Dạ tiếp tục chuyển đổi cảm xúc, đưa thơ hướng về chiều sâu đời tư và thân phận con người.
- Thế hệ đầu đổi mới: Dư Thị Hoàn, Đoàn Thị Lam Luyến, Vũ Thị Huyền, Phạm Thị Ngọc Liên mang đến tiếng nói hoài nghi, từ bỏ các khuôn mẫu tập thể, đòi quyền tự do biểu đạt cá nhân.
- Thế hệ trẻ đương đại: Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Ngọc Tư, nhóm Ngựa Trời (Thanh Xuân, Nguyệt Phạm, Phương Lan, Lynh Bacardi, Khương Hà) tiếp thu các trào lưu nghệ thuật mới, đưa thơ gắn với các thể nghiệm trình diễn, thơ thị giác và khai thác sâu ý thức phái tính.
- Sự thay đổi quan niệm thơ: Thơ không còn thuần túy là công cụ tuyên truyền mà trở thành điểm tựa tinh thần (Ý Nhi, Lê Khánh Mai), là nhu cầu giải tỏa những ẩn ức nội tâm (Phạm Thị Ngọc Liên, Phan Huyền Thư), và là phương tiện thể hiện sự dấn thân, xác lập tiếng nói chủ động của nữ giới (Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly).
- Các xu hướng cách tân: Luận án phân định hai xu hướng vận động chính là xu hướng cách tân trên nền truyền thống và xu hướng cách tân theo hướng hiện đại.
| Thế hệ nhà thơ nữ |
Tác giả tiêu biểu được khảo sát |
Đặc điểm tiếp cận và đóng góp chính |
| Trưởng thành trong kháng chiến |
Xuân Quỳnh, Ý Nhi, Lâm Thị Mỹ Dạ, Phan Thị Thanh Nhàn, Nguyễn Thị Hồng Ngát |
Chuyển đổi từ cảm hứng sử thi sang đời tư, tăng cường chất nghĩ, cảm xúc chân thành, nồng nàn |
| Xuất hiện ở chặng đầu đổi mới |
Dư Thị Hoàn, Đoàn Thị Lam Luyến, Phạm Thị Ngọc Liên, Vũ Thị Huyền, Lê Khánh Mai |
Tinh thần hoài nghi, khẳng định bản sắc cá nhân, viết về sự dại yêu, mất mát và tiếng nói nữ quyền |
| Xuất hiện từ cuối thập niên 90 |
Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Ngọc Tư, Ng.anhanh, Thúy Hạnh |
Đưa tính dục vào thơ, thể nghiệm thơ thị giác, sắp đặt, trình diễn, giải phóng cấu trúc và ngôn từ |
Chương 3: Những đổi mới về cảm hứng và cái tôi trữ tình trong thơ nữ Việt Nam sau 1975
Chương 3 đi sâu phân tích hai trục nội dung trọng tâm của luận án:
- Đổi mới về cảm hứng trữ tình:
- Cảm hứng về đời thường: Rời xa những chủ đề anh hùng ca rộng lớn, thơ nữ quay về với những chiều kích thường nhật của đời sống gia đình, những nỗi lo toan cơm áo, sự bấp bênh và những trạng thái tâm lý vụn vặt nhưng mang tính bản thể.
- Cảm hứng về phận vị người nữ: Đi sâu vào nỗi bất hạnh, bi kịch, sự cô đơn và những tổn thương sâu kín của người phụ nữ trong xã hội, thể hiện khát vọng tự giải phóng khỏi các định kiến giới.
- Cảm hứng về tình yêu: Tình yêu trong thơ nữ không còn là sự hy sinh thầm lặng một chiều mà được nhìn nhận toàn diện với đầy đủ các cung bậc đam mê, đổ vỡ, ghen tuông, sự cuồng nhiệt và khát khao gắn liền với đời sống thân xác, nhục cảm.
- Đổi mới về cái tôi trữ tình:
- Từ cái tôi công dân sang cái tôi cá thể: Chuyển dịch từ việc nhân danh cộng đồng, đất nước sang tiếng nói riêng tư của cá nhân, dám phơi bày những yếu đuối, hoang mang và sám hối của bản thân.
- Từ cái tôi tòng thuộc sang cái tôi tự chủ: Người phụ nữ trong thơ xác lập tâm thế chủ động, tự quyết định số phận, tình yêu và hạnh phúc, không còn phụ thuộc vào cái nhìn hay sự định đoạt của nam giới.
- Từ cái tôi đơn nhất sang cái tôi đa ngã: Cái tôi trữ tình không còn nguyên phiến mà phân rã thành nhiều mặt đối lập, đa diện, phức hợp, chứa đựng những xung đột nội tâm gay gắt giữa khát vọng và thực tại.
Chương 4: Những tìm tòi và cách tân về hình thức nghệ thuật trong thơ nữ sau 1975
Chương 4 khảo sát các thể nghiệm hình thức trên bốn bình diện:
- Cấu trúc thơ: Thực hiện tự do hóa cấu trúc câu thơ và bài thơ; phá vỡ các quy tắc ngắt nhịp và vần điệu cố định; xuất hiện các thể nghiệm cấu trúc mới như lối thơ ngắn, câu ngắn khước từ tiết điệu của Dư Thị Hoàn; thơ văn xuôi của Ý Nhi; và hình thức thơ thị giác, thơ sắp đặt, trình diễn của Ly Hoàng Ly.
- Ngôn ngữ thơ: Sử dụng các thao tác lạ hóa ngôn ngữ nhằm làm mới năng lực biểu đạt của từ ngữ; hình thành hệ thống ngôn ngữ đậm màu sắc phái tính, biểu đạt trực diện các trạng thái cơ thể, xúc giác và những trải nghiệm giới tính vốn từng bị xem là vùng cấm kỵ.
- Hình ảnh thơ: Đổi mới các hình ảnh biểu tượng quen thuộc của thiên nhiên, tình yêu theo hướng đa nghĩa; sáng tạo hệ thống hình ảnh mới mang tính siêu thực, trừu tượng, gia tăng sức gợi và khả năng liên tưởng đa chiều cho người đọc.
- Giọng điệu thơ: Luận án phân tích sự hình thành của ba sắc thái giọng điệu chủ đạo: giọng trầm tư sâu lắng gắn liền với chất suy tưởng, triết lý; giọng giễu nhại chua chát thể hiện thái độ phản biện trước thực tại; và giọng đối thoại tỉnh táo, thẳng thắn trong việc giải quyết các vấn đề cá nhân và xã hội.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án xác định năm đóng góp khoa học cụ thể về mặt lý luận và thực tiễn:
- Đóng góp về hệ thống lý luận: Luận án là công trình khoa học chuyên sâu về những đóng góp của thơ nữ sau năm 1975; dựa trên khung lý thuyết về tìm tòi và cách tân, công trình mang lại cái nhìn rõ nét về diện mạo đổi mới của thơ nữ trong tiến trình vận động của thơ Việt Nam hiện đại.
- Đóng góp về phương diện nội dung: Hệ thống hóa những chuyển biến căn bản của cảm hứng trữ tình và cái tôi trữ tình; lí giải các yếu tố xã hội và tư tưởng tác động đến sáng tác của tác giả nữ, đặc biệt là ảnh hưởng của ý thức nữ quyền và ý thức phái tính.
- Đóng góp về phương diện hình thức: Chỉ ra những tìm tòi, cách tân cụ thể trên bốn bình diện hình thức nghệ thuật (cấu trúc, hình ảnh, ngôn ngữ, giọng điệu), phản ánh nỗ lực đổi mới tư duy sáng tạo của các nhà thơ nữ.
- Đóng góp về hướng tiếp cận: Đưa ra góc nhìn nghiên cứu khách quan, khoa học trong việc kiến giải các giá trị và thành tựu của thơ nữ, tạo cơ sở thẩm định đối với cả những hiện tượng thơ mới lạ, gây tranh cãi trên thi đàn đương đại.
- Ý nghĩa thực tiễn: Cung cấp nguồn tư liệu khoa học có hệ thống phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy tác phẩm của các nhà thơ nữ sau năm 1975 trong chương trình văn học tại các trường đại học và phổ thông.
Về mặt giải pháp và kiến nghị, luận án đề xuất giới nghiên cứu phê bình cần có cái nhìn cởi mở, khách quan trước các thể nghiệm nghệ thuật mới; chấp nhận sự va đập của các xu hướng thẩm mỹ khác nhau nhằm tạo động lực phát triển cho thi ca; đồng thời tiếp tục hoàn thiện các tiêu chí đánh giá phù hợp với đặc trưng của văn học thời kỳ hội nhập.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của công trình: Căn cứ theo phạm vi xác định trong văn bản, luận án giới hạn việc khảo sát ở một số tác giả và tác phẩm tiêu biểu đại diện cho ba thế hệ sáng tác, chưa thể bao quát toàn bộ mọi gương mặt thơ nữ xuất hiện trên các địa bàn cả nước từ sau năm 1975 đến nay. Một số hiện tượng thơ nữ hải ngoại (như trường hợp Nguyễn Thị Hoàng Bắc) hay các nhóm sáng tác đặc thù (như nhóm Ngựa Trời tại miền Nam) mới chỉ dừng lại ở mức độ dẫn chứng, phân tích diện mạo mà chưa khảo cứu toàn diện hệ thống văn bản. Ngoài ra, các hình thức thể nghiệm giao thoa liên ngành như thơ thị giác và thơ trình diễn chỉ mới được tiếp cận chủ yếu qua trường hợp của Ly Hoàng Ly.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng diện khảo sát sang các tập thơ mới xuất bản của các tác giả nữ trẻ thuộc thế hệ đương đại gần đây.
- Khảo cứu chuyên sâu mảng thơ nữ Việt Nam ở hải ngoại trong mối tương quan so sánh với thơ nữ trong nước.
- Đi sâu phân tích sự tác động của không gian mạng xã hội, văn hóa truyền thông số và các hình thức trình diễn nghệ thuật đương đại đối với sự thay đổi thi pháp thơ nữ Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Ngữ văn, Văn học Việt Nam, Lý luận văn học và Văn học so sánh khi tìm kiếm khung lý thuyết về tiến trình hiện đại hóa thi ca và phương pháp phân tích tác phẩm trữ tình.
- Giảng viên đại học, cao đẳng và giáo viên Ngữ văn tại các trường trung học phổ thông trong việc biên soạn bài giảng, xây dựng chuyên đề học tập về các tác gia thơ tiêu biểu sau năm 1975 như Xuân Quỳnh, Ý Nhi, Lâm Thị Mỹ Dạ, Dư Thị Hoàn, Vi Thùy Linh.
- Các nhà nghiên cứu xã hội học văn hóa, nghiên cứu giới và nữ quyền cần tư liệu văn học để đối sánh với các chuyển biến về nhận thức giới tính và vị thế của người phụ nữ trong xã hội Việt Nam thời kỳ đổi mới.
Các phần có giá trị tham khảo cao nhất trong luận án gồm: hệ thống phân loại ba thế hệ thơ nữ sau năm 1975; mô hình phân tích sự chuyển biến ba chiều của cái tôi trữ tình (công dân - cá thể, tòng thuộc - tự chủ, đơn nhất - đa ngã); và hệ thống ngữ liệu về các hiện tượng tranh luận phê bình văn học xung quanh thơ trẻ đương đại.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân chia các thế hệ nhà thơ nữ Việt Nam sau năm 1975 như thế nào?
Luận án khảo sát đối tượng qua ba thế hệ tác giả tiêu biểu:
- Thế hệ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ: Xuân Quỳnh, Ý Nhi, Phan Thị Thanh Nhàn, Lâm Thị Mỹ Dạ, Nguyễn Thị Hồng Ngát.
- Thế hệ xuất hiện ở chặng đầu thời kỳ đổi mới: Phạm Thị Ngọc Liên, Lê Thị Mây, Đoàn Thị Lam Luyến, Dư Thị Hoàn, Lê Khánh Mai, Vũ Thị Huyền.
- Thế hệ xuất hiện từ nửa cuối thập niên 1990 đến nay: Phan Huyền Thư, Nguyễn Phan Quế Mai, Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Ngọc Tư, Từ Huy, Ng.anhanh, Lữ Thị Mai, Như Quỳnh de Prelle, Nguyễn Thị Thúy Hạnh.
2. Luận án phân biệt hai khái niệm "tìm tòi" và "cách tân" dựa trên các căn cứ nào?
Dựa trên Từ điển tiếng Việt và các từ điển tiếng Pháp (Larousse), tiếng Anh (Vdict), luận án chỉ rõ:
- Tìm tòi (recherche / research) là hành động khám phá, kiếm tìm cái mới một cách công phu để phá bỏ thế tĩnh tại của hiện hữu, phụ thuộc chủ yếu vào ý thức chủ quan của người viết.
- Cách tân (rénovation / innovation) là kết quả của sự khám phá, bao hàm việc làm mới cái cũ hoặc tạo lập cái mới hoàn toàn, tác động toàn diện lên hệ tư tưởng, quan niệm thẩm mỹ và hình thức nghệ thuật. Tìm tòi là điều kiện cần của cách tân, nhưng không phải mọi tìm tòi đều dẫn đến cách tân thực sự.
3. Sự đổi mới của cái tôi trữ tình trong thơ nữ sau năm 1975 diễn ra theo những chiều hướng nào?
Luận án chỉ ra ba bước chuyển biến căn bản của cái tôi trữ tình:
- Từ cái tôi công dân sang cái tôi cá thể: giải phóng cá nhân khỏi sự hòa tan vào cộng đồng để bộc lộ thế giới nội tâm riêng tư.
- Từ cái tôi tòng thuộc sang cái tôi tự chủ: khẳng định quyền chủ động của người phụ nữ trong đời sống, tình cảm và sáng tạo.
- Từ cái tôi đơn nhất sang cái tôi đa ngã: phản ánh bản thể nội tâm phức tạp, đa chiều với nhiều mâu thuẫn và trăn trở.
4. Những bình diện hình thức nghệ thuật nào được tác giả phân tích để làm rõ sự cách tân của thơ nữ?
Sự cách tân hình thức nghệ thuật được khảo cứu tập trung qua bốn bình diện:
- Cấu trúc thơ (tự do hóa hình thức, cấu trúc thơ ngắn, thơ văn xuôi, thơ thị giác, sắp đặt).
- Ngôn ngữ thơ (thủ pháp lạ hóa ngôn từ, ngôn ngữ đậm màu sắc phái tính và nhục cảm).
- Hình ảnh thơ (làm mới biểu tượng quen thuộc, sáng tạo hình ảnh siêu thực, trừu tượng).
- Giọng điệu thơ (giọng trầm tư sâu lắng, giọng giễu nhại, giọng đối thoại tỉnh táo).
5. Những ghi nhận và giải thưởng quốc tế nào của các nhà thơ nữ được nêu trong luận án?
Văn bản luận án ghi nhận một số dấu mốc tiêu biểu:
- Nhà thơ Ý Nhi là tác giả Việt Nam đầu tiên được trao giải thưởng Cikada của Thụy Điển vào năm 2015.
- Nhà thơ Nguyễn Phan Quế Mai là tác giả Đông Nam Á đầu tiên có tập thơ in trong chuỗi ấn phẩm Lannan Translations Selection Series của Hoa Kỳ vào năm 2014.
- Nhà thơ Vi Thùy Linh là tác giả trẻ thực hiện các chuyến lưu diễn thơ tại Pháp và châu Âu, được mời tổ chức đêm thơ riêng tại Paris mang tên "Tình tự Hà Nội".
- Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ có tập thơ "Khoảng trời hố bom" (1972) được dịch và xuất bản tại Hoa Kỳ.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Thơ nữ Việt Nam sau 1975 những tìm tòi và cách tân" của tác giả Lê Thùy Nhung là công trình nghiên cứu toàn diện, xác lập bức tranh tiến trình của thơ ca phái nữ Việt Nam qua ba thế hệ sáng tác từ sau ngày hòa bình thống nhất. Công trình đã làm sáng tỏ sự chuyển dịch sâu sắc của cảm hứng trữ tình và cái tôi trữ tình dưới tác động của hoàn cảnh lịch sử, công cuộc đổi mới và ý thức nữ quyền. Trên phương diện nghệ thuật, luận án đã phân tích có hệ thống những tìm tòi về cấu trúc, ngôn ngữ, hình ảnh và giọng điệu, phản ánh sự biến chuyển trong tư duy sáng tạo của các nhà thơ nữ. Kết quả nghiên cứu cung cấp nguồn ngữ liệu học thuật có độ tin cậy cao, đóng góp thiết thực vào việc thẩm định các giá trị của thơ ca Việt Nam đương đại.