mở đầu cho một thời kì đổi mới thực sự. Đảng đã chủ trương phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước là một quyết sách đúng đắn, có tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có văn hóa, văn học. Nghị quyết 05 về văn hóa văn nghệ, đã thực sự mở ra bầu không khí 16 Tiểu thuyết của Khuất Quang Thuy trong tiến trình đổi mới tiểu thuyết viết vê chiến tranh mới cho các nhà thơ, nhà văn. Sự khai mở về tư tưởng cũng như những điểm tựa tinh thần vững chắc từ Đảng đã kích thích niềm say mê sáng tạo, thỏa mãn khát vọng giải phóng, tự do của văn nghệ sĩ.
Đến giai đoạn này, tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh vẫn còn cảm hứng sử thi như: Ông cé vấn, Hồ sơ một điệp viên của Hữu Mai, Sao đổi ngôi của Chu Văn, Đường về Sài Gòn của Nam Hà, Người cùng quê của Phan Tứ. Nhưng nói chung, diện mạo của văn xuôi và tiêu thuyết giai đoạn này van do cảm hứng mới quyết định. Cảm hứng chủ đạo trong những năm đầu đôi mới này là “cảm hứng chống tiêu cực khơi dậy một trao lưu mạnh mẽ, ồn ào, thu hút đông đảo người viết và có sức hấp dẫn rất lớn” [4. Ở những năm đầu thập kỷ 90 là sự nở rộ của tiêu thuyết cũng vẫn về đề tài chiến tranh và người lính, tuy nhiên, nó là cái nhìn nhận thức lại một số giá trị, chuẩn mực ứng xử của thời đã qua, nhìn nhận về thực tế chiến tranh và hình tượng người lính trong chiến tranh và trong thời bình.
Các tiểu thuyết gây ấn tượng lớn thời điểm này là Nổi budn chiến tranh của Bảo Ninh còn đưới cái tên Thân phận của tình yêu, Thời xa vắng của Lê Lựu, Ăn mày đĩ vãng của Chu Lai, Chim én bay của Nguyễn Tri Huân, v. cho thấy sự đổi mới lớn từ cái nhìn của chủ thể sáng tạo. Tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh đặc biệt có được sự quan tâm lớn của dư luận cả trong và ngoài nước. Hiém có tác phẩm viết về chiến tranh nào mà lại đề cập đến nhiều mặt, nhiều phương diện một cách gọn nhẹ như Nỗi buồn chiến tranh.
Phong Lê nhận xét: “Nổi buôn chiến tranh gợi ra cho chúng ta những suy nghĩ mới cho tiêu thuyết về dé tài chiến tranh và người lính. Ở đây người đọc thấy được sự dữ đội, khốc liệt của cuộc chiến đấu trên chiến trường, sự chịu đựng đến mức ghê gớm, cái giá của chiến công và chiến thăng cuối cùng, bi kịch của người lính thời hậu chiến. Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đã nhận xét về sự biến đôi đáng kể của tư duy văn học sau 1975 đang ở vào một thời kì mới, “thời kì hứa hẹn một sự khám phá và tái hiện hình tượng con người nhiều mặt trong tat cả chiều sâu phong phú của nó”. Trong đó, “một trong những tên tuổi không thé không nhắc đến đó là Bảo Ninh”[42; tr 215] 17 Tiểu thuyết của Khuất Quang Thuy trong tiến trình đổi mới tiểu thuyết viết vê chiến tranh Như vậy, chúng ta có thể khăng định sự nở rộ của khuynh hướng nhận thức lại, chứ không phải phủ nhận những thành quả của giai đoạn văn học trước 1975 đã đạt được.
Bên cạnh việc khẳng định giá trị đích thực của chiến tranh chính nghĩa đồng thời cũng vén lên những mặt trái, những bi kịch, những mặt khuất lấp chưa được khai thác trong tiểu thuyết viết về chiến tranh trước đây. Giai đoạn này tiêu thuyết đã thực hiện nhiệm vụ của mình trên những mặt đó. Tuy nhiên chúng ta không nhìn nhận cực đoan về những mat mát, hi sinh, những tổn thất to lớn mà phải thấy đó là mặt tất yếu, tôn thêm giá trị của chiến thắng và vinh quang. Sự đổi mới cả trên phương diện nội dung và nghệ thuật của tiêu thuyết viết về chiến tranh giai đoạn này đã khăng định dòng chảy không ngừng tiếp nối của tiểu thuyết viết về chiến tranh.
Nó “như cái đuôi sao chổi” cứ sáng mãi dé lại dư âm vang mãi dù chiến tranh kết thúc đã lâu. Nhưng lịch sử nào mà chang dé lại cho thế hệ sau những suy nghĩ, những bài học và niềm cảm hứng sáng tạo vô tận.2 Giai đoạn văn học từ những năm 90 đến nay Sau cao trào văn học từ giữa những năm 90 đến nay, tiêu thuyết viết về chiến tranh có phần chững lại. Nguyên nhân cũng dễ nhận thấy, một phan tiểu thuyết vận hành theo guồng quay của cuộc sống xã hội; thế hệ các nhà van đi ra từ chiến tranh ngày càng thưa dan trong khi các cây viết trẻ chưa chuẩn bị thay thế; tiểu thuyết phát triển mạnh và gây được nhiều chú ý hơn từ nhiều mảng đề tài phức tạp của cuộc sống. Tuy nhiên, với mảng tiêu thuyết viết về chiến tranh vẫn như một dòng chảy âm i, vẫn là một mảng dé tài được quan tâm chú ý đặc biệt với những nhà văn mặc áo lính.
Họ viết là để trả món nợ với đồng đội và quá khứ với rất nhiều tác phẩm như: Không phải huyền thoại của Hữu Mai, Ngày rất dài của Nam Hà, Xuân Lộc của Hoàng Đình Quang, Khúc bi tráng cuối cùng của Chu Lai, Những cánh rừng lá đỏ của Hồ Phương, Đường thời đại của Đặng Đình Loan, Sóng chìm của Nguyễn Đình Chính, Rừng thiêng nước trong của Trần Văn Tuan, Lạc Rừng của Trung Trung Đỉnh, Xiéng khoảng mù sương của Bùi Bình Thi, Phong tuyến sông Bồ của Đỗ Kim Cuông, Những bức tường lửa, Đối chiến của Khuất Quang Thụy, Mùa hè giá buốt của Văn Lê, Tiếng khóc nàng Ut của Nguyễn Chi Trung, Thượng Đức 18 Tiểu thuyết của Khuất Quang Thuy trong tiến trình đổi mới tiểu thuyết viết vê chiến tranh của Nguyễn Bảo, Bên dòng Sâu Diện của Nguyễn Đình Tú, Chân trời mùa hạ của Hữu Phương,. Nhìn chung, các tiêu thuyết viết về chiến tranh đã có sự đổi mới “ngoài cảm hứng anh hùng ca nó còn được chỉ phối bởi cảm hứng đời tư, mà cụ thể là các nhà tiểu thuyết rất có ý thức sử dụng chất liệu đời tư cá nhân làm cho tác phẩm gần với cuộc sông hơn, sinh động hơn” [57; tr. Nhân vật người lính đã “đời thường” hơn, hình ảnh của họ vừa “còn vương khói lửa chiến trường” vừa là những con người bình dị. Họ không còn trong xu hướng “phong thánh” mà xuất hiện với một con người toàn diện từ con người lý trí đến con người tình cảm, những khát khao bản năng rất đời thường của con người đã được mô tả và soi chiếu dưới cái nhìn thực tế và nhân văn.
Nhìn trong đại thể, con người trong tác phâm chiến tranh tồn tại và xuất hiện trên một góc nhìn toàn diện, đa chiều và đặt ra rất nhiều tình huống trong điều kiện của chiến tranh tất yêu hình thành nên họ. Ho dũng cảm, kiên cường, gan góc. nhưng họ cũng có những con người hèn nhát, xấu xa, ích kỉ và bị tha hóa bởi hoàn cảnh chiến tranh. Những nhân vật ấy là người lính, người con, người em, người anh, là bạn, là đồng đội, là tình thương yêu là niềm tự hào, là nỗi xót xa.
Mọi cung bậc cảm xúc của con người trong chiến tranh đều đã được các tác phẩm giai đoạn này đề cập nhưng cách giải quyết của các tác giả đậm nhạt trong mỗi tác pham là khác nhau. Một điểm rất đáng chú ý nữa đó chính là nhân vật kẻ thù trong các tác phẩm viết về đề tài chiến tranh. Tiểu thuyết trước năm 1975 miêu tả nhân vật kẻ thù theo bút pháp “hiện thực tàn nhẫn”, phân định rạch ròi là kẻ thù thì tàn ác, ngu dốt, hiểm độc. Nhân vật kẻ thù trong các tác phẩmở giai đoạn trước thời kỳ đổi mới là một khuôn mẫu chung, đơn giản, sơ lược.
Nhưng từ sau đôi mới và đặc biệt đến giai đoạn này các nhà tiểu thuyết với cái nhìn “hiện thực tỉnh táo” đã miêu tả hình ảnh của kẻ thù có sức sông, đa chiều hơn và cũng có đời sống riêng. Tiêu biéu như một số bộ tiểu thuyết của Nguyễn Trọng Oánh trong Dat trang và Mây cuối chân trời, Thượng Đức của Nguyễn Bảo, hay mới đây nhất là Đối chiến của Khuất Quang Thụy,. Nhân vật ở phía bên kia chiến tuyến hiện lên khá toàn ven. Với bước di 19 Tiểu thuyết của Khuất Quang Thuy trong tiến trình đổi mới tiểu thuyết viết vê chiến tranh của thời gian, từng bước đi là từng bước trưởng thành của các nhà tiêu thuyết trong cách nhìn nhận và đánh giá các giá trị của lịch sử và chiến tranh.
Một quá trình đã đủ dài từ kẻ thù độc ác, xấu xa đã có những nhân vật thật hơn, trong bản thân con người họ cũng đôi lúc sáng lên tình người. Càng lùi về sau, chúng ta càng thấy được, hiểu hơn về kẻ thù, cũng thiện chiến, cũng có ly tưởng, cũng có tình yêu thương, có gia đình. Tư duy tran thuật trong tiêu thuyết đã có sự đa dạng hóa điểm nhìn thay cho tiêu thuyết trước đôi mới là tiêu thuyết đơn thanh. Người trần thuật thường dẫn dắt câu chuyện với các điểm nhìn có định, trần thuật thường đi theo ngôi thứ ba, khách quan, biết tuốt vì thé mà không thé đi sâu vào những diễn biến tâm trạng, những suy nghĩ trăn trở của cá nhân, những biến cố của cá nhân nhân vật mà chủ yếu chú trọng vào hành động và sự kiện lịch sử.
Da dang hóa điểm nhìn đã giúp tiểu thuyết tạo nên tính đa thanh, lời văn thì đầy sự tranh biện, có tính chất lưỡng thê, như đối thoại với bạn đọc. Nó đã có điểm khác biệt (đa phần thường mượt mà, êm đềm và yên tĩnh) của tiểu thuyết về chiến tranh thời kì trước đổi mới. Tuy vậy, ở thời kỳ tiểu thuyết đương đại, chúng ta đang đón đợi những tác phẩm xứng tầm với ba mươi năm dài nhân dân ta chiến dau giải phóng, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc. Đồng thời chúng ta cũng nhận thấy tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh có chững lại chứ không hề vắng bóng.
Mạch nguồn chảy mãi này là sự tiếp nối truyền thống và cũng có thé coi đó là sự tập luyện cho những tác pham sau này đáp ứng được tầm vóc cũng như ý nghĩa của công cuộc giải phóng dân tộc. Nhưng trước hết, với thực tại tiểu thuyết về dé tài này đã đạt được những thành qua đáng chú ý, từ mở rộng biên độ hiện thực, những quan niệm về người lính trong chiến tranh và nghệ thuật kế chuyện đã đổi mới, linh hoạt.