CHƯƠNG 1 DIEN MAO VÀ CÁC KHUYNH HƯỚNG CUA TIỂU THUYET VE DE TAI CHIEN TRANH GIAI DOAN 1975 - 1985 1. Nhìn lai chặng đường của tiểu thuyết những năm chống Mi cứu nước. Nói đến chiến tranh là nói đến máu lửa, chết chóc, sự tàn phá, sự hi sinh và muôn ngàn hậu quả đau đớn khác. Đất nước Việt Nam, con người Việt Nam, hơn ai hết đều cảm nhận rõ ràng và sâu sắc điều này; bởi lẽ, lịch sử dân tộc ta đã phải trai qua biết bao cuộc chiến tranh dé bảo vệ đất nước.
Song cũng chính từ những năm tháng “khổ nhục nhưng vi đại ” ấy, đội ngũ những nhà văn - những “thu ki trung thành của thời dai” đã kip thời phản anh một cách chân thực và xúc động những hình ảnh khác nhau về đất nước và con người Việt Nam trong chiến tranh. Chúng ta không thé nào quên sự kiện ngày 5 tháng 8 năm 1964, tiếng súng chống Mĩ ở miền Bắc đã nỗ và đóng một dấu mốc quan trọng của thời kì cả nước có chiến tranh. Và trong khoảnh khắc ấy, tiếng gọi thiêng liêng của của Tổ quốc như cùng trỗi dậy trong muôn vàn trái tim của thanh niên Việt Nam, thôi thúc họ lên đường vào tuyến lửa. Trong đội ngũ trùng trùng điệp điệp của những đoàn quân đang “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, có không ít những nhà văn mà họ vừa cầm súng chiến đấu vừa cô vũ động viên chiến sĩ bằng những trang viết của mình.
Bên cạnh những thé loại di đầu như kí sự và thơ ca, tiểu thuyết những năm chống Mĩ cũng góp một tiếng nói riêng, âm hưởng riêng tạo ra một dấu ấn đậm nét cho thê loại tiểu thuyết về đề tài chiến tranh.1 Sự mở rộng dung lượng phản ánh và qui mô của tiểu thuyết. Trong khoảng hơn mười năm kể từ 1964, khi cả nước bước vào cuộc khang chiến chống Mi cứu nước, văn học của chúng ta luôn đứng ở mũi nhọn chiến đấu, bám sát và phục vụ những nhiệm vụ chính trị. Các sáng tác văn học đặc biệt là tiểu thuyết đều có găng phản ánh những diễn biến cực kỳ mau le cud cuộc kháng chiến, rút ngăn được khoảng cách vốn thường có giữa văn học và sự kiện lịch sử. Những nhà văn hầu hết đều là những người lính, họ có mặt ở các chiến dịch, các mặt trận; họ vừa chiến đấu vừa cô vũ đồng đội chiến dau bằng những tác phẩm văn học của mình.
Họ đã viết bằng tất cả nguồn cảm xúc còn vẹn nguyên nơi chiến trường với mong muốn tái hiện thật đầy đủ, thật chỉ tiết những diễn biến của cuộc chiến đấu. Chính vì thế, nhiều tiểu thuyết giai đoạn này còn mang tính kí sự, nặng về “kế”, “tả”. Nhưng đặc điểm nồi bật dé nhận thấy hơn cả chính là sự mở rộng dung lượng phan ánh và qui mô của tiêu thuyết. Các tác phâm thời kì này viết về nhiều chiến trường, nhiều mặt trận, nhiều quân binh chủng khác nhau cung cấp cho người đọc một bức tranh tổng hợp vé sự trưởng thành vượt bậc của quân đội.
Nếu như Vùng trời của Hữu Mai viết về không quân thì Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu viết về các binh chủng trong một chiến dịch chiến đấu lớn với bộ binh. Nếu Chiến sĩ là chuyện kể của một chiến sĩ xe tăng quân giải phóng thì Những người cùng tuyên việt về những người chiên sĩ trên tuyên đường vận chuyên ra tuyên tuyến. Ngoài ra, chúng ta còn có Man và rồi của Phan Tứ, Chớp trang của Thu Bồn, hai nhà văn miền Nam viết về các chiến sĩ quân giải phóng. Trong loạt tiêu thuyết này, sự mở rộng dung lượng phản ánh còn thé hiện ở chỗ, lần đầu tiên người lính được đặt trong bối cảnh rộng lớn của đất nước, gắn hậu phương với chiến trường; gắn số phận một người với nhiều nguoi, người tuyến trước với người tuyến sau, lớp già va lớp trẻ.
Lan đầu tiên người lính chống Mĩ được phản ánh như những nhân vật chính của đời sống, được đặt ở trung tâm xoáy động của một thời kì lịch sử chứ không phải chỉ ở chiến trường. Bề rộng phản ánh ấy còn ở chỗ tiểu thuyết đã trình bày những mang hiện thực chiến đấu khá đặc biệt: đó là những con đường trong mây, những trận chiến dau vượt biển. Hậu phương Xã hội chủ nghĩa vững vàng và lớn lên trong chiến tranh cũng được văn học chú ý đúng mức hơn qua các tác pham Đá: lang (Nguyễn Thị Ngọc Tú) va Vùng qué yên tinh (Nguyễn Kiên). Có thé thay ở giai đoạn này, văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng thé hiện được sự phong phú, da dang trong cách chiếm lĩnh dé tài và phản ánh nó một cách sinh động.
Chiến tranh — một van đề không mới song các nhà văn đã làm mới nó băng cách mở rộng dung lượng phản ánh, đem dến cho văn học Việt Nam những diện mạo mới mẻ, đặc sắc. Sự phát triển về chiều sâu nhận thức và phản ánh hiện thực chiến tranh. Hiện thực chiến tranh, cụ thể là cuộc chiến tranh chống Mĩ là một vấn đề rất lớn mà muốn tái hiện được bức tranh toàn cảnh của hiện thực, cần phải dựng lên diện mạo của nó mang tính chất tổng hợp: đó là cai dit đội, khắc nghiệt, cái anh hùng vô cùng đẹp dé, những hi sinh to lớn, những chặng đường vô cùng gian khổ, những chiến công vang dội. Nhận thức của con người thời kì chống Mĩ cũng phải đặt trong tương quan biện chứng với hiện thực đa dạng trên, tái hiện sinh động những tác động qua lại hết sức tỉnh vi và phức tạp giữa con người và hiện thực.
Đề làm được điều đó, văn học thời kì này không thê chỉ đơn thuần mở rộng dung lượng phản ánh bằng tông số những sự kiện, biến cố chiến tranh, tong số hành động mà cần phải vẽ cho ra được sự vận động biện chứng bên trong con người và hành động. Tiểu thuyết những năm chống Mĩ đã phần nao cho thay khuynh hướng muốn tìm tòi, lí giải những vấn đề xã hội, nói cách khác là đã có sự phát triển về chiều sâu nhận thức và phản ánh hiện thực chiến tranh, về xây dựng tính cách nhân vật. Cuộc chiến đấu của chúng ta là một sự sàng lọc nghiêm ngặt và vĩ đại những con người. Không có sự lẫn lộn vàng thau, trắng đen, tốt xấu trước những thử thách quyết liệt trong chiến tranh.
Những cặn bã, dối trá, hèn nhát, thoái hoá đã bị sang lọc ra từ chiến tranh; những cái anh hùng, cao cả, đẹp đẽ được bộc lộ với tất cả tính chất và màu sắc của nó. Để đạt tới chiều sâu của tác phẩm, cần sự thong nhất nhuan nhuyễn giữa việc miêu tả hiện thực với quá trình phân tích va lí giải hiện thực. Chiến tranh là một hiện tượng xã hội đặc biệt, không bình thường trong tiến trình cuộc sống, vì thế hiện thực chiến tranh thường không tương đồng với hiện thực đời sống sau chiến tranh và những van đề cụ thé đặt ra cho con người trong chiến tranh cũng rất khác biệt với những vấn đề của con người trong đời sống bình thường. Đề cho việc miêu tả chiến tranh thực sự có tác động đối với hiện tại, các tác giả thường xuyên phải xử lý những vấn đề “xuất phát từ những yêu cầu của hiện tại, tìm ra trong hiện thực chiến tranh những vẫn đề gặp gỡ với hiện tại, những mối liên hệ trực tiếp hay gián tiếp giữa quá khứ chiến tranh và thực tại hiện nay.
Nếu chỉ dừng lại ở việc miêu tả bề mặt của chiến tranh với tổng sé những su kiện, biên cô va quá trình cua nó thì chắc chan rang sẽ không tim thay sự gặp gỡ và những mối liên hệ ay” - (Dinh Xuân Dũng). Bởi vậy, sự dao sâu hơn nữa, sự tổng hợp cao hơn nữa trong sáng tạo đã cho thấy sự phát triển về chiều sâu nhận thức và phản ánh hiện thực chiến tranh. “ Cùng với việc tổng hợp diện phản ánh chiều rộng của hiện thực, yêu cầu quan trọng hơn là tổng hợp bằng cách đào sâu vào cốt lõi của hiện thực làm bật lên những van dé máu thịt cua nó”- (Lê Ba Suy, Dinh Xuân Dũng). Cuộc chiến đấu chống Mi của chúng ta đã đặt ra những van dé sâu sắc có tính thời đại và từ đó người ta đã rút ra rất nhiều những kết luận, những chân lý mà con người và thời đại đang rất quan tâm.
Chiều sâu của tác phâm về đề tài chống Mĩ có liên quan mật thiết với việc lý giải con người tham gia chiến tranh. Việc lý giải này bao gồm nhiều mặt, song chủ yếu hơn cả là đi sâu vào thế giới tinh thần của con người. Nhiều van dé của cuộc chiến dau, những khía cạnh của chủ đề tác phẩm trước đây, nay lại được đặt lại với cái nhìn sâu sắc hơn và sự lý giải thuyết phục hon. Chang han van đề hai thế hệ cha và con từ Vào lira quán xuyên sang Dau chân người lính, Man và tôi.
Còn Cửa sông và Vùng trời tuy cốt truyện rất khác nhau nhưng đều nói lên một chân lý: cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc đã làm cho mỗi người cố gắng vượt lên những giới hạn của chính mình, trở thành tốt đẹp hơn và do đó mà họ đang xích lại gần nhau, xiết chặt đội ngũ lại vì một mục tiêu cao cả đó là: Tổ quốc thong nhat, Bac Nam sum họp một nha. Nhìn chung, văn học viết về chiến tranh của chúng ta đã cố gắng di từ việc mô tả, tái tạo lại những bức tranh về chiến tranh đến việc vươn lên tìm tòi đề đặt ra và lý giải những vấn đề đạo đức, triết lý, tâm lý của con người nảy sinh trong chiến tranh. Giải quyết tốt van dé này chính là việc xử lý một tương quan biện chứng của một quá trình sáng tạo: tương quan giữa việc mở rộng dung lượng hiện thực với việc đạt tới một chiêu sâu nhận thức và phản ánh hiện thực chiên tranh. Cảm hứng ngợi ca mang đậm tính chất sử thi.
Cách mạng tháng Tám (1945) thành công đã mở ra một thời đại mới trong lịch sử dân tộc, một giai đoạn mới cho văn học Vệt Nam. Hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ là hai chặng đường của giai đoạn văn học mới ấy. Ở từng chặng, văn học nói chung, tiêu thuyết nói riêng có những đặc điểm về trình độ cũng như quy mô khác nhau, song nhìn chung đặc trưng thé hiện hình tượng ở ca hai chặng này đều tương đối thống nhất. Do là, cảm hứng anh hùng ca (sử thi) bao trùm lên mọi sáng tạo nghệ thuật.