mở đầu bài thơ “Từ ấy” tác giả Tố Hữu đã sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ “mặt trời chân lý”. Mặt trời trong tự nhiên chiếu những tia nắng toả sáng cho muôn loài cũng giống như ánh sáng của Đảng, chân lý của Đảng đã giúp Tố Hữu giác ngộ và nhận ra niềm vui lớn, tình cảm lớn và lẽ sống lớn của đời mình. Hay ví dụ trong văn học dân gian: Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai (Ca dao) Trong câu ca dao này, người phụ nữ trong xã hội phong kiến đã tự ý thức được vẻ đẹp và giá trị của mình ( thông qua hình ảnh tấm lụa đào) cũng như tự ý thức được số phận hẩm hiu, đầy bất hạnh mà mình phải cam 13 chịu. Người phụ nữ ấy đau đớn chấp nhận hoàn cảnh, buông xuôi mình cho số phận.
Qua đó câu ca dao đã nói lên được hiện thực số phận của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Biện pháp tu từ so sánh đã được tác giả văn học dân gian sử dụng trong câu ca dao trên để thể hiện dụng ý trong phát ngôn của mình. Hành động ngôn trung (illocutionary) hay hành động tại lời Khái niệm này được Searle giải thích là cái đích hay mục đích trong ý nghĩa của người nói được thực hiện trong phát ngôn mà người nói đưa ra với người nghe. Điều đó có nghĩa là hành vi tại lời được thực hiện ngay khi chúng ta nói năng để thực hiện mục đích nào đó, có thể gọi là thực hiện “đích ngôn trung”.
Chẳng hạn người nói có thể nói ra một câu nhằm mục đích hỏi, chào, cảm ơn, hay sai khiến, đề nghị. Ví dụ: - Chào bạn. - Anh có khoẻ không? - Con ra mở cửa giúp mẹ. - Cảm ơn cháu! - Chiều nay 14h họp phòng nhé! Câu hỏi, lời chào, lời thông báo, lời cảm ơn, lời sai khiến là mục đích trong phát ngôn của người nói trong các ví dụ trên đây.
Hành động dụng ngôn (perlocutionary) Hành động dụng ngôn là thuật ngữ được Hoàng Phê và Diệp Quang Ban sử dụng còn tác giả Đỗ Hữu Châu dịch là hành vi mượn lời. Hành động dụng ngôn hay hành vi mượn lời được hiểu là cái hiệu quả tâm lí (và từ đó kéo theo những hành động phản hồi khác) của đích ngôn trung mà người nói đưa ra trong phát ngôn của mình đối với người nghe. Nói cách khác thì hành động dụng ngôn chính là hiệu quả mong muốn của người nói trong phát ngôn gửi đến người nhận.Người nhận phản hồi lại phát ngôn của người nói thế nào thì tuỳ vào người nhận, người nhận có thể đồng ý hoặc từ 14 chối, có thể đáp lại hoặc không cần đáp lại. Qua cách đáp lại của người nhận mà người nói có thể biết được hiệu quả mình mong muốn thông qua phát ngôn mình vừa đưa ra có đạt được hay không.
Ví dụ: SP1 nói với SP2: - Tối nay đi xem phim với mình nhé! SP2 đáp lại SP1: - Tối nay mình bận rồi, để khi khác mình đi với cậu. Trong trường hợp này SP1 phát ngôn với dụng ý là mời và mong muốn SP2 nhận lời đi xem phim với mình nhưng SP2 lại từ chối. Như vậy là hiệu quả giao tiếp mà SP1 mong muốn từ SP2 là không đạt được. Lý do có thể là SP2 bận thật nhưng cũng có thể là cách SP1 mời SP2 chưa thuyết phục.
Có thể nói hành động dụng ngôn tuy được nhận biết qua cách hồi đáp của người nhận lời nhưng nó vẫn thuộc về người tạo lời. Nghĩa là để đạt được mục đích giao tiếp thì bản thân người bản thân người tạo lời cần phải biết cách tạo lời nhằm tác động tích cực đến người nhận lời. Đúc kết về tầm quan trọng của cách thức tạo lời, trong văn học dân gian Việt Nam đã có nhiều câu ca dao, tục ngữ đề cập đến chẳng hạn như: - Nói ngọt lọt đến xương - Nói phải củ cải cũng phải nghe - Chim khôn kêu tiếng rảnh rang Người khôn nói tiếng dịu dàng, dễ nghe - Lời nói chẳng mất tiền mua Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau - Ăn có nhai, nói có nghĩ Trong 3 loại hành động này thì hành động ngôn trung (illocutinary) hay hành động tại lời (theo cách dịch của tác giả Đỗ Hữu Châu) được coi là đối tượng nghiên cứu của Ngữ dụng học. Điều kiện sử dụng hành động ngôn từ Sau Austin đến R.Searle, nhà triết học ngôn ngữ người Mĩ, đã tiếp tục phát triển lý thuyết hành vi ngôn ngữ với tác phẩm “Speech Acts” (1969).
Ông cho rằng ‘Nói là hành vi tuân theo điều kiện”. Mỗi hành vi ngôn ngữ cần phải tuân theo những điều kiện nhất định. Searle đưa ra 4 điều kiện cũng gọi là 4 kiểu quy tắc để có thể thực hiện thành công hành động nói. Theo tác giả Đỗ Hữu Châu thì: “Điều kiện sử dụng các hành động nói là điều kiện mà một hành động nói phải đáp ứng để nó có thể diễn ra thích hợp với ngữ cảnh của sự phát ngôn ra nó”.
Các điều kiện sử dụng hành động ngôn từ bao gồm: Điều kiện nội dung mệnh đề, điều kiện chuẩn bị, điều kiện chân thành, điều kiện căn bản. Điều kiện nội dung mệnh đề Điều kiện nội dung mệnh đề là điều kiện dùng để “cô lập mệnh đề ra khỏi phần còn lại của hành động nói”. Điều kiện nội dung mệnh đề không phải là cần cho chính mệnh đề mà cần để tách mệnh đề ra khỏi phần còn lại để có thể nhận diện được hành động nói. Điều kiện nội dung mệnh đề nhằm chỉ ra bản chất nội dung của hành vi.
Nội dung mệnh đề chính là nội dung, ý nghĩa của một phát ngôn. Nội dung, ý nghĩa đó có thể đúng hoặc có thể sai. Điều kiện chuẩn bị Theo tác giả Diệp Quang Ban trong “Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo của văn bản”, NXB Giáo dục Việt Nam xuất bản năm 2009, trang 96 thì điều kiện chuẩn bị là “điều kiện về việc người nói có được quyền tham dự vào hành động nói đang bàn, người nói ngụ ý (imply – ít ra là ngụ ý một phần nào đó) về việc anh ta thực hiện hành động đó, nó cho chúng ta biết người nói cần phải tiếp xúc với người nghe”. Điều kiện chuẩn bị bao gồm những hiểu biết của người nói về năng lực, lợi ích, ý định của người nghe và quan hệ giữa người nói với người nghe.
Điều kiện chân thành 16 Cũng theo tác giả Diệp Quang Ban trong “Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo của văn bản”, NXB Giáo dục Việt Nam xuất bản năm 2009, trang 96 thì điều kiện chân thành là “ở đâu mà một trạng thái tâm lý được định rõ trong điều kiện chân thành thì việc thực hiện hành động đó xem như là một biểu hiện của trạng thái tâm lý ấy. Quy luật này có giá trị cả khi hành động đó là chân thành lẫn khi nó là không chân thành, có nghĩa là dù cho người nói thực sự có trạng thái tâm lý đã được định rõ hay là không có nó cũng thế”. Đến năm 1975 Searle đã đổi tên điều kiện này thành “Những khác biệt trong các trạng thái tâm lý được biểu hiện”. Điều kiện căn bản Theo tác giả Đỗ Hữu Châu trong “Đại cương ngôn ngữ học” tập 2, NXB Giáo dục năm 2006, trang 117 thì điều kiện căn bản là “điều kiện đưa ra kiểu trách nhiệm mà người nói hoặc người nghe bị ràng buộc khi hành vi ở lời đó được phát ra.
Trách nhiệm có thể rơi vào hành động sẽ được thực hiện (lệnh, hứa hẹn) hoặc đối với tính chân thực của nội dung (một lời xác tín buộc người nói phải chịu trách nhiệm về tính đúng đắn của điều nói ra). Ví dụ: Học sinh hứa với cô giáo sẽ đi học đầy đủ, đúng giờ để không ảnh hưởng đến kết quả thi đua của lớp. Trong trường hợp này lời học sinh hứa hẹn với cô giáo được coi là ghi nhận trách nhiệm và khi đã ghi nhận trách nhiệm thì học sinh đó phải có ý thức thực hiện lời đã hứa hẹn, nếu không thực hiện sẽ dễ mất long tin của cô giáo và các bạn trong lớp. Năm 1975 Searle đưa ra 12 chiều đo (dimentions) trong đó có 4 chiều đo được Searle dùng làm căn cứ để xây dựng bảng phân loại các hành động ngôn trung là: Đích ở lời, hướng khớp ghép với lời hiện thực mà lời đề cập đến, trạng thái tâm lý được thể hiện, nội dung mệnh đề.
Phân loại hành động ngôn từ Austin - người đầu tiên sáng lập lý thuyết hành động nói đã nêu danh sách gồm 5 loại hành động nói gồm: Phán xử, hành xử cam kết, trình bày và ứng xử. Cách phân loại của Austin về cơ bản là gắn với sự phân loại từ 17 vựng các động từ ngữ vi tiếng Anh. Bảng danh sách phân loại của Austin về sau được học trò của ông là Searle xem xét và điều chỉnh lại và được nhắc đến, được sử dụng rất phổ biến. Searle cho rằng hạn chế trong cách phân loại của Austin là chưa định ra tiêu chuẩn phân loại, đồng thời ông cũng đưa ra 12 chiều đo trong đó có 4 chiều đo được Searle dùng làm căn cứ để xây dựng bảng phân loại các hành động ngôn trung là: Đích ở lời, hướng khớp ghép với lời hiện thực mà lời đề cập đến, trạng thái tâm lý được thể hiện, nội dung mệnh đề.
Với 4 tiêu chí trên Searle phân loại được 5 loại hành động nói sau đây: Các hành động tái hiện (thường gặp kể chuyện, báo tin, trình bày…), các hành động điều khiển (sai khiến, khuyên nhủ, bảo ban…), các hành động kết ước (hứa, cam đoan, cam kết…), các hành động bộc lộ (chào, cảm ơn, xin lỗi, than vãn, chúc tụng…), các hành động tuyên bố (đặt tên, tuyên án, ra quyết định trọng tài). Phát ngôn ngôn hành Phát ngôn ngôn hành hay phát ngôn ngữ vi được chú ý đặc biệt trong lý thuyết về hành động nói, bởi tên gọi này chứa đựng cốt lõi tinh thần của lí thuyết hành động ngôn từ: Nói là hành động. Phát ngôn ngôn hành có hai kiểu là phát ngôn ngôn hành tường minh và phát ngôn ngôn hành hàm ẩn (còn gọi là nguyên cấp, do dịch từ “primary performative”). Phát ngôn ngôn hành tường minh Điều kiện đầu tiên là phải xác định được động từ ngôn hành, khi xác định được thế nào là động từ ngôn hành thì kiểu thực hiện chức năng theo lối trực tiếp sẽ lộ rõ.