CHƯƠNG 1. CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT VÀ QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC CỦA VŨ HUY ANH 1. Khái niệm “cảm hứng nghệ thuật” Từ trước đến nay, có nhiều cách hiểu về khái niệm “cảm hứng nghệ thuật”, song hầu hết các nhận định đều khẳng định vai trò quan trọng của cảm hứng nghệ thuật trong sáng tác. Cuốn Từ điển thuật ngữ văn học đưa ra khái niệm về cảm hứng nghệ thuật là “trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận tác phẩm” [17 ; tr.
Ở phương diện rộng hơn, cảm hứng nghệ thuật còn là một hiện tượng độc đáo không lặp lại, thể hiện thế giới quan và phong cách riêng của mỗi tác giả. Cảm hứng nghệ thuật không phải là tình cảm được xướng lên thành một phát ngôn trong tác phẩm, nó là tình cảm mà người đọc cảm nhận được từ tình huống, khung cảnh, chất liệu. từ không khí chung của tác phẩm. Lý luận văn học coi cảm hứng nghệ thuật là một yếu tố của bản thân nội dung nghệ thuât, của thái độ tư tưởng xúc cảm của nhà văn với thế giới nghệ thuật được mô tả.
Cảm hứng nghệ thuật còn thể hiện được thế giới quan của nhà văn, bộc lộ được quan điểm của nhà văn trước mọi vấn đề của cuộc sống. Đối với tiểu thuyết, sự hiện diện của cảm hứng nghệ thuật được trải theo chiều dài, bề rộng và chiều sâu “Tiểu thuyết biết đến tiềm thức sớm hơn Freud, biết đến đấu tranh giai cấp sớm hơn Marx, nghiên cứu hiện tượng học sớm hơn các nhà hiện tượng học” [47]. Cảm hứng của tiểu thuyết là cuộc sống nhìn từ góc độ đời tư. Theo từng thời kỳ, cái nhìn đời tư được kết hợp với chủ đề thế sự hoặc lịch sử.
Tiểu thuyết còn miêu tả tư duy của nhân vật về thế giới, phân tích tình cảm, chi tiết về cảnh vật. Do đó, cảm hứng nghệ 9 z thuật trong tiểu thuyết khá đa dạng. Nếu như cảm hứng ở truyện ngắn mang sức gợi, thì ở tiểu thuyết lại thường lý giải để nắm bắt cuộc sống. Trong tình hình văn học hiện nay, cảm hứng lại càng khẳng định được vai trò của mình.
Nhà văn dùng cảm hứng nghệ thuật để duy trì ham muốn đọc, khám phá của độc giả từ đầu cho tới cuối truyện, hoặc xa hơn nữa. Vì vậy, dù ở thời kỳ nào, tiểu thuyết cũng đòi hỏi cảm hứng phải dồi dào, có định hướng, thể hiện nội dung tư tưởng và cấu trúc nghệ thuật hài hòa, lý trí và tình cảm sâu sắc. Những cảm hứng nghệ thuật cơ bản trong tiểu thuyết của Vũ Huy Anh 1. Đôi nét về tiểu sử và sự nghiệp văn học của Vũ Huy Anh Nhà văn còn có các bút danh khác: Huy Anh, Trung Vũ, sinh ngày 29 tháng 3 năm 1944 tại thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.
Quê gốc huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Häc xong phæ th«ng, Vò Huy Anh lµm kÕ to¸n tr-ëng cho hîp t¸c x· n«ng nghiÖp ë quª. Trong thêi gian nµy, «ng b¾t ®Çu viÕt bµi cho ChÝnh nghÜa thuéc ñy ban liªn l¹c c«ng gi¸o ViÖt Nam. Ít l©u sau, Vò Huy Anh ®i häc líp nghiÖp vô b¸o chÝ dµi h¹n t¹i Tr-êng Tuyªn huÊn Trung -¬ng.
Ra tr-êng, «ng vÒ lµm phãng viªn b¸o ChÝnh nghÜa, råi lµm chuyªn viªn Ban t«n gi¸o ChÝnh phñ. Sau ®ã, chuyÓn sang lµm tr-ëng ban biªn tËp, th- kÝ tßa so¹n b¸o Thanh tra. HiÖn nay lµm viÖc t¹i Thêi b¸o Kinh tÕ ViÖt Nam. Những tác phẩm chính của ông bao gồm: Mùa xuân về (truyện dài, NXB Phụ nữ,1979); Cuộc đời bên ngoài (tiểu thuyết, NXB Tác phẩm mới,1984, tái bản 1986); Trái cấm vườn địa đàng (tiểu thuyết, NXB Phụ nữ, 1986); Đường qua biển đỏ (tiểu thuyết, NXB Thanh niên, 1988); Ai bắn giáo hoàng (truyện dài tư liệu, NXB Công an Nhân dân, 1988); Bến lạ bờ xa (tiểu thuyết, NXB Lao động, 1989); Mật thư Phatima (truyện dài tư liệu, NXb Công an nhân dân, 1989); Tìm lại tình yêu (tiểu thuyết, NXB Quảng Ninh,1990); Sa ngã (tiểu thuyết, NXB Thanh 10 z niên,1992); Người đẹp trước nhà (tiểu thuyết, NXB Phụ nữ, 1992); Dang dở (Bộ tiểu thuyết tuyển chọn, NXB Lao động, 2000); Dòng sông cứ chảy (tập truyện, NXB Phụ nữ).
Năm 1984, ông được giải thưởng chính thức Hội Nhà văn Việt Nam về tiểu thuyết cho tác phẩm Cuộc đời bên ngoài. Tiểu thuyết Trăm năm thoáng chốc được tặng giải thưởng giải C cuộc thi tiểu thuyết 2002 – 2005 do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Khởi đầu sự nghiệp sáng tác bằng những bài viết in trên báo Chính nghĩa nhưng những tác phẩm khiến độc giả biết đến cái tên Vũ Huy Anh lại là các tiểu thuyết xuất hiện khá đều đặn và liên tục từ đầu thập niên 80 của thế kỷ XX cho đến nay. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình công giáo lại sống trên một xứ đạo gốc, nên hầu hết các sáng tác của ông đều xoay quanh một đối tượng mà ông hiểu khá kỹ đó là người công giáo.
Có thể nói, sau Nguyễn Khải với Xung đột, Cha và con và., Thời gian của người; sau Chu Văn với Bão biển, Vũ Huy Anh là nhà văn của thế hệ kế tiếp chuyên tâm với đề tài tôn giáo. Hầu hết các tác phẩm của ông đều viết về tôn giáo với những hiểu biết cặn kẽ, thấu đáo và chính xác. Những trang viết của ông không chỉ cho thấy tâm huyết mà còn là sự đồng cảm với những giáo dân, những con người luôn mong muốn sống tốt đời, đẹp đạo, trải qua bao biến thiên của thời cuộc vẫn đồng hành cùng dân tộc. Trong tư duy nghệ thuật của mình, Vũ Huy Anh luôn đau đáu một nỗi niềm: phản ánh và lý giải sự tồn tại và phát triển của công giáo trong lòng dân tộc.
Từ tiểu thuyết Cuộc đời bên ngoài, Đường trở về, Dang dở, Trăm ngăm thoáng chốc đến Cách trở âm dương, ngòi bút của Vũ Huy Anh đều hướng tới cuộc sống đích thực của mỗi con người trải qua một vòng đời với những gấp khúc, éo le, với những đau thương mất mát để khỏa lấp và loại bỏ những hiểu lầm, cách biệt, những cuồng tín vô lối, trở về với trạng thái an nhiên của con người trước đời sống và tín ngưỡng. 11 z Về nghiệp văn, Vũ Huy Anh cho rằng: Văn chương cần đến sự rèn luyện và tinh thông của nghề nghiệp nhưng lại chịu sự dìu dắt của cảm hứng và được chi phối bởi thiên bẩm, nên văn chương như là một sự giải tỏa ẩn ức, một thiên hướng, một niềm đam mê nghệ thuật hơn là một nghề sinh nhai. Có điều văn chương đúng là văn chương chưa dễ gì được số đông tìm đọc với những gì viết ra theo thị hiếu. Tuy vậy là một nhà văn thì phải giữ lấy cái tinh hoa của Nghiệp.
văn trong quan niệm của ông là cái Tình của người viết và cái Đẹp của lời văn. Xuất phát từ quan niệm văn chương nghiêm túc và chân chính ấy, Vũ Huy Anh đã truyền đến người đọc khá nhiều nguồn cảm hứng, trong đó tiêu biểu là ba nguồn cảm hứng chính: cảm hứng bi kịch, cảm hứng ngợi ca xen lẫn phê phán và cảm hứng khám phá con người bản năng. Đây là những cảm hứng cơ bản của văn xuôi sau 1975 và đặc biệt là văn học thời kỳ Đổi mới. Đi vào tìm hiểu những cảm hứng này sẽ giúp người đọc thấy rõ hơn phong cách nghệ thuật cũng như hiểu thêm về nhà văn giàu tâm huyết này.
Những cảm hứng nghệ thuật cơ bản 1. Cảm hứng bi kịch Trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, cả dân tộc ta đồng lòng sẵn sàng hy sinh để bảo vệ Tổ quốc. Trong bom đạn hiểm nguy, tinh thần lạc quan chiến đấu, quyết tâm đánh giặc vẫn tỏa sáng rực rỡ. Nếu như văn học trước 1975 chủ yếu đi sâu vào cảm hứng ngợi ca thì sau chiến tranh, sự thay đổi của hiện thực đã dẫn đến sự thay đổi diện mạo của đời sống văn học.
Những góc khuất, những khoảng tối của đời sống trước đây hầu như không được văn học chú ý hoặc giữ thái độ dè dặt giờ đã được phản ánh một cách tự nhiên, chân thực. Hiện thực đời sống con người với những tâm tư, khát vọng, những bi kịch riêng tư chồng chất, những trào lộng, giễu nhại bi hài được các cây bút tiểu thuyết khám phá đến tận cùng, đẩy tác phẩm chạm đến một chiều 12 z sâu mới. Từ rất sớm, trong bài Viết về chiến tranh (1978), nhà văn Nguyễn Minh Châu đã đặt ra câu hỏi cho hướng đi của tiểu thuyết chiến tranh sau thời chiến. Khi “tất cả những vấn đề quy luật của chiến tranh đã phát triển trọn vẹn, những số phận và tính cách nhân vật cũng đã phơi bày trọn vẹn”, khi trong hàng chục cuốn hồi kí của các tướng lĩnh “có rất nhiều sự kiện, nhiều bối cảnh lịch sử được kể lại một cách hết sức cụ thể”, “tiểu thuyết viết về chiến tranh sẽ tìm trong lĩnh vực nào để mình có một chỗ đứng không trùng lặp với chỗ đứng của hồi kí chiến tranh?”.
Sự lựa chọn duy nhất là “phải viết về con người”. Con người với “tất cả những mặt tính cách đa dạng phải phơi bày trong đời sống thực” mà đã nhiều thập kỉ qua “tạm thời giấu mình trên trang sách”. Tiểu thuyết chiến tranh không thể để các nhân vật bị sự kiện lấn át, “chỉ đóng vai trò làm đường dây để xâu các sự kiện lại với nhau”. Nhìn lại quá khứ đã qua, khoảng cách thời gian đã đưa lại cho người cầm bút những suy nghĩ, chiêm nghiệm sâu sắc về số phận con người ở khía cạnh mà trước đây luôn bị làm mờ đi, nhạt đi trước số phận dân tộc: khía cạnh bi kịch cá nhân.
Cảm hứng bi kịch là cội nguồn cho sự xuất hiện của một loại nhân vật mang diện mạo tinh thần hoàn toàn mới trong tiểu thuyết chiến tranh sau 1975, nhất là sau 1986 nhờ nỗ lực đổi mới và dân chủ hóa đời sống văn hóa văn nghệ. Cảm hứng bi kịch trong tiểu thuyết hậu chiến có thể được đánh dấu từ Thời xa vắng (1986) của Lê Lựu, một hiện tượng nổi bật của văn học Việt Nam bấy giờ. Tiếp sau đó, cảm hứng bi kịch vẫn được tập trung thể hiện sâu đậm hơn cả trong bộ phận tiểu thuyết hậu chiến. Cắt nghĩa, lí giải, nhận thức lại hiện thực bằng cảm hứng bi kịch, tiểu thuyết hậu chiến đã thực sự đem lại cho người đọc những suy ngẫm sâu sắc.