Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986 dưới góc nhìn tự sự học" do nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Hùng thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Đăng Điệp và TS. Trần Thị Sâm, thuộc chuyên ngành Lí luận văn học (mã số: 62.20), hoàn thành năm 2014.
| Thông tin tổng quát | Chi tiết |
|---|---|
| Đề tài | Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986 dưới góc nhìn tự sự học |
| Tác giả | Nguyễn Văn Hùng |
| Người hướng dẫn | PGS.TS. Nguyễn Đăng Điệp, TS. Trần Thị Sâm |
| Cơ sở đào tạo | Học viện Khoa học Xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam |
| Chuyên ngành | Lí luận văn học (Mã số: 62.20) |
| Năm bảo vệ | 2014 |
| Định hướng nghiên cứu | Nghiên cứu định tính, kết hợp lý thuyết tự sự học với thi pháp học và liên ngành |
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Sau năm 1986, đời sống văn học Việt Nam chứng kiến sự hồi sinh và vận động của thể tài tiểu thuyết lịch sử dưới tác động của công cuộc Đổi mới, kinh tế thị trường, bùng nổ truyền thông và hội nhập văn hóa toàn cầu. Các tác giả chuyển từ cảm thức chiêm bái, minh họa chính sử thời chiến sang cảm thức phân tích, giải định, luận giải lịch sử từ góc nhìn cá nhân và đời tư thế sự.
Tuy nhiên, trong lĩnh vực lý luận và phê bình, số lượng công trình nghiên cứu chuyên khảo có tính hệ thống về tiểu thuyết lịch sử còn thưa thớt; giới nghiên cứu lý luận chưa theo kịp thực tiễn sáng tác phong phú và phức tạp của thể tài này. Mặt khác, dù tự sự học đã được giới thiệu tại Việt Nam, việc vận dụng hệ thống khái niệm của tự sự học vào khảo sát toàn diện một thể tài cụ thể như tiểu thuyết lịch sử sau 1986 vẫn còn những khoảng trống lớn và hiện tượng "độ chênh" khi tiếp nhận lý thuyết phương Tây vào thực tiễn văn học trong nước. Do đó, việc vận dụng lý thuyết tự sự học để giải mã tiểu thuyết lịch sử giai đoạn này mang tính cấp thiết về cả thực tiễn sáng tác lẫn lý luận thể loại.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu bao quát của luận án là vận dụng lý thuyết tự sự học để khảo sát, nhận diện, phân tích và luận giải các cách tân nghệ thuật trong tư duy và phương thức tự sự của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ năm 1986 đến nay. Qua đó, công trình chứng minh tiểu thuyết lịch sử giai đoạn sau 1986 là một bước phát triển của tiểu thuyết lịch sử nói riêng và văn xuôi tiểu thuyết Việt Nam đương đại nói chung.
Câu hỏi nghiên cứu
Tác giả xác định ba câu hỏi nghiên cứu cốt lõi cần giải quyết:
- Đặc trưng thể tài tiểu thuyết lịch sử và tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986 được biểu hiện như thế nào trên các bình diện: sự khác nhau giữa nhiệm vụ của nhà viết sử và nhà viết tiểu thuyết lịch sử; mối quan hệ giữa sự chân xác khách quan của lịch sử và vai trò của hư cấu nghệ thuật; nhiệm vụ soi sáng đời sống thực tại; sự đồng cảm của nhà văn với nhân vật và thời đại lịch sử; các kiểu tiểu thuyết lịch sử trong kinh nghiệm sáng tác và đặc trưng của tiểu thuyết lịch sử hiện đại?
- Việc vận dụng lí thuyết tự sự học vào nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986 cần tập trung chú ý đến những bình diện tiêu biểu nào?
- Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986 có những đổi mới căn bản nào về tư duy và phương thức tự sự lịch sử so với giai đoạn trước năm 1986?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các bình diện nghệ thuật tự sự của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại, bao gồm: người kể chuyện, điểm nhìn tự sự, thời gian tự sự, kết cấu tự sự, diễn ngôn tự sự và các chiến lược tự sự.
- Phạm vi không gian và thời gian: Các tác phẩm tiểu thuyết lịch sử được xuất bản tại Việt Nam trong giai đoạn từ sau năm 1986 đến năm 2014.
- Phạm vi ngữ liệu khảo sát: Khối lượng tiểu thuyết lịch sử sau năm 1986 gồm hơn 100 cuốn; luận án chọn lọc các tác phẩm tiêu biểu thuộc các khuynh hướng sáng tác chính để phân tích sâu (như tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Mộng Giác, Hoàng Quốc Hải, Võ Thị Hảo, Nguyễn Quang Thân, Nam Dao...). Đồng thời, luận án mở rộng đối chiếu với tiểu thuyết lịch sử giai đoạn trước năm 1945 và giai đoạn 1945–1986, truyện ngắn đề tài lịch sử sau 1986 (tiêu biểu của Nguyễn Huy Thiệp), tiểu thuyết viết về lịch sử Việt Nam của tác giả nước ngoài (Vạn Xuân, Lãn Ông của Yveline Féray) và một số tiểu thuyết lịch sử tiêu biểu của Pháp, Nga, Trung Quốc.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng thuật lịch sử nghiên cứu theo ba cụm vấn đề chính:
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1. Tình hình nghiên cứu và vận dụng lí thuyết tự sự học
- Trên thế giới: Tự sự học (Narratologie) có nguồn gốc từ thi pháp học cấu trúc và hình thức luận Nga (V. Tomashevski đặt nền móng với phân biệt cốt truyện/truyện kể, thời gian giả). Thuật ngữ được Tzvetan Todorov chính thức đề xướng năm 1969 trong công trình Grammaire du Décaméron. Tự sự học cấu trúc luận phát triển qua các đại biểu như C. Bremond, G. Genette, F. Stanzel, W. Booth, M. Bal, A. Greimas, G. Prince. Giai đoạn sau phát triển sang tự sự học hậu kinh điển (postclassical narratology) với định hướng mở rộng liên ngành: tự sự học nữ quyền, nghiên cứu văn hóa, tự sự học hậu thực dân, tự sự học lịch sử của Hayden White, tự sự học hậu hiện đại.
- Tại Việt Nam: Tự sự học được giới thiệu rộng rãi từ cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI. Trần Đình Sử là một trong những người mở đường với các tiểu luận năm 2001, 2008. Tiếp đó là các bản dịch và công trình giới thiệu của Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Thị Ngọc Minh, Lê Lưu Oanh, Nguyễn Đức Nga, Trần Ngọc Hiếu, Cao Kim Lan, Nguyễn Thị Hải Phương, Nguyễn Thị Như Trang, Phùng Kiên, Trịnh Bá Đỉnh, Lã Nguyên, Lộc Phương Thủy, Đặng Anh Đào, Lê Hồng Sâm, Trần Huyền Sâm, Lê Phong Tuyết, Nguyễn Thái Hòa, Đào Duy Hiệp, Nguyễn Mạnh Quỳnh, Nguyễn Thành, Nguyễn Thị Tịnh Thy, Sara Mills.
2. Nghiên cứu về đặc trưng thể tài tiểu thuyết lịch sử
- Lý thuyết quốc tế: Phan Cự Đệ điểm lại tiến trình thể loại trong Văn học Việt Nam thế kỷ XX; Dorothy Brewster và John Burrell khảo sát lịch sử thể loại trong Tiểu thuyết hiện đại; Trương Đăng Dung giới thiệu quan niệm mỹ học của Georg Lukács về mối quan hệ giữa sử gia và tiểu thuyết gia; Käte Hamburger phân tích logic thể loại trong Die Logik der Dichtung; Hayden White luận giải bản chất diễn ngôn của lịch sử trong The Value of Narrativity in the Representation of Reality.
- Ý kiến tác giả trong nước: Các nhà văn trực tiếp phát biểu quan niệm sáng tác: Nguyễn Huy Thiệp (quan niệm khai thác lịch sử phục vụ hiện tại), Nguyễn Xuân Khánh (lịch sử là cái cớ, cốt yếu là tính thuyết phục nghệ thuật), Hoàng Quốc Hải (mượn xưa nói nay), Nam Dao (soi lịch sử qua lăng kính chủ quan), Nguyễn Mộng Giác (nhấn mạnh tính thế sự, đời tư), Võ Thị Hảo, Bùi Anh Tấn, Trần Vũ.
3. Nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1986
- Tranh luận và hội thảo: Hiện tượng chùm truyện ngắn lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp năm 1988 mở đầu cho các tranh luận về mối quan hệ giữa chân thực lịch sử và hư cấu nghệ thuật. Năm 2012, Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương tổ chức hội thảo "Sáng tạo văn học, nghệ thuật về đề tài lịch sử"; Viện Văn học và NXB Phụ nữ tổ chức tọa đàm về tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh.
- Phân loại khuynh hướng: Nguyễn Văn Dân phân chia tiểu thuyết lịch sử đương đại thành ba xu hướng: tiểu thuyết lịch sử chương hồi khách quan, tiểu thuyết lịch sử giáo huấn và tiểu thuyết lịch sử luận giải. Phan Trọng Thưởng chỉ ra mối quan hệ giữa sự kiện lịch sử và hư cấu; Trần Đình Sử lưu ý yêu cầu đổi mới tư duy lịch sử theo hướng hiện đại/hậu hiện đại.
- Nghiên cứu tác phẩm cụ thể: Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng Ngàn (Nguyễn Xuân Khánh) qua bài viết của Phạm Toàn, Trung Trung Đỉnh, Lại Nguyên Ân, Đỗ Ngọc Yên, Đỗ Hải Ninh, Trần Thị An, Mai Anh Tuấn, Lê Tú Anh, Nguyễn Văn Long, Lê Thị Thủy, Nguyễn Quang Huy; Sông Côn mùa lũ (Nguyễn Mộng Giác) qua nhận định của Phan Cự Đệ, Mai Quốc Liên, Nguyễn Vy Khanh, Đỗ Minh Tuấn; Giàn thiêu (Võ Thị Hảo) qua bài viết của Lại Nguyên Ân, Đào Vũ Hòa An; Hội thề (Nguyễn Quang Thân) qua tranh luận giữa Hoài Nam và Hà Văn Thùy; Bão táp triều Trần, Tám triều vua Lý (Hoàng Quốc Hải) qua các bài viết của Hoàng Công Khanh, Đinh Công Vĩ, Hoàng Tiến, Đặng Văn Sinh; các luận văn của Nguyễn Thị Phương Thanh (2006), Ngô Thị Quỳnh Nga (2007).
- Nghiên cứu dưới góc độ tự sự học: Nguyễn Đăng Điệp tiếp cận tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh như một diễn ngôn lịch sử và văn hóa; Nguyễn Thị Bình khảo sát phương thức tự sự đối thoại; Thái Phan Vàng Anh phân tích các dạng thức đối thoại; Phạm Xuân Thạch, Bùi Việt Thắng nghiên cứu tổ chức kết cấu và giọng điệu.
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án giải quyết
Phần lớn các công trình trước đây chỉ tiếp cận tiểu thuyết lịch sử sau 1986 ở từng tác phẩm đơn lẻ, từng phương diện nội dung tư tưởng hoặc mới dừng ở mức ứng dụng một vài khái niệm tự sự học rời rạc. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách xây dựng một công trình chuyên khảo có tính hệ thống, bao quát toàn diện các bình diện nghệ thuật tự sự (người kể chuyện, điểm nhìn, thời gian, kết cấu, diễn ngôn) trên diện rộng của thể tài tiểu thuyết lịch sử thời kỳ Đổi mới.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
KHUNG KHẢO SÁT TỰ SỰ HỌC CỦA LUẬN ÁN
Hệ thống lý thuyết và khái niệm sử dụng
Luận án tiếp thu có chọn lọc các thành tựu của tự sự học cấu trúc kinh điển và tự sự học hậu kinh điển:
- Người kể chuyện và Điểm nhìn: Phân biệt tác giả tiểu sử, tác giả hàm ẩn (implied author) và người kể chuyện; các loại hình người kể chuyện (ngôi thứ nhất, ngôi thứ ba; hạn tri, toàn tri; người kể chuyện đáng tin cậy và không đáng tin cậy); hệ thống phân loại tiêu cự hóa/điểm nhìn (focalization) của G. Genette, B. Uspensky và F. Stanzel (tiêu cự hóa bậc 0, tiêu cự hóa bên trong, tiêu cự hóa bên ngoài; điểm nhìn đơn tuyến, điểm nhìn đa tuyến và phức hợp).
- Thời gian tự sự: Sử dụng hệ thống phạm trù thời gian của G. Genette gồm: trật tự thời gian (đảo thuật quá khứ - analepsis, dự thuật tương lai - prolepsis), thời lượng và nhịp độ (đoạn ngưng - pause, tỉnh lược - ellipsis, hoạt cảnh - scene, tóm lược - summary), tần suất tự sự.
- Kết cấu tự sự: Kết cấu phi tuyến tính, kết cấu phân mảnh, kết cấu lắp ghép (montage), kết cấu đồng hiện, đa tầng bậc, kết cấu dung hợp thể loại và liên văn bản.
- Diễn ngôn tự sự: Khái niệm diễn ngôn (discours/discourse) theo quan niệm của M. Bakhtin, M. Foucault, Sara Mills; lý thuyết về tính đối thoại (dialogism), tính đa thanh (polyphony); phân loại lời văn nghệ thuật: lời người kể chuyện, lời nhân vật, lời nửa trực tiếp/lời gián tiếp tự do (free indirect discourse), sự đan cài đa giọng điệu.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án là công trình nghiên cứu định tính trong chuyên ngành Lí luận văn học, phối hợp sáu phương pháp và thao tác nghiên cứu cụ thể:
| STT | Phương pháp nghiên cứu | Mục đích và cách thức triển khai |
|---|---|---|
| 1 | Phương pháp tiếp cận tự sự học | Khảo sát văn bản trên các bình diện người kể chuyện, điểm nhìn, thời gian, kết cấu, diễn ngôn và chiến lược tự sự để chỉ ra cách tân nghệ thuật. |
| 2 | Phương pháp loại hình | Vận dụng nguyên tắc loại hình học văn học để bao quát, phân loại các dạng thức cụ thể của người kể chuyện, kiểu điểm nhìn, mô hình kết cấu và kiểu diễn ngôn. |
| 3 | Phương pháp cấu trúc – hệ thống | Xem xét mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành chỉnh thể tác phẩm tự sự, phát hiện các quy luật tổ chức hình thức nghệ thuật lặp lại có tính hệ thống. |
| 4 | Phương pháp so sánh đồng đại và lịch đại | Đối chiếu tiểu thuyết lịch sử sau 1986 với giai đoạn trước 1986 (lịch đại); so sánh đối chiếu giữa các tác giả, tác phẩm cùng thời kỳ sau 1986 (đồng đại). |
| 5 | Phương pháp thống kê – phân loại | Thống kê, phân nhóm các hiện tượng nghệ thuật, ngữ liệu tác phẩm làm căn cứ xác thực minh chứng cho các luận điểm. |
| 6 | Phương pháp liên ngành | Kết hợp tri thức các ngành lịch sử học, triết học, văn hóa học, xã hội học và tâm lý học để làm sáng tỏ bối cảnh lịch sử và chiều sâu văn hóa của tác phẩm. |
Nguồn tư liệu và ngữ liệu khảo sát
- Ngữ liệu khảo sát trung tâm: Hơn 100 tác phẩm tiểu thuyết lịch sử xuất bản tại Việt Nam từ sau năm 1986 đến 2014, trọng tâm là các tiểu thuyết tiêu biểu: Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng Ngàn, Đội gạo lên chùa (Nguyễn Xuân Khánh); Sông Côn mùa lũ (Nguyễn Mộng Giác); Bão táp triều Trần, Tám triều vua Lý (Hoàng Quốc Hải); Giàn thiêu (Võ Thị Hảo); Hội thề (Nguyễn Quang Thân); Gió lửa (Nam Dao); Khúc triều dâng (Nguyễn Toàn Thắng)...
- Tư liệu so sánh và đối chứng: Tiểu thuyết lịch sử giai đoạn trước 1945 và 1945–1986; chùm truyện ngắn đề tài lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp (Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết); tiểu thuyết lịch sử nước ngoài viết về Việt Nam (Vạn Xuân, Lãn Ông của Yveline Féray); các văn bản chính sử, văn hóa học, triết học liên quan.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa lịch sử hình thành và phát triển của lý thuyết tự sự học trên thế giới, quá trình du nhập và vận dụng vào Việt Nam; đồng thời điểm duyệt các công trình nghiên cứu về thể tài tiểu thuyết lịch sử nói chung và tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986 nói riêng.
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
- Luận điểm và phát hiện chính:
- Tự sự học thế giới trải qua hai giai đoạn lớn: tự sự học cấu trúc kinh điển (nghiên cứu cấu trúc nội tại khép kín của truyện kể) và tự sự học hậu kinh điển (mở rộng sang người đọc, ngữ cảnh tiếp nhận và các phân nhánh liên ngành).
- Tiếp nhận tự sự học ở Việt Nam đã đi từ dịch thuật, giới thiệu các thuật ngữ công cụ sang ứng dụng vào phân tích tác phẩm cụ thể, song vẫn còn thiếu những công trình chuyên sâu, có hệ thống đối với từng thể loại.
- Tiểu thuyết lịch sử sau năm 1986 đã thay đổi mô hình phản ánh: chuyển từ mô hình sử thi, chiêm bái, ngợi ca sang mô hình đối thoại, phân tích và luận giải lịch sử; tuy nhiên lý luận phê bình trong nước vẫn còn lúng túng trước sự chuyển đổi này.
Chương 2: Người kể chuyện và điểm nhìn tự sự trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986
Chương 2 tập trung phân tích sự đổi mới cấu trúc chủ thể trần thuật và nghệ thuật tổ chức điểm nhìn trong mối tương quan với quan niệm nghệ thuật về lịch sử và con người.
CHƯƠNG 2: NGƯỜI KỂ CHUYỆN VÀ ĐIỂM NHÌN TỰ SỰ
- Luận điểm và phát hiện chính:
- Sự chuyển hóa của người kể chuyện ngôi thứ ba: Nếu tiểu thuyết lịch sử truyền thống duy trì người kể chuyện ngôi thứ ba toàn tri tuyệt đối mang tính chất phán truyền chân lý cộng đồng, thì tiểu thuyết sau 1986 chuyển sang người kể chuyện ngôi thứ ba hạn tri, người kể chuyện suy tưởng, hoài nghi, thậm chí là người kể chuyện tự ý thức về hành vi tạo tác văn bản của mình.
- Đa dạng hóa người kể chuyện ngôi thứ nhất: Xuất hiện các hình thức người kể chuyện xưng "tôi" là chứng nhân lịch sử, nhân vật phụ hoặc chính nhân vật lịch sử tự thuật; mang lại giọng điệu thân mật, trải nghiệm cá nhân hóa và tính chất đa thanh.
- Cấu trúc điểm nhìn phức hợp: Điểm nhìn không còn cố định từ trên cao của ý thức hệ sử quan duy nhất mà được di chuyển liên tục (di chuyển tiêu cự): đan xen giữa điểm nhìn bên ngoài và điểm nhìn bên trong; điểm nhìn của người kể chuyện hòa nhập vào điểm nhìn của nhân vật; phối hợp điểm nhìn từ hiện tại soi chiếu về quá khứ và từ quá khứ nhìn tới tương lai.
- Điểm nhìn đa tuyến: Các tác giả xây dựng mô hình điểm nhìn đa tuyến đối thoại, cho phép nhiều nhân vật thuộc các chiến tuyến, tầng lớp khác nhau (từ vua chúa, tướng lĩnh đến dân thường, kẻ thù) cùng lên tiếng, tạo nên bức tranh lịch sử đa chiều.
Chương 3: Nghệ thuật tổ chức thời gian và kết cấu tự sự trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986
Chương 3 khảo sát các phương thức xử lý thời gian nghệ thuật và kỹ thuật tổ chức cấu trúc tác phẩm.
CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT TỔ CHỨC THỜI GIAN VÀ KẾT CẤU TỰ SỰ
- Luận điểm và phát hiện chính:
- Phá vỡ trật tự thời gian tuyến tính: Thay thế trật tự thời gian biên niên sử (từ nguyên nhân đến kết quả, theo trình tự năm tháng) bằng cấu trúc thời gian phi tuyến tính. Tác giả vận dụng triệt để thủ pháp đảo thuật (analepsis – hồi ức, hồi tưởng, hồi cố) và dự thuật (prolepsis – tiên cảm, dự cảm, dự báo tương lai) nhằm cắt dán, đảo lộn trình tự diễn tiến của biến cố lịch sử.
- Tạo dựng nhịp điệu bằng đoạn ngưng: Sử dụng các đoạn ngưng tự sự (descriptive pause) để miêu tả phong tục, nghi lễ văn hóa, trầm tư triết học, miêu tả tâm lý nội tâm; từ đó làm chậm nhịp độ trần thuật, chuyển hướng sự chú ý của người đọc từ "sự kiện xảy ra như thế nào" sang "ý nghĩa văn hóa và tâm lý đằng sau sự kiện".
- Kết cấu lắp ghép và đồng hiện: Ứng dụng kỹ thuật điện ảnh và mỹ thuật vào văn học; tạo ra các mô hình kết cấu lắp ghép tư liệu, đồng hiện không – thời gian, kết cấu đa tầng bậc (câu chuyện lồng trong câu chuyện, các văn bản đan cài nhau).
- Dung hợp thể loại: Tiểu thuyết lịch sử tích hợp các yếu tố của tiểu thuyết phong tục, tiểu thuyết tư tưởng, tiểu thuyết tâm lý, hồi ký, phóng sự khảo cứu, kết hợp các thủ pháp huyền ảo (kỳ ảo hóa lịch sử) và tư liệu văn hóa bản địa.
Chương 4: Diễn ngôn tự sự trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986
Chương 4 đi sâu phân tích bình diện ngôn ngữ và diễn ngôn – phương tiện vật chất trực tiếp tạo dựng thế giới nghệ thuật của tiểu thuyết lịch sử.
CHƯƠNG 4: DIỄN NGÔN TỰ SỰ TRONG TTLS VIỆT NAM SAU NĂM 1986
- Luận điểm và phát hiện chính:
- Quan niệm lịch sử như là diễn ngôn: Luận án tiếp thu quan điểm hiện đại xem lịch sử trong văn học là một cấu trúc diễn ngôn mang tính diễn giải chủ quan của người viết, không phải bản sao nguyên mẫu của quá khứ.
- Diễn ngôn người kể chuyện: Không còn giữ giọng điệu sử thi trang trọng, ngợi ca thuần nhất mà chuyển sang diễn ngôn đa thanh: dung hợp giữa giọng suy tưởng, đối thoại, triết lý, giọng hoài nghi, trần thuật khách quan và giọng giễu nhại, suồng sã.
- Diễn ngôn nhân vật: Ngôn ngữ nhân vật lịch sử được "giải thiêng", đưa về gần với ngôn ngữ đời thường, giàu tính cá thể và phản ánh chiều sâu tâm thức văn hóa dân gian hoặc bi kịch nội tâm; ngôn ngữ nhân vật mang tính đối thoại với các diễn ngôn quyền lực.
- Tổ chức diễn ngôn đan cài và lời gián tiếp tự do: Sự xóa nhòa ranh giới cứng nhắc giữa lời kể của người trần thuật và lời nói/ý nghĩ bên trong của nhân vật thông qua việc gia tăng lời gián tiếp tự do (free indirect discourse). Lời văn trở thành nơi gặp gỡ, giao tranh của nhiều luồng ý thức khác nhau.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Hệ thống hóa lý thuyết tự sự học: Luận án trình bày một cách cô đọng, có hệ thống các bình diện, phạm trù lý thuyết của các trường phái tự sự học tiêu biểu trên thế giới (Pháp, Nga, Anh, Mỹ) và quá trình tiếp nhận ở Việt Nam, cung cấp khung thao tác lý thuyết rõ ràng cho việc nghiên cứu thể tài tiểu thuyết lịch sử.
- Xây dựng lý luận thể tài tiểu thuyết lịch sử: Luận án góp phần xác lập các tiêu chí phân biệt giữa văn bản lịch sử (phi hư cấu/khoa học lịch sử) và tiểu thuyết lịch sử (hư cấu nghệ thuật/diễn ngôn thẩm mỹ); xác định các quy luật chuyển đổi mô hình nghệ thuật của tiểu thuyết lịch sử từ truyền thống sang hiện đại.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Phác họa diện mạo tiểu thuyết lịch sử thời kỳ Đổi mới: Công trình tổng kết và phục dựng tiến trình vận động, phát triển của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ năm 1986 đến 2014 thông qua một hệ thống ngữ liệu phong phú, chỉ ra những bước chuyển trong cảm thức lịch sử và tư duy nghệ thuật của các nhà văn.
- Giải mã các cách tân nghệ thuật cụ thể: Thông qua các phạm trù tự sự học (người kể chuyện, điểm nhìn, thời gian, kết cấu, diễn ngôn), luận án chỉ ra bản chất của những tìm tòi, đổi mới trong các tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Mộng Giác, Hoàng Quốc Hải, Võ Thị Hảo, Nguyễn Quang Thân; khẳng định các đóng góp nghệ thuật đồng thời chỉ ra một số hạn chế về mặt bút pháp.
Kiến nghị và đề xuất
- Đổi mới tư duy tiếp nhận và phê bình văn học đối với mảng đề tài lịch sử; tránh việc lấy sự chân xác của chính sử làm thước đo duy nhất để phán xét giá trị thẩm mỹ của tác phẩm nghệ thuật.
- Khuyến khích việc áp dụng các lý thuyết văn học hiện đại vào việc nghiên cứu, giảng dạy văn xuôi Việt Nam đương đại tại các trường đại học và viện nghiên cứu.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Về phạm vi tư liệu: Do số lượng tiểu thuyết lịch sử xuất bản sau 1986 rất lớn (trên 100 tác phẩm), luận án chỉ tập trung khảo sát sâu các tác phẩm tiêu biểu đại diện cho các khuynh hướng; một số tác phẩm dã sử, tiểu thuyết lịch sử mang yếu tố trinh thám hoặc giải trí chưa được bao quát triệt để.
- Về sự tương thích lý thuyết: Luận án ghi nhận tồn tại một "độ chênh" nhất định khi vận dụng các khung lý thuyết tự sự học phương Tây vào việc giải thích đặc thù tư duy nghệ thuật phương Đông và kinh nghiệm văn hóa truyền thống Việt Nam.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử từ các góc độ liên ngành sâu hơn như: tự sự học văn hóa (cultural narratology), phê bình sinh thái, nghiên cứu chấn thương lịch sử (trauma studies) hoặc mở rộng khảo sát sang các thể loại kịch, truyện tranh và phim lịch sử đương đại.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Ngữ văn: Cung cấp tài liệu tham khảo về khung lý thuyết tự sự học và phương pháp ứng dụng tự sự học vào phân tích tác phẩm văn xuôi; đặc biệt hữu ích ở Chương 2 (Người kể chuyện, Điểm nhìn), Chương 3 (Thời gian, Kết cấu) và Chương 4 (Diễn ngôn).
- Đối với giảng viên và nhà nghiên cứu văn học: Là nguồn tư liệu hệ thống về tiến trình tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986; cung cấp các góc nhìn học thuật để xây dựng bài giảng về Văn học Việt Nam đương đại, Thi pháp học và Lý luận văn học.
- Đối với người làm công tác phê bình và biên tập xuất bản: Cung cấp hệ thống tiêu chí nghệ thuật để thẩm định, đánh giá các sáng tác văn học đề tài lịch sử; hỗ trợ nhìn nhận đúng đắn mối quan hệ giữa sự thật lịch sử và hư cấu nghệ thuật.
Câu hỏi thường gặp
1. Khái niệm "Tự sự học" (Narratologie) ra đời chính thức khi nào và do ai đề xướng?
Khái niệm Narratologie (Tự sự học) được nhắc đến lần đầu tiên trong công trình nghiên cứu Grammaire du Décaméron (Ngữ pháp Truyện mười ngày) của nhà lý luận cấu trúc Tzvetan Todorov xuất bản năm 1969 tại Pháp.
2. Tiến trình phát triển của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến nay được chia thành mấy chặng?
Theo tác giả luận án, tiến trình tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến nay trải qua ba chặng đường chính:
- Từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945.
- Từ năm 1945 đến năm 1986.
- Từ năm 1986 đến nay (thời kỳ Đổi mới).
3. Ba câu hỏi nghiên cứu cơ bản của luận án là gì?
Luận án xác định 3 câu hỏi chính:
- Một là: Đặc trưng thể tài tiểu thuyết lịch sử và tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1986 thể hiện ra sao trên các bình diện lịch sử - hư cấu, chức năng soi sáng thực tại, sự đồng cảm của tác giả và đặc trưng hiện đại?
- Hai là: Vận dụng lý thuyết tự sự học nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử sau 1986 cần chú ý đến những bình diện tiêu biểu nào?
- Ba là: Tiểu thuyết lịch sử sau 1986 có những đổi mới căn bản nào về tư duy và phương thức tự sự so với giai đoạn trước 1986?
4. Ba xu hướng chính của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1986 theo phân loại của Nguyễn Văn Dân là gì?
Trong phần tổng quan tài liệu, luận án dẫn lại ý kiến của Nguyễn Văn Dân phân chia tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1986 thành 3 xu hướng cơ bản:
- Tiểu thuyết lịch sử chương hồi khách quan.
- Tiểu thuyết lịch sử giáo huấn.
- Tiểu thuyết lịch sử luận giải.
5. Luận án sử dụng những phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể nào?
Luận án kết hợp 6 phương pháp nghiên cứu: (1) Phương pháp tiếp cận từ lý thuyết tự sự học; (2) Phương pháp loại hình; (3) Phương pháp cấu trúc – hệ thống; (4) Phương pháp so sánh đồng đại và lịch đại; (5) Phương pháp thống kê – phân loại; (6) Phương pháp liên ngành.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Hùng là công trình nghiên cứu hệ thống về tiểu thuyết lịch sử Việt Nam giai đoạn sau năm 1986 dưới lăng kính lý thuyết tự sự học. Bằng việc kết hợp các bình diện trần thuật học (người kể chuyện, điểm nhìn, thời gian, kết cấu và diễn ngôn) với phương pháp liên ngành, công trình đã làm sáng tỏ những cách tân trong tư duy thể loại và phương thức biểu đạt nghệ thuật của các nhà văn đương đại. Luận án khẳng định tiểu thuyết lịch sử sau năm 1986 đã chuyển dịch từ mô hình minh họa chính sử sang mô hình đối thoại, luận giải lịch sử và văn hóa, đánh dấu bước vận động của văn xuôi tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ Đổi mới.