mở đầu và sự kết thúc. Khái niệm văn bản được hiểu một cách khác nhau: 13 - Một số nhà ngôn ngữ học hiểu văn bản không khác gì diễn ngôn, do đó hai thuật ngữ này có thể dùng thay thế cho nhau. - Một số nhà ngôn ngữ học hiểu văn bản là một sản phẩm ít nhiều mang tính vật chất hơn diễn ngôn, nó là kết quả của diễn ngôn, trong khi diễn ngôn được coi như một quá trình dẫn đến tạo ra một văn bản. - Một số nhà ngôn ngữ học hiểu văn bản là một phần của ngôn ngữ có những mục đích có thể nhận diện được, tiếp cận văn bản sẽ nhanh chóng dẫn tới việc phân loại chúng thành một số loại khác nhau về mục đích và đặc trưng ngôn ngữ.
- Một số nhà ngôn ngữ học coi văn bản là một sự trừu tượng hóa, mà diễn ngôn là sự hiện thực hóa về vật chất của một văn bản. - Cuối cùng, một số nhà ngôn ngữ học coi văn bản là sản phẩm viết, còn diễn ngôn là sản phẩm nói. Theo tác giả Nguyễn Thị Ly Kha: “Câu được xem là đơn vị bản lề giữa hệ thống đơn vị ngôn ngữ và đơn vị lời nói. Tuy nhiên, để trao đổi thông tin, giao tiếp, người ta không sử dụng những câu đơn lẻ, rời rạc mà dùng ngôn bản.
Ngôn bản là đơn vị lớn nhất của hoạt động giao tiếp. Hiện nay, để chỉ loại sản phẩm của quá trình tạo lời, có tính thống nhất trọn vẹn về nội dung ý nghĩa, hoàn chỉnh về hình thức, có hai cách gọi ngôn bản và văn bản. Thuật ngữ ngôn bản thường được dùng với nghĩa chỉ sản phẩm của quá trình tạo lời tồn tại dưới dạng nói. Song cũng không ít người gộp chung sản phẩm tồn tại ở dạng nói lẫn dạng viết và gọi chung là ngôn bản.
Tương tự, thuật ngữ văn bản vẫn được dùng với hai nghĩa. Theo nghĩa rộng, văn bản có thể tồn tại ở dạng nói hoặc viết, trong đó, dạng viết là chủ yếu. Theo nghĩa hẹp, văn bản được hiểu là sản phẩm ngôn ngữ hoàn chỉnh và tồn tại dưới dạng viết. Có thể định 14 nghĩa văn bản là sản phẩm của quá trình tạo lời, có tính thống nhất trọn vẹn về nội dung ý nghĩa và hoàn chỉnh về hình thức” [28, 9-10].
Theo Từ điển tiếng Việt: văn bản là “1. Bản viết hoặc in, mang nội dung là những gì cần được ghi để lưu lại làm bằng. Nghiên cứu văn bản cổ. Viết thành văn bản.
Văn bản tiếng Việt của hiệp định kí kết giữa hai nước. Chuỗi kí hiệu ngôn ngữ hay nói chung những kí hiệu thuộc một hệ thống nào đó, làm thành một chỉnh thể mang một nội dung ý nghĩa trọn vẹn. Ngôn ngữ học văn bản” [42, 1395]. Ở luận văn này, chúng tôi căn cứ vào định nghĩa trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 về văn bản để làm cơ sở triển khai đề tài.
Kết cấu của văn bản Kết cấu của văn bản là kết quả của việc sắp xếp, tổ chức các bộ phận ngôn từ có nghĩa của văn bản theo một hình thức nhất định. Văn bản có thể có kết cấu một phần, hai phần, ba, bốn, năm, sáu, bảy phần. Ví dụ văn bản có kết cấu một phần: “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng” (Tục ngữ Việt Nam); văn bản có kết cấu bốn phần: đề (câu 1, 2), thực (câu 3, 4), luận (câu 5, 6), kết (câu 7, 8) của một bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật;… Một cách khái quát, kết cấu đầy đủ và phổ biến thường dùng của một văn bản gồm có bốn thành tố: nhan đề, phần mở, phần thân, phần kết thúc. Nhan đề Trên thực tế, có nhiều cách hiểu khác nhau về “nhan đề”.
Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Nhan đề là tên đặt cho cuốn sách hoặc bài viết” [42, 891]. 15 Trong cuốn Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, Diệp Quang Ban gọi là “đầu đề”: “Đặt đầu đề cho một văn bản ngày nay đã trở thành một “nghệ thuật” phức tạp mà yếu tố chi phối là mục đích sử dụng văn bản…” [4, 106]. Trong Ngữ pháp văn bản và luyện tập làm văn, Nguyễn Thị Ly Kha cũng gọi là “đầu đề”: “Đầu đề là tên gọi của văn bản, gắn bó mật thiết với các bộ phận của văn bản. Văn bản có thể có hoặc không có đầu đề (các bài ca dao, các câu tục ngữ là những văn bản không có đầu đề).
Nhưng đã là văn bản thì có khả năng đặt được đầu đề. Có thể nói đầu đề cũng là một bộ phận cấu thành văn bản” [27, 29]. Trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi quan niệm về nhan đề như sau: Nhan đề là tên chung của một văn bản, một tác phẩm, nó là cái nổi bật nhất để phân biệt văn bản, tác phẩm này với văn bản, tác phẩm khác. Nhan đề do người tạo lập hay sưu tầm, giới thiệu đặt ra, đặt lại, và là một bộ phận thuộc cấu trúc hình thức của văn bản.
Vai trò chính của nhan đề văn bản có tác dụng giới thiệu sơ bộ, khái quát và cô đọng nội dung văn bản. Nhan đề cũng chính là một căn cứ để nhận ra sự hoàn chỉnh kể cả nội dung và hình thức của một văn bản. Tuy nhiên, yếu tố nhan đề không có tính chất bắt buộc một cách tuyệt đối. Một số loại hình văn bản có thể không có nhan đề, chẳng hạn như khẩu hiệu, các bài ca dao, tục ngữ,… Giá trị của nhan đề thể hiện ở sự gắn chặt với tìm tòi của tác giả, ở một vài trường hợp như bằng chứng về những đóng góp cụ thể của nhà văn trong lao động nghệ thuật.
Độc giả không chú ý, không biết đến nhan đề, hoặc không xuất phát từ nhan đề thì hiệu quả giao tiếp có thể giảm đi khá nhiều. Dĩ nhiên, không phải nhan đề nào cũng thâu tóm đầy đủ chủ đề tư tưởng văn bản, biểu hiện nội dung chính văn bản một cách độc đáo. Nhưng, nhan đề thường 16 giữ vị trí quan trọng như những tín hiệu chỉ dẫn con đường đi vào nghệ thuật của tác phẩm. Có nhiều cách để phân loại nhan đề: Xét trong mối quan hệ với nội dung cơ bản của các phần còn lại của văn bản, có thể chia nhan đề thành hai loại chính: nhan đề mang tính chất dự báo (thông báo) và nhan đề mang tính chất nghệ thuật.
Nhan đề mang tính chất dự báo: Nhan đề mang tính chất dự báo là loại nhan đề cung cấp một phần hay toàn bộ nội dung cơ bản của văn bản. Ở đây, nhan đề có thể được tiếp tục chia thành những tiểu loại: Loại nêu đề tài (ví dụ: Hai đứa trẻ - Thạch Lam, Tây Tiến – Quang Dũng, Nắng mới của Lưu Trọng Lư – Lê Tiến Dũng) hay nêu chủ đề của văn bản (ví dụ: Đại cáo bình Ngô – Nguyễn Trãi, Đoạn trường tân thanh – Nguyễn Du, Đôi mắt – Nam Cao, Bước đường cùng – Nguyễn Công Hoan, Vội vàng – Xuân Diệu); hoặc loại phản ánh trực tiếp hay phản ánh gián tiếp nội dung của văn bản. Ví dụ các nhan đề sau trực tiếp phản ánh nội dung văn bản: Cha con nghĩa nặng (Hồ Biểu Chánh), Bắt sấu rừng U Minh Hạ (Sơn Nam), Lão Hạc (Nam Cao); các nhan đề gián tiếp phản ánh nội dung văn bản: Cuộc chia li màu đỏ (Nguyễn Mỹ), Từ ấy (Tố Hữu),… Nhan đề mang tính chất nghệ thuật: Nhan đề mang tính nghệ thuật là những nhan đề được đặt ra với mục đích chủ yếu là tạo sự chú ý, lôi cuốn người đọc hoặc kích thích sự liên tưởng, tưởng tượng của người đọc. Để đặt nhan đề dạng này, người tạo lập văn bản phải có tính sáng tạo và có tư duy nghệ thuật, đồng thời nó cũng đặt ra những yêu cầu nhất định về khả năng lĩnh hội của người tiếp nhận văn bản.
Sau đây là một số ví dụ nhan đề mang tính chất nghệ thuật: Đồng hào có ma, Người 17 ngựa và ngựa người (Nguyễn Công Hoan), Số đỏ (Vũ Trọng Phụng), Màu thời gian (Đoàn Phú Tứ), Những sợi tơ lòng (Chế Lan Viên),… Tuy nhiên, sự phân chia nhan đề như trên chỉ mang tính tương đối nhằm phục vụ cho công tác nghiên cứu, bởi trên thực tế có nhiều nhan đề vừa mang tính dự báo nội dung vừa mang tính chất nghệ thuật, nhiều nhất là trong văn bản nghệ thuật. Xét về mặt ngôn từ, nhan đề có thể được cấu tạo bằng từ, ngữ, hay bằng cú, câu. Chẳng hạn, nhan đề được cấu tạo bằng từ: Đồng chí (Chính Hữu), Tương tư (Nguyễn Bính), Vội vàng (Xuân Diệu), Sóng (Xuân Quỳnh), Điêu tàn (Chế Lan Viên). Nhan đề được cấu tạo bằng ngữ: Đàn ghi ta của Lor-ca (Thanh Thảo), Thuyền và biển (Xuân Quỳnh), Người hàng xóm (Nguyễn Bính).
Nhan đề được cấu tạo bằng cú hay câu: Đất nước đứng lên (Nguyên Ngọc), Trẻ con không được ăn thịt chó (Nam Cao), Ta đi tới (Tố Hữu), Ai đã đặt tên cho dòng sông ? (Hoàng Phủ Ngọc Tường). Như vậy, nhan đề của một văn bản có thể được phân loại theo nhiều dạng khác nhau. Dù được phân loại theo dạng nào, nhan đề cũng đều có giá trị là định danh cho văn bản và có giá trị xác định giới hạn nội dung của văn bản. Thông qua nhan đề, người đọc có thể có được cái nhìn khái quát và cảm nhận ban đầu về văn bản.
Chính vì vậy, người tạo lập văn bản thường rất chú trọng việc đặt nhan đề cho văn bản. Trong tác phẩm văn chương, việc đặt nhan đề còn mang một ý nghĩa lớn hơn đó là một sáng tạo nghệ thuật của nhà văn. Phần mở Tùy vào mỗi loại văn bản, phần mở sẽ có nội dung tương ứng. Chẳng hạn, phần mở của văn bản nghị luận thường nêu lên đề tài, giới hạn phạm vi nghị luận.
Phần mở của văn bản miêu tả thường kèm những yếu tố thuộc hoàn 18 cảnh không gian, thời gian của đối tượng miêu tả. Phần mở của văn bản nghệ thuật thì linh hoạt đa dạng, phong phú tùy thuộc vào đề tài, chủ đề mà nhà văn muốn thể hiện. Nhìn chung, phần mở của các loại văn bản đều nêu lên những yếu tố nội dung sau: đề tài, chủ đề của văn bản; khung cảnh chung của đề tài, chủ đề; giới hạn nội dung được trình bày trong văn bản, định hướng cụ thể cho việc khai triển đề tài, chủ đề ở phần tiếp theo, tức là phần thân. Về hình thức, phần mở thường được viết ngắn gọn, cô đọng.
Về nội dung, phần mở thường mang nội dung khái quát và có tính chất gợi mở. Phần mở hay là phần mở được viết vừa cô đọng vừa có sức lôi cuốn sự chú ý của người đọc.