Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ CHỦ NGHĨA HIỆN SINH VÀ VĂN HỌC HIỆN SINH 1. Triết học hiện sinh 1. Bối cảnh ra đời Trong thế kỷ XX, hiện sinh là một triết học chủ yếu đưa con người trở lại với con người theo đúng nghĩa. Hiện sinh với tư cách là một trào lưu văn hóa triết học xuất hiện đầu tiên ở Đức sau chiến tranh thế giới lần thứ I, trung tâm của triết thuyết này chuyển sang Pháp sau chiến tranh thế giới thứ II và phát triển rầm rộ không chỉ ở các nước phương Tây mà còn trên toàn thế giới.
“Chủ nghĩa hiện sinh” (Existentialism) là một trong những trường phái triết học lớn của trào lưu triết học phi duy lý phương Tây. Khi nghiên cứu về nguồn gốc ra đời của chủ nghĩa hiện sinh, nhiều nhà nghiên cứu nhận định nguyên nhân xã hội dẫn tới sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa hiện sinh là do hậu quả của hai cuộc đại chiến thế giới (1918 - 1939). Cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, sự khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc đã dẫn đến nảy sinh hai cuộc chiến tranh thế giới làm rung chuyển toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội châu Âu. Những tệ nạn xã hội cùng với hậu quả sau hai cuộc thế chiến đã đẩy con người vào khủng hoảng sâu sắc.
Chứng kiến một phương Tây hoang tàn, đổ nát con người cảm thấy kinh hoàng, tuyệt vọng và mất niềm tin vào cuộc sống. Cùng với đó, hai cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật hiện đại đã đem lại sự thay đổi to lớn mang tính bước ngoặt trong sự phát triển của nhân loại. Nhưng bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được đó là những hậu quả nặng nề về môi trường, xã hội, sinh thái, sức khoẻ. Các vấn đề nhân sinh không được cải thiện, con người hy vọng về một thế giới khả quan hơn nhưng thế giới đó đã không xuất hiện.
Từ đó con người trở nên bi quan, sống trong lo âu chán nản, và không còn biết đặt niềm tin vào đâu, mọi sự đều vô nghĩa và phi lý. Xét về mặt lý luận, chủ nghĩa hiện sinh xuất hiện là kết quả thiết yếu của quá trình vận động từ triết học tự nhiên đến triết học nhân sinh. Chủ nghĩa hiện sinh ra đời trên cơ sở phủ định và kế thừa, phát triển tư tưởng của các nhà triết học cổ đại, 10 trực tiếp nhất là triết học phi duy lý thế kỷ XIX về bản thể luận và nhận thức luận. Về tiền đề bản thể luận, từ thời cổ đại, trong khi các nhà triết học tự nhiên như Pythagore, Thales hướng chú ý vào nghiên cứu thế giới tự nhiên, giải mã vũ trụ thì Socrates lại quan tâm theo một hướng khác, ông có tư tưởng tiến bộ, nổi tiếng về đức hạnh với quan điểm: “Hãy tự biết lấy chính mình”.
Theo Socrates, triết học không phải là hiện tượng tư biện, chỉ luận bàn những vấn đề chung không liên quan gì đến cuộc sống thường nhật, mà triết học là phương tiện dạy con người cách sống hay cần phải sống như thế nào. Con người là đối tượng đáng được quan tâm hơn cả, mọi tri thức có liên quan đến bản chất và cuộc sống con người đều đáng được sở hữu và cần phải được tích lũy. Đến thời Trung cổ, những vấn đề về số phận con người được nói tới trong các học thuyết tôn giáo, nhất là trong triết học thần học của Thánh Augustin. Khi viết về đời sống con người, Thánh Augustin đã đề cập đến nhiều khía cạnh như tâm linh, lương tâm, ý nghĩa đời sống, cuộc sống tạm bợ của con người trên trần thế.
Về tiền đề nhận thức luận, triết học cổ điển từ Platon đến Hegel đều tuyệt đối đề cao vai trò lý tính trong nhận thức. Thời bấy giờ khoa học được đặt lên vị thế tối thượng. Tuy nhiên, trong các triết lý cũng hình thành khuynh hướng đối lập, đó là khuynh hướng hoài nghi khoa học. Bằng suy tư uyên bác, Blaise Pascal tuy sống trong thời đại chủ nghĩa cơ giới nhưng lại bảo vệ cá nhân vì ông đã nhận ra bản chất và ý nghĩa quan trọng của hiện sinh cá nhân.
Trong các tác phẩm triết học và văn học, nhất là tập Những điều suy nghĩ đã cho thấy những băn khoăn siêu hình về thân phận con người. Ở thế kỉ XVIII, nhà triết học I. Kant trong tác phẩm của mình đã thể hiện một tư tưởng triết học nhân bản khi quan tâm đến những vấn đề cơ bản của con người, ông nhận ra giới hạn của tư duy duy lý cũng như khoa học và bắt đầu chú ý đến những vấn đề ngoài lý tính con người như cảm tính, trực giác. Đến những năm cuối thế kỉ XIX, khi chủ nghĩa duy lý rơi vào khủng hoảng, khuynh hướng chống chủ nghĩa duy lý phát triển mạnh mẽ với làn sóng phản bác gay gắt triết học duy lý Descartes, Hegel.
Chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ tư tưởng của I. Kant theo hướng vừa kế thừa vừa phản bác, nhà triết học A. Schopenhauer đã khởi xướng nên chủ nghĩa hư vô và chủ nghĩa bi quan. Các vấn đề bản thể luận, nhận thức luận được xem xét ở góc độ mới; A.
Schopenhauer nêu quan niệm về tính chủ thể bằng ý tưởng thế giới là sự tưởng tượng, hiện thực là do 11 con người tưởng tượng ra. Schopenhauer không xem trí tuệ là căn nguyên và nền tảng của con người, theo ông, vị thế đó thuộc về ý chí. Những luận điểm về nhân vị, con người trong tư tưởng Schopenhauer là một trong những nền tảng quan trọng của chủ nghĩa hiện sinh, đặc biệt khơi nguồn cảm hứng cho các nhà hiện sinh sau này. Một ảnh hưởng quan trọng nữa đối với chủ nghĩa hiện sinh là thuyết trực giác của Henri Bergson.
Bergson cho rằng việc nắm bắt cuộc sống không chỉ dựa vào tư duy logic và phương pháp phân tích lý tính, chỉ khi ta nhận thức bằng trực giác ta mới hiểu biết được hiện thực. Trực giác phá vỡ được bức tường ngăn cách nhận thức của con người với vạn vật. Những quan sát bên ngoài chỉ được chuyển hóa thành quan sát bên trong qua con đường trực giác. Trực giác khác với trí tuệ, nó cho ta bắt gặp được tức thời cái tuyệt đối, cái huyền nhiệm, nó cho ta khả năng trực tiếp đi vào trí tuệ, vào cái hiểu biết cao sâu, tinh tế nhất mà không qua suy tư, luận lý.
Bản chất của sự vật là tồn tại trong thời gian. Vì thế, thực tại không thể phân tách hay chia cắt được. Chỉ có trực giác mới nhận biết được điều này, chứ nhận thức phân tích khoa học không thể nào tri nhận được bản chất thực tại. Cách nhận thức đối tượng bằng trực giác, bằng kinh nghiệm trực tiếp của H.
Bergson được các nhà hiện sinh ca ngợi và nhiệt tình đón nhận. Như vậy, cơ sở của chủ nghĩa hiện sinh đã manh nha trong một số tư tưởng về vấn đề con người và nhận thức của các nhà triết học ngay từ thời cổ đại. Song, triết học cổ truyền trong thời điểm đó là triết học về vũ trụ. Vũ trụ to lớn lấn át tất cả khiến con người trở nên bé nhỏ, bi đát hơn là bị bỏ quên.
Có thể thấy từ Socrate, Platon đến Kant, Schopenhauer, Bergson… càng về sau mối quan tâm của triết học càng hướng nhiều về phía con người. Trên cơ sở phê phán và tiếp thu các bậc tiền bối, các hậu bối lừng lẫy không kém những người đi trước như nhà triết học kiêm thần học Đan Mạch S. Kierkegaard, nhà triết học Đức F. Nietzsche, nhà hiện tượng học Đức E.
Husserl đến gần hơn tư tưởng về hiện sinh và được xem là những người có ảnh hưởng trực tiếp nhất đến sự ra đời của trào lưu này. Nietzsche được coi là hai nhà triết học đặt nền tảng cho chủ nghĩa hiện sinh mặc dù họ chưa từng sử dụng thuật ngữ “Chủ nghĩa hiện sinh” trong tác phẩm của mình. Kierkegaard là một triết gia, nhà thần học, ông được coi là ông tổ của triết học hiện sinh và cũng là người đi đầu trong chủ nghĩa hiện 12 sinh hữu thần. Từ bác bỏ lý trí, S.
Kierkegaard xây dựng triết học lấy con người cá nhân phi lý tính làm xuất phát điểm. Kierkegaard phê phán chủ nghĩa duy khái niệm của Hegel và chủ nghĩa thực chứng của A. Khác với quan niệm hiện thực khách quan, tuyệt đối của Hegel, S. Kierkegaard quan niệm thế giới là thế giới mà cá nhân thể nghiệm, nhận thức được.
Con người giữ vị thế chủ thể riêng biệt, có cá tính, khác với các sự vật khác. Ông đưa ra ba giai đoạn của con đường nhân sinh là: hiếu mỹ, đạo hạnh và tôn giáo. Trong đó giai đoạn tôn giáo là giai đoạn bị chi phối bởi tín ngưỡng, ở đây con người mới đạt tới tồn tại thực sự - tồn tại với tư cách nhân vị độc đáo, độc lập, tự quyết, con người là chính họ, đối diện với họ chỉ có Thượng đế. Lúc này, cá nhân mới có thể là xuất phát điểm của triết học, tuy nhiên không phải ai cũng đạt được giai đoạn này.
Kierkergaard, con người tôn giáo là con người đã tìm được “nhân vị” của mình, không còn bị trói buộc bởi những luật lệ phổ quát của luân lý nữa. Triết học của S. Kierkegaard trình bày một tâm hồn hiện sinh luôn luôn bị dằn vặt, vật lộn với chính mình để vượt qua những chặng đường đời. Kierkegaard con đường nhân sinh là con đường đi tới Thượng đế.
Trái ngược với S. Nietszche được xem là ông tổ của hiện sinh vô thần. Ông xây dựng triết lý người hùng (surhomme) nhằm đả phá tất cả những học thuyết nào không giúp cho con người phát triển khả năng vô tận của cuộc hiện sinh, trong đó ông coi hiện sinh tôn giáo là hiện sinh nô lệ, vô bổ. Cho nên, phải giết chết Thượng Đế thì con người siêu nhân mới xuất hiện.
Chủ trương phê bình nền luân lý cổ truyền, F. Nietszche chỉ trích tôn giáo và các giá trị luân lý cổ truyền đã hạ thấp những giá trị cao quý của cuộc hiện sinh, khiến con người trở nên bạc nhược, hèn yếu. Phủ nhận thượng đế, F. Nietszche đưa ra lời tiên đoán cho nhân loại về thời đại hư vô đầy đe dọa với những con người mệt mỏi, vô nghĩa.
Để vượt khỏi tình trạng đó, ông đề xuất triết lý siêu nhân và ý chí hùng cường. Thượng đế đã chết, vậy con người phải tự chủ, truy tìm chân lý ngay trong bản thân mình. Nietszche đưa ra quan điểm về con người siêu nhân - con người luôn luôn vươn lên, vượt qua thượng đế, vượt qua chính mình để đổ dồn vào cuộc hiện sinh.