Diễn Ngôn Biến Sử Trong Tiểu Thuyết Việt Nam Sau 1986: Nghiên Cứu Trường Hợp Nguyễn Mộng Giác

Luận án tiến sĩ phân tích diễn ngôn biên sử trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 qua các tác giả Nguyễn Mộng Giác, Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Xuân Khánh.

Chuyên ngành

Lý luận văn học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2024

220
5
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Mục tiêu nghiên cứu đề tài

1.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

1.3. Phương pháp nghiên cứu đề tài

1.4. Đóng góp mới của luận án

1.5. Cấu trúc của luận án

2. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1. Những nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử dưới ánh sáng lý thuyết phản ánh

2.1.1. Giới thuyết chung về lý thuyết phản ánh

2.1.2. Những nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử Việt Nam thời đổi mới

2.2. Vấn đề đặt ra

2.3. Những nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử dưới ánh sáng lý thuyết diễn ngôn

2.3.1. Từ bước ngoặt ngôn ngữ đến bước ngoặt diễn ngôn hay từ mô hình đơn trị đến mô hình đa bội

2.3.1.1. Bước ngoặt ngôn ngữ
2.3.1.2. Bước ngoặt diễn ngôn

2.3.2. Lịch sử và nghiên cứu tự sự lịch sử dưới ánh sáng lý thuyết diễn ngôn

2.3.3. Những nghiên cứu về tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Mộng Giác, Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Xuân Khánh

2.3.3.1. Những nghiên cứu về tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Mộng Giác
2.3.3.2. Những nghiên cứu về tiểu thuyết lịch sử của Hoàng Quốc Hải
2.3.3.3. Những nghiên cứu về tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh

2.3.4. Hướng nghiên cứu của luận án

2.4. Tiểu kết chương 1

3. CHƯƠNG 2: DIỄN NGÔN BIÊN SỬ TRONG TIỂU THUYẾT CỦA HOÀNG QUỐC HẢI: LỊCH SỬ NHƯ LÀ HÀNH TRÌNH SỰ KIỆN QUỐC GIA

3.1. Hệ chủ đề lịch sử triều cương. Dựng nước và giữ nước

3.2. Cá nhân ưu tú, anh hùng

3.3. Điểm nhìn định giá: sự ưu thắng của lập trường quốc gia

3.3.1. Chính - tà, tốt = xấu

3.3.2. Giá trị lớn — giá trị nhỏ

3.4. Hình thức thể loại tiểu thuyết truyền thuyết

3.5. Khái quát chiến lược diễn ngôn của mô hình tiểu thuyết — truyền thuyết

3.6. Lịch sử như là quá trình hưng vong của các triều đại

3.7. Bức tranh thế giới của các vai - chức năng

3.7.1. Vai — chức năng “Cha”

3.7.2. Vai — chức năng “Chúng con”

3.8. Tiểu kết chương 2

4. CHƯƠNG 3: DIỄN NGÔN BIÊN SỬ TRONG TIỂU THUYẾT CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH: LỊCH SỬ NHƯ LÀ SỰ VA CHẠM CÁC TƯ TƯỞNG HỆ

4.1. Hệ chủ đề: xung đột các tư tưởng hệ

4.2. Xung đột tư tưởng canh tân — thủ cựu, Nho - Phật trong Hà Quý Ly

4.3. Thủ cựu và canh tân

4.4. Nho giáo và Phật giáo

4.5. Xung đột tư tưởng hệ bản địa - ngoại lai trong Mẫu Thượng ngàn

4.6. Xung đột tư tưởng đạo - đời trong Đội gạo lên chùa

4.7. Điểm nhìn định giá: qui luật vận động “âm — dương”

4.8. Sự khác biệt quan niệm xử thế là căn nguyên xung đột xã hội

4.9. Qui luật chuyển hoá “âm — dương” như là nguyên tắc vận động lịch sử

4.10. Hình thức thể loại tiểu thuyết - dụ ngôn trong sáng tác của Nguyễn Xuân Khánh

4.11. Khái quát chiến lược ngôn của mô hình tiểu thuyết

4.12. Khung truyện kể của cái chung cục

4.13. Bức tranh thế giới của các chủ thể lựa chọn

4.14. Tiểu kết chương 3

5. CHƯƠNG 4: DIỄN NGÔN BIÊN SỬ TRONG TIỂU THUYẾT CỦA NGUYỄN MỘNG GIÁC: LỊCH SỬ NHƯ LÀ TÌNH THẾ ĐỜI SỐNG VÀ TRẢI NGHIỆM CÁ NHÂN

5.1. Hệ chủ đề: lịch sử triều đại và lịch sử cá nhân

5.2. Bão táp triều cương và xung đột tư tưởng hệ đạo — đời

5.3. Lịch sử cá nhân như một sự phản chiếu lịch sử xã hội

5.4. Điểm nhìn định giá: số phận cá nhân như là giá trị trung tâm của lịch sử. Số phận cá nhân như là giá trị lịch sử cộng đồng

5.5. Hình thức thể loại: mô hình tiểu thuyết - tiểu sử

5.6. Khái quát chiến lược diễn ngôn của mô hình thể loại tiểu thuyết

5.7. Khung truyện kể của cái đương đại đang trưởng thành

5.8. Bức tranh thế giới của các chủ thể tự xác quyết

5.9. Tiểu kết chương 4

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Diễn Ngôn Biến Sử Tiểu Thuyết Việt Nam

Nghiên cứu diễn ngôn biến sử trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 đặt ra nhiều thách thức, đặc biệt trong bối cảnh văn học Việt Nam đổi mới. Nhiều công trình đã khám phá đề tài này, nhưng phần lớn tập trung vào lý thuyết phản ánh luận Marxistthi pháp học. Tuy nhiên, câu hỏi về sử thựchư cấu vẫn cần được giải đáp bằng những hướng tiếp cận mới. Luận án này tiếp cận tự sự lịch sử từ góc nhìn lý thuyết diễn ngôn, cho rằng mọi tác phẩm lịch sử đều là sự kiến tạo, định hướng người đọc theo ý đồ của tác giả. Điều này có nghĩa là thông tin lịch sử không phải là hiện thực khách quan mà chỉ là những mảnh vỡ của sự kiện nguyên thủy.

1.1. Nghiên Cứu Tiểu Thuyết Lịch Sử Ánh Sáng Lý Thuyết Phản Ánh

Các nghiên cứu về tiểu thuyết lịch sử Việt Nam thường dựa trên lý thuyết phản ánh. Phương pháp này tập trung vào việc đánh giá mức độ phản ánh hiện thực lịch sử trong tác phẩm, đồng thời xem xét giá trị tư tưởng và nghệ thuật. “Nhiều nghiên cứu có những phát hiện thú vị, khẳng định giá trị và vị thế của nhiều tiểu thuyết lịch sử trong tiến trình hiện đại hoá văn học Việt Nam.” Tuy nhiên, cách tiếp cận này đôi khi bỏ qua tính chủ quan trong diễn giải lịch sử của nhà văn. Nó chưa thực sự giải quyết triệt để vấn đề về sự thật lịch sửquan điểm lịch sử được thể hiện.

1.2. Bước Ngoặt Diễn Ngôn Từ Đơn Trị Đến Đa Bội Trong Văn Học Sử

Bước ngoặt diễn ngôn đánh dấu sự thay đổi quan trọng trong nghiên cứu văn học sử. Thay vì xem lịch sử như một thực thể khách quan, nó thừa nhận tính kiến tạo của diễn ngôn. Diễn ngôn biến sử không chỉ đơn thuần là phản ánh lại lịch sử, mà còn là diễn giải, tái hiện, và thậm chí là sáng tạo ra những ý nghĩa lịch sử mới. Điều này dẫn đến sự chuyển đổi từ mô hình đơn trị (một sự thật lịch sử duy nhất) sang mô hình đa bội (nhiều cách diễn giải khác nhau về lịch sử).

II. Vấn Đề Sử Thực Hư Cấu Thách Thức Nghiên Cứu Tiểu Thuyết

Một trong những vấn đề lớn nhất trong nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử là sự phức tạp trong mối quan hệ giữa sử thựchư cấu. Các nhà văn thường sử dụng hư cấu để làm sinh động hóa lịch sử, tạo ra những nhân vật và tình huống hấp dẫn. Tuy nhiên, việc lạm dụng hư cấu có thể dẫn đến việc xuyên tạc sự thật lịch sử. “Để lịch sử đem lại nhiều giá trị cho thế hệ sau, nó cần được tiếp cận từ nhiều phương diện, cần được ghép từ nhiều “mảnh” sự thật với tư duy cởi mở, phù hợp với các loại hình biên sử.” Do đó, cần có những phương pháp tiếp cận phù hợp để đánh giá giá trị của tiểu thuyết lịch sử mà không rơi vào những đánh giá phiến diện.

2.1. Ảnh Hưởng Chủ Nghĩa Hậu Hiện Đại Tính Đa Nghĩa Của Lịch Sử

Chủ nghĩa hậu hiện đại có ảnh hưởng sâu sắc đến cách chúng ta nhìn nhận lịch sử. Theo quan điểm này, lịch sử không phải là một câu chuyện tuyến tính, khách quan, mà là một tập hợp của nhiều diễn giải khác nhau, phụ thuộc vào quan điểmý thức hệ của người kể. Tính đa nghĩa của lịch sử được nhấn mạnh, và không có một sự thật lịch sử tuyệt đối nào cả. Tiểu thuyết lịch sử, trong bối cảnh này, trở thành một không gian để khám phá những góc nhìn lịch sử khác nhau, thậm chí là đối lập.

2.2. Tự Do Ngôn Luận Giải Phóng Sáng Tạo Trong Tiểu Thuyết Việt Nam

Thời kỳ văn học Việt Nam đổi mới chứng kiến sự gia tăng của tự do ngôn luận. Các nhà văn được khuyến khích thử nghiệm những cách tiếp cận mới, khai thác những đề tài nhạy cảm, và thể hiện những quan điểm khác biệt về lịch sử. Điều này tạo điều kiện cho sự phát triển của tiểu thuyết lịch sử, với nhiều tác phẩm dám nhìn thẳng vào những vấn đề gai góc, những vết thương lịch sử, và những trang sử còn nhiều tranh cãi. Sự kiện lịch sử được nhìn nhận lại dưới ánh sáng của tự do ngôn luận.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Diễn Ngôn Biến Sử Hướng Tiếp Cận Mới

Luận án sử dụng lý thuyết diễn ngôn để phân tích tiểu thuyết lịch sử. Lý thuyết diễn ngôn xem xét cách lịch sử được kiến tạo thông qua ngôn ngữvăn bản. Nó tập trung vào việc phân tích các chiến lược diễn ngôn mà nhà văn sử dụng để xây dựng diễn giải lịch sử của mình. “Từ góc nhìn diễn ngôn, chúng tôi quan niệm mọi tác phẩm lịch sử đều là kiến tạo, định hướng người tiếp nhận lĩnh hội hiện thực theo ý đồ của người phát.” Phương pháp này cho phép chúng ta hiểu sâu hơn về cách lịch sử được tái hiện và diễn giải trong văn học.

3.1. Tiếp Cận Tự Sự Học Ứng Dụng Nga Mô Hình Phân Tích Chiến Lược

Luận án vận dụng tự sự học ứng dụng Nga để xác định các mô hình phân tích chiến lược diễn ngôn văn học. Bằng cách bám sát văn bản tác phẩm, phương pháp này giúp làm sáng tỏ cách nhà văn tổ chức cốt truyện, xây dựng nhân vật, và sử dụng các thủ pháp nghệ thuật để truyền tải thông điệp về lịch sử. Khung truyện kểbức tranh thế giới được phân tích kỹ lưỡng để hiểu rõ hơn tính chủ quan trong diễn giải lịch sử.

3.2. Phân Tích Hệ Chủ Đề Điểm Nhìn Giải Mã Diễn Ngôn Biến Sử

Việc phân tích hệ chủ đềđiểm nhìn là rất quan trọng để giải mã diễn ngôn biến sử. Hệ chủ đề cho thấy những vấn đề lịch sử mà nhà văn quan tâm, trong khi điểm nhìn tiết lộ quan điểmgiá trị mà nhà văn muốn truyền tải. Sự kết hợp giữa hệ chủ đềđiểm nhìn tạo nên một diễn ngôn lịch sử độc đáo, phản ánh ý thức hệkhuynh hướng văn học của nhà văn. Ký ức lịch sử cá nhân cũng đóng vai trò quan trọng trong việc định hình diễn ngôn biến sử.

IV. Nghiên Cứu Trường Hợp Nguyễn Mộng Giác Hoàng Quốc Hải Khánh

Luận án tập trung vào nghiên cứu trường hợp tiểu thuyết lịch sử của ba nhà văn tiêu biểu: Nguyễn Mộng Giác, Hoàng Quốc Hải, và Nguyễn Xuân Khánh. Ba nhà văn này đại diện cho ba khuynh hướng văn học khác nhau, và mỗi người có một cách tiếp cận riêng đối với lịch sử. Nghiên cứu trường hợp giúp làm sáng tỏ những đặc điểm riêng biệt trong diễn ngôn biến sử của mỗi nhà văn, đồng thời cho thấy sự đa dạng và phong phú của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1986.

4.1. Chiến Lược Biên Sử Truyền Thống và Cách Tân trong Văn Học

Nghiên cứu về diễn ngôn biên sử của các nhà văn sẽ cho thấy sự kết hợp giữa truyền thốngcách tân. Các nhà văn vẫn sử dụng những mô típbiểu tượng quen thuộc trong văn hóa Việt Nam, nhưng đồng thời cũng thử nghiệm những thủ pháp nghệ thuật mới, đưa vào những quan điểm lịch sử hiện đại, và phản ánh những biến đổi xã hội Việt Nam sau 1986. Văn hóa hậu chiến cũng ảnh hưởng đến trào lưu văn học này.

4.2. Tiểu Thuyết Hóa Lịch Sử Vấn Đề Tái Hiện Hình Tượng Lịch Sử

Việc tiểu thuyết hóa lịch sử đặt ra nhiều vấn đề về cách tái hiện hình tượng lịch sử. Các nhà văn phải đối mặt với thách thức làm sao để tạo ra những nhân vật lịch sử chân thực, sống động, nhưng đồng thời vẫn đảm bảo tính chính xác về sự thật lịch sử. Điều này đòi hỏi sự cân bằng giữa sáng tạo nghệ thuậtnghiên cứu lịch sử. Sự thật lịch sử đôi khi bị làm mờ bởi tính chủ quan của người viết.

V. Ứng Dụng Thực Tiễn Giá Trị Mô Hình Diễn Ngôn Biến Sử Văn Học

Nghiên cứu này có giá trị ứng dụng trong việc giảng dạy và nghiên cứu văn học Việt Nam. Việc phân tích diễn ngôn biến sử giúp sinh viên và các nhà nghiên cứu hiểu sâu hơn về tiểu thuyết lịch sử, đồng thời phát triển khả năng phê bình văn học. “Luận án góp tiếng nói hoá giải nan đề sử thực — hư cấu, xác định của giá trị cá mô hình kiến tạo diễn ngôn lịch sử trong văn học.” Kết quả nghiên cứu cũng có thể được sử dụng để xây dựng những chương trình học tập mới, nhằm nâng cao nhận thức về lịch sửvăn hóa Việt Nam.

5.1. Phê Bình Văn Học Thoát Khỏi Vấn Đề Sử Thực Hư Cấu

Nghiên cứu diễn ngôn biến sử giúp người đọc và nhà phê bình văn học thoát khỏi sự ám ảnh về sử thựchư cấu. Thay vì chỉ tập trung vào việc đánh giá mức độ chính xác của lịch sử, chúng ta có thể đánh giá cao giá trị nghệ thuậttư tưởng của tác phẩm. Điều này mở ra những hướng tiếp cận mới trong phê bình văn học, cho phép chúng ta khám phá những ý nghĩagiá trị tiềm ẩn trong tiểu thuyết lịch sử.

5.2. Văn Học Và Quyền Lực Nghiên Cứu Ý Thức Hệ Trong Tác Phẩm

Phân tích diễn ngôn biến sử cũng giúp chúng ta hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa văn họcquyền lực. Các tác phẩm văn học không chỉ phản ánh hiện thực xã hội, mà còn góp phần định hình ý thức hệquan điểm của người đọc. Nghiên cứu ý thức hệ trong tiểu thuyết lịch sử giúp chúng ta nhận diện những giá trị, niềm tin, và tư tưởng được truyền tải, đồng thời đánh giá ảnh hưởng của chúng đối với xã hội. Văn học và ý thức hệ có mối quan hệ chặt chẽ.

VI. Kết Luận Hướng Nghiên Cứu Mới Cho Tiểu Thuyết Lịch Sử Việt

Nghiên cứu diễn ngôn biến sử mở ra những hướng tiếp cận mới cho tiểu thuyết lịch sử Việt Nam. Bằng cách tập trung vào tính kiến tạo của ngôn ngữvăn bản, chúng ta có thể hiểu sâu hơn về cách lịch sử được tái hiện và diễn giải trong văn học. “Luận án khơi gợi nhiều vấn đề khoa học liên quan thẩm quyền người phát (giọng, mặt nạ tu từ) và người nhận (vị thế) trong kiến tạo diễn ngôn văn học…” Hướng nghiên cứu này hứa hẹn sẽ mang lại những khám phá mới về tiểu thuyết lịch sử, đồng thời góp phần làm phong phú thêm văn học Việt Nam.

6.1. Tiếp Tục Nghiên Cứu Mở Rộng Phạm Vi Khảo Sát Tác Phẩm

Cần tiếp tục mở rộng phạm vi khảo sát các tác phẩm tiểu thuyết lịch sử để có một cái nhìn toàn diện hơn về diễn ngôn biến sử trong văn học Việt Nam. Nghiên cứu thêm các tác phẩm của những nhà văn khác, đặc biệt là những tác phẩm mới xuất bản, sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về những khuynh hướngtrào lưu hiện tại trong tiểu thuyết lịch sử.

6.2. Nghiên Cứu So Sánh Đối Chiếu Với Văn Học Thế Giới

Nghiên cứu so sánh tiểu thuyết lịch sử Việt Nam với văn học thế giới sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về những đặc điểm riêng biệt của văn học Việt Nam, đồng thời học hỏi những kinh nghiệm sáng tạo từ các nền văn học khác. Việc đối chiếu với các tác phẩm tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng trên thế giới sẽ giúp chúng ta đánh giá khách quan hơn giá trị của văn học Việt Nam.

28/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CUU 1. Những nghiên cứu tiểu thuyết lich sử đưới ánh sáng lý thuyết phan ánh 1. Giới thuyết chung về lý thuyết phan ánh Trong phạm vi luận án, chúng tôi không đặt ra nhiệm vụ trình bày hệ thống, phân tích sâu các vấn dé của thuyết phản ánh. Tuy nhiên, dé thấu tỏ những vấn đề tồn tại trong các nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử ở Việt Nam hiện nay, đồng thời định rõ hướng phát triển của luận án, chúng tôi khái quát một số điểm quan trọng của phản ánh luận Marxist — lý thuyết ở vị trí trung tâm của bức tranh lý luận — phê bình văn học từ nửa sau thế kỷ XX đến nay.

Lý thuyết phản ánh Marxist ra đời dựa trên nền tảng triết học duy vật biện chứng. do Karl Marx đề xướng vào thế kỷ XIX. Có thể khái quát triết học K. Marx ở một số điểm cơ bản.

Thứ nhất, mọi vật trong vũ trụ đều mang hai thuộc tính: vật chất và phản ánh. Thuộc tính vật chất cho phép vật tồn tại khách quan, không lệ thuộc vào ý muốn của con người, trong khi đó thuộc tính phản ánh của vật lại cho phép con người nhận thức được đặc trưng tồn tại của chúng. Thứ hai, tồn tại người có hai phạm trù: ý thức và vật chất, trong đó vật chất giữ vai trò quyết định ý thức. Thứ ba, cấu trúc xã hội gồm hai phần: hạ tầng kinh tế và thượng tầng ý thức.

Thượng tầng ý thức bao gồm các lĩnh vực tư tưởng hệ như triết học, văn hoá, nghệ thuật, chính trị, tôn giáo.tồn tại phụ thuộc vào hạ tầng kinh tế (tổ chức, quan hệ sản xuất). Trên nền tảng triết học duy vật của K. Marx, mĩ học phản ánh luận coi văn học là hình thái ý thức, phản ánh hiện thực xã hội. Mĩ học phản ánh luận phát triển theo nhiều hướng.

Có sự khác nhau giữa lý thuyết phản ánh Marxist ở phương Tây và ở Liên Xô. Các nhà khoa học phương Tây như Gyorgy Lukács phát triển theo hướng hàn lâm, nghiên cứu các vấn đề bản thể luận văn hoá — xã hội, nghệ thuật, chú ý tính lịch sử và mối quan hệ chứng giữa các đối tượng. Đầu thế ky XX, Vladimir Ilyich Lenin bé sung, phát triển triết học K. Marx theo hướng ứng dụng thực tiễn, gắn liền đấu tranh giai cấp.

Theo đó, văn học với tư cách là hình thái ý thức xã hội trở thành một bộ phận trong đấu tranh giai cấp. 10 Lý thuyết phản ánh Marxist (truyền thống Xô Viết) nhập vào Việt Nam vào những thập niên đầu thế kỷ XX, trở thành dòng lý luận chủ lưu trong suốt nhiều thập kỷ sau đó. Thuyết phản ánh Marxist coi văn học là một hình thái ý thức xã hội thẩm mĩ với đặc trưng cố hữu là phản ánh hiện thực. Mọi vấn đề của văn học đều được quy về ba phương diện: bản thé luận, nhận thức luận và giá trị luận.

Dé trả lời vấn dé bản thé luận (tồn tại luận) văn học, nhà nghiên cứu đi tìm bức tranh thế giới là những hình ảnh cụ thể - cảm tính được mô tả trong tác phẩm. Để trả lời vấn đề nhận thức luận văn học, nhà nghiên cứu “phiên dịch” những hình ảnh cụ thé - cảm tính sang các tang ý nghĩa trừu tượng. Vì văn học là hình thái ý thức xã hội nên giá trị nhận thức của nó bao giờ cũng là giá trị tư tưởng hệ. Nội hàm tư tưởng hệ thu hẹp trong văn nghệ chỉ còn là ý nghĩa thế giới quan, lập trường giai cấp, tính đảng.

Các nhà lý luận theo thuyết phản ánh quan niệm ngôn ngữ như công cụ, vỏ của tư duy, đồng nhất ngôn ngữ với sự vật (tính cập vật). Đối với văn học, ngôn ngữ là chất liệu, công cụ để nhà văn sáng tạo. Phản ánh luận trao cho văn học sức mạnh to lớn: phản ánh hiện thực đời sống bừa bộn, phức tạp trong những hình tượng nghệ thuật điên hình. Hiện thực trong quan niệm của lý thuyết gia Marxist là thực tại đời sống, là bức tranh thế giới phân lập, đối kháng giữa hai đối cực thống trị và bị trị, sai lầm và đúng đắn.

Hiện thực là giá trị cốt lõi của tác phâm văn học, ngang hàng giá trị nhân đạo và cao hơn giá trị nghệ thuật. Vì vậy, khám phá giá trị hiện thực của tác phẩm chính là khám phá thế giới quan, lập trường giai cấp của nhà văn. Sau năm 1986, bức tranh lý luận văn học ở Việt Nam da dạng hon với sự góp mặt của các lý thuyết phương Tây hiện đại. Tuy vậy, thuyết phản ánh Marxist vẫn giữ vị trí trung tâm của bức tranh lý luận, được vận dụng phổ biến nhưng dần linh hoạt và mềm mại hơn.

Những nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử Việt Nam thời đổi mới Trong thời kì đổi mới, tiểu thuyết lịch sử là hiện tượng đặc biệt, góp phan mang lại sự sôi nôi cho đời sống văn học. Tiểu thuyết lịch sử là đối tượng khảo sát của nhiều bài nghiên cứu, luận văn, luận án, chuyên luận và giáo trình. Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy nhiều ý kiến tranh luận cũng như những công trình nghiên cứu quy mô tiếp cận, đánh giá thể loại này dưới ánh sáng phản ánh luận Marxist (chủ yếu theo truyền thống Xô Viết). Tiếp cận tác phẩm dưới ánh sáng lý thuyết phản ánh tat yếu đặt ra vấn 11 đề hiện thực, tức là đi vào giải quyết mối quan hệ giữa sử thực và hư cấu, phạm vi và quyền hạn sáng tạo của nhà văn.

Đứng trước truyền thống mĩ học đề cao giá trị hiện thực, đồng nhất hiện thực với cái nguyên thủy, các tác phẩm tự sự lịch sử ở Việt Nam không tránh khỏi cái nhìn đối chiếu văn - sử từ phía người đọc. Một số tác phẩm hư cấu lịch sử thổi bùng lên những cuộc tranh luận gay gắt. Đáng chú ý nhất là cuộc tranh luận cuối thập niên 80 về ba truyện lịch sử: Kiếm sắc, Vang lửa, Phẩm tiết của Nguyễn Huy Thiệp. Nội dung cuộc tranh luận chia thành hai luồng ý kiến.

Một số phản bác gay gắt sáng tạo của nhà văn, xem day là những truyện “chứa không ít sai lầm, lệch lạc” khi xây dựng những chỉ tiết hư cấu về anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ, hoán đổi vai trò lịch sử của Nguyễn Du, Nguyễn Ánh. Những người này cho rằng cách viết của Nguyễn Huy Thiệp “bôi nhọ” thần tượng, “bắn súng lục vào quá khứ”, xúc phạm tỉnh thần dân tộc. Theo hướng này là các bài viết: “Về mối quan hệ giữa sử và văn” của Tạ Ngọc Liễn, “Có một cách đọc “Vàng lửa” của Đỗ Văn Khang, “Viết như thế cũng là một cách bắn súng lục vào lịch sử” của Nguyễn Thúy Ái, các ý kiến bình luận của Vũ Phan Nguyên, Mai Ngữ, Bùi Hiển, Hồ Phuong, Ngọc Oanh,. Một số khác ếp cận truyện lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp trên những phương diện khác trực tiếp hoặc gián tiếp tranh luận, bảo vệ, ca ngợi những sáng tạo độc đáo của nhà văn góp phần nâng tư duy nghệ thuật và tư duy lịch sử của Việt Nam lên tầm cao mới: thoát khỏi tư duy sử thi, chuyển sang tư duy thế sự, chú ý đến đời sống và ý thức con người cá nhân.

Theo quan điểm này là các bài viết: “Đọc văn phải khác với đọc sử” của Lại Nguyên Ân, “Một cách hiểu truyện ngắn “Vàng lửa” của Thùy Sương, “Bàn về truyện ngắn “Vàng lửa” của Nguyễn Huy Thiệp” của Ngô Văn Giá, “Vang lửa” của Nguyễn Huy Thiệp “triết học lịch sử” hay là “văn xuôi nghệ thuật”? của Trương Hồng Quang - Nguyễn Xuân Mai, “Về một lối cảm thụ và phê bình “bắt vít”? của Nguyễn Hữu Sơn và Trịnh Bá Dinh, và các ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu khác như Hoàng Ngọc Hiến, Vương Anh Tuấn, Nguyễn Dang Mạnh, Dang Anh Dao,. Những bài viết tranh luận trong giai đoạn này được Pham Xuân Nguyên tổng hợp trong cuốn Di tim Nguyễn Huy Thiệp, do Nhà xuất bản Van hoá Thông tin ấn hành, năm 2001. Sau “cơn bão” tranh luận, truyện lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp được đón nhận, truyền cảm hứng sáng tạo cho nhiều nhà văn. Tuy nhiên, các vấn đề về mức độ, phạm vi hư cấu, quyền hạn của nhà văn khi việt về đề tài 12 lịch sử vẫn chưa có được quan điểm thống.

Người đọc cũng chưa hoàn toàn cởi mở trong tiếp nhận thể loại này. Năm 2010, tiểu thuyết Hội thé của nhà văn Nguyễn Quang Thân đạt giải của Hội Nhà văn Việt Nam. Vấn đề hư cấu lịch sử và quyền hạn tác giả trong sáng tạo nghệ thuật một lần nữa trở thành tiêu điểm tranh luận. Hội thé lấy bối cảnh là giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống quân Minh của nghĩa quân Lam Sơn: đại quân của Lê Lợi đóng ở trại Bồ Đề, chuẩn bị tấn công thành Đông Quan, cứ điểm cuối cùng của quân viễn chỉnh do Tổng binh Vương Thông cầm đầu.

Cuốn tiểu thuyết dựng lên hai cuộc chiến: một giữa nghĩa quân với quân viễn chỉnh và một ngay trong lòng tướng sĩ Lam Sơn giữa bên chủ hòa (Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Pham Văn Xảo,.) và bên chủ chiến (Phạm Vấn, Lê Sát,. Nguyễn Trai — nhân vat trung tâm — được khắc họa trong hình tượng quân sư mưu lược, đóng góp công đầu cho thắng lợi của nghĩa quân Lê Lợi nhưng lại luôn bị các tướng sĩ xúc xiểm, cô lập. Đối lập với tỉnh thần cao thượng, không vụ lợi của phe chủ hòa là lòng hiếu chiến, đố ky, hiềm khích của võ tướng Lam Sơn. Còn Lê Lợi, ông hiện diện trong vai một thủ lĩnh nhiều toan tính cá nhân, lợi dụng người trí thức và dũng sĩ.

Ủng hộ, ca ngợi tài năng sáng tạo của tác giả, nhà phê bình Lê Thành Nghị, trong bài “Hội thê lịch sử và tiểu thuyết", cho rằng nhà văn có quyền sáng tạo tác phẩm nghệ thuật để lấp đầy “những trang trắng của lịch sử”. Nguyễn Quang Thân đã dùng tiểu thuyết của mình lấp đầy những trang trắng lịch sử về quá trình xây dựng ý tưởng dụ hàng tướng nhà Minh và cái giá phải trả để đi đến kết thúc chiến tranh êm đềm chưa từng có trong lịch sử chống quân xâm lược, duy trì nền hòa bình kéo dài ba trăm năm mươi năm sau đó cho Đại Việt. Ông cũng nhân mạnh đến tư duy tiểu thuyết hiện đại của #ội thé: nhìn lịch sử như những khả năng, mượn quá khứ nói hiện tại (bi kịch của người trí thức thời bình).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Diễn Ngôn Biến Sử Trong Tiểu Thuyết Việt Nam Sau 1986" mang đến cái nhìn sâu sắc về sự phát triển của diễn ngôn trong văn học Việt Nam từ sau năm 1986. Tác giả phân tích cách mà các tiểu thuyết phản ánh những biến đổi xã hội, văn hóa và chính trị, đồng thời khám phá những yếu tố lịch sử ảnh hưởng đến nội dung và hình thức của tác phẩm. Độc giả sẽ nhận thấy được sự phong phú và đa dạng trong cách thể hiện nhân vật, bối cảnh và các chủ đề lớn trong tiểu thuyết, từ đó mở rộng hiểu biết về văn học hiện đại Việt Nam.

Để tìm hiểu thêm về các khía cạnh khác của văn học và ngôn ngữ, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn tốt nghiệp hình tượng người đảng viên cộng sản nga trong tiểu thuyết đất vỡ hoang của m sôlôkhôp, nơi khám phá hình tượng nhân vật trong bối cảnh lịch sử cụ thể. Ngoài ra, tài liệu Nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết sóng ngầm của linda lê sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về kỹ thuật kể chuyện trong văn học. Cuối cùng, Đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật tiểu thuyết tây phương mỹ nhơn của huỳnh thị bảo hòa sẽ mở rộng thêm kiến thức về ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết. Những tài liệu này không chỉ bổ sung cho nghiên cứu của bạn mà còn giúp bạn khám phá sâu hơn về các chủ đề liên quan trong văn học Việt Nam.