Tổng quan về luận án

Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986 bước vào thời kỳ chuyển mình sâu sắc cùng công cuộc Đổi mới, giải phóng tư duy nghệ thuật khỏi hệ hình thi pháp sử thi đơn vị và phản ánh luận dung tục. Tuy nhiên, đời sống học thuật trong nước tồn tại sự giằng co dai dẳng quanh mối quan hệ giữa "sử thực" và "hư cấu". Luận án tiến sĩ ngữ văn chuyên ngành Lý luận văn học (Mã số: 9220120) của tác giả Lê Thị Gấm, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thành Thi tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh (2024), mang tên: "Diễn ngôn biên sử trong tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986: trường hợp Nguyễn Mộng Giác, Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Xuân Khánh" là một công trình mang tính tiên phong. Luận án giải quyết triệt để nan đề nhận thức luận về tính chân thật lịch sử bằng cách chuyển dịch từ mô hình phản ánh luận đơn trị sang hệ hình lý thuyết diễn ngôn và tân tự sự học ứng dụng.

Khoảng trống nghiên cứu (research gap) mà luận án định vị bắt nguồn từ thực trạng giới phê bình trong nước đa phần tiếp cận văn xuôi lịch sử từ thi pháp học cấu trúc bề mặt hoặc phản ánh luận kinh điển. Cách tiếp cận này dẫn tới sự chia rẽ cực đoan: một bên phê phán các sáng tác có yếu tố giải ảo, sai lệch sử liệu (như các cuộc tranh luận về truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp hay tiểu thuyết Hội thề của Nguyễn Quang Thân), một bên phủ nhận các tác phẩm bám sát chính sử (như tiểu thuyết của Hoàng Quốc Hải) vì cho rằng thiếu tính cách tân. Tác giả Lê Thị Gấm chỉ ra rằng: "thông tin lịch sử trong tác phẩm của nhà văn hay trong tác phẩm của nhà sử học đều không phải là hiện thực khách quan, nguyên khối mà chỉ là những 'mảnh vỡ' của sự kiện nguyên thủy."

Luận án đặt ra và giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu tường minh:

  1. RQ1: Làm thế nào để xây dựng một khung lý thuyết tự sự học diễn ngôn phù hợp nhằm giải mã cấu trúc chiều sâu của văn bản tiểu thuyết lịch sử Việt Nam?
  2. RQ2: Cơ chế kiến tạo thế giới nghệ thuật, hệ chủ đề và điểm nhìn định giá trong các mô hình diễn ngôn biên sử của Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Xuân Khánh và Nguyễn Mộng Giác vận hành như thế nào?
  3. RQ3: Ký ức thể loại (truyền thuyết, dụ ngôn, tiểu sử) đóng vai trò gì trong việc chuyển tải các thông điệp tư tưởng và hóa giải nhị nguyên "sử thực – hư cấu" trong tiến trình hiện đại hóa văn học sau 1986?

Phạm vi khảo sát quy tụ 6 bộ tiểu thuyết đồ sộ với quy mô hàng ngàn trang văn bản: Bão táp triều Trần (6 tập), Tám triều vua Lý (4 tập) của Hoàng Quốc Hải; Hồ Quý Ly (2000), Mẫu Thượng ngàn (2005), Đội gạo lên chùa (2011) của Nguyễn Xuân Khánh; và trường thiên tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ (4 tập, hoàn thành 1981, xuất bản 1990/1998) của Nguyễn Mộng Giác. Ý nghĩa đột phá của luận án là xác lập một hệ hình nghiên cứu mới, giải phóng thẩm quyền của nhà văn và mở rộng đường biên tiếp nhận cho văn xuôi lịch sử đương đại.

Literature Review và Positioning

Bức tranh học thuật về tiểu thuyết lịch sử tại Việt Nam từ nửa sau thế kỷ XX chịu sự chi phối chủ đạo của mỹ học phản ánh luận Marxist truyền thống Xô Viết. Ở giai đoạn này, tác phẩm văn học được coi là hình thái ý thức xã hội phản ánh hiện thực thông qua các hình tượng điển hình trong hoàn cảnh điển hình. Đứng trước truyền thống mĩ học đề cao tính chân thật lịch sử nguyên bản, các tác phẩm tự sự lịch sử luôn bị đặt dưới sự kiểm duyệt và đối chiếu cơ học với chính sử.

Hai luồng ý kiến đối lập đã hình thành rõ nét trong lịch sử phê bình:

  • Khuynh hướng chính thống – thực chứng: Tiêu biểu qua các nghiên cứu của Tạ Ngọc Liễn, Đỗ Văn Khang, Nguyễn Văn Dân (2012), Đoàn Thị Huệ (2018). Khuynh hướng này khẳng định tiểu thuyết lịch sử bắt buộc phải trung thành với biến cố, nhân vật và tinh thần thời đại được ghi lại trong biên niên sử. Nguyễn Văn Dân cho rằng hư cấu chỉ đóng vai trò như "chất phụ gia""không được phép mâu thuẫn với logic của các sự kiện và cốt truyện lịch sử". Quan niệm này giới hạn quyền sáng tạo của nhà văn và biến văn học thành công cụ minh họa cho sử học.
  • Khuynh hướng giải cấu trúc – mỹ học hiện đại: Tiêu biểu qua các luận điểm của Lại Nguyên Ân, Hoàng Ngọc Hiến, Phạm Xuân Thạch (2004), Trần Đình Sử (2014), Lã Nguyên (2018). GS. Trần Đình Sử khẳng định: "lịch sử thực chất cũng chỉ là một thứ diễn ngôn""sự thật lịch sử là một khái niệm ẩn dụ, mang tính chủ quan". Việc tiếp cận văn học phải phân biệt rạch ròi giữa đọc văn và đọc sử, coi lịch sử trong tiểu thuyết là chất liệu ký hiệu để biểu đạt những trăn trở của con người đương đại.
                                 BẢNG SO SÁNH LITERATURE REVIEW & POSITIONING

Khi đặt cạnh các công trình quốc tế, nghiên cứu của Lê Thị Gấm có sự kế thừa và đối thoại sâu sắc. Trong tác phẩm kinh điển The Historical Novel (1937), György Lukács phân tích tiểu thuyết lịch sử phương Tây thế kỷ XIX (tiêu biểu là Walter Scott) qua lăng kính động lực kinh tế - xã hội và xung đột giữa các giai tầng lịch sử. Ngược lại, Hayden White trong Metahistory: The Historical Imagination in 19th-Century Europe (1973) chứng minh rằng mọi công trình sử học hay văn học đều là sản phẩm của cấu trúc tu từ học (tropology) và phương thức tạo cốt truyện (emplotment).

Bằng việc tích hợp lý thuyết giao tiếp diễn ngôn của trường phái Tân tự sự học ứng dụng Nga (V. I. Tyupa, N. Tamarchenko), tác giả Lê Thị Gấm vượt qua cả tính duy thực tất định của Lukács lẫn tính tương đối luận triệt để của Hayden White. Nghiên cứu xác lập vị thế của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam như một không gian đa thoại, nơi các tác giả sử dụng các thể nguồn văn hóa khác nhau để giải mã lịch sử dân tộc.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án tạo ra một bước chuyển dịch hệ hình (paradigm shift) từ tư duy phân tích nhị nguyên sang tư duy loại hình diễn ngôn đa bội. Công trình mở rộng và hệ thống hóa lý thuyết về diễn ngôn biên sử (historiographical discourse) thông qua việc kết hợp ba bình diện:

                            KHUNG PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN BIÊN SỬ
  1. Hệ mệnh đề lý thuyết 1 (Proposition 1): Tác phẩm tự sự lịch sử không phản ánh nguyên bản dĩ vãng khách quan, mà là một hành vi tạo sinh văn bản được cấu trúc hóa theo ý đồ thẩm mỹ của tác giả trừu tượng nhằm định hướng tiếp nhận.
  2. Hệ mệnh đề lý thuyết 2 (Proposition 2): Bản chất của thể loại văn học chính là "ký ức văn hóa" (cultural memory theo M. Bakhtin). Thể loại quy định mã truyện kể, điều phối cấu trúc không - thời gian và lựa chọn kiểu nhân vật trung tâm.
  3. Hệ mệnh đề lý thuyết 3 (Proposition 3): Sự đa dạng của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1986 là kết quả của sự phân hóa các chiến lược biên sử, tương ứng với ba thể nguồn nguyên mẫu: truyền thuyết, dụ ngôntiểu sử.

Khung phân tích độc đáo

Luận án vận dụng xuất sắc khái niệm diễn ngôn của V. I. Tyupa (2011) trong Trần thuật học như là khoa học phân tích diễn ngôn trần thuật: "Diễn ngôn (tiếng Pháp: discours - lời nói) — là phát ngôn, hành động lời nói tạo sinh văn bản gồm người nghe bình đẳng với người nói và được xem là 'sự kiện giao tiếp tương tác văn hoá xã hội' (Van Dijk) giữa chủ thể, khách thể và người tiếp nhận."

Khung phân tích được cấu trúc hóa qua việc khảo sát đối tượng tham chiếu dựa trên 3 trụ cột khoa học:

  • Hệ chủ đề (Thematic System): Dựa trên phân loại 4 loại hình nội dung lịch sử văn học của Gennady Pospelov (thần thoại, lịch sử dân tộc, phong tục - thế sự, đời tư - tiểu sử) để nhận diện bức tranh thế giới.
  • Điểm nhìn định giá (Evaluative Axiology): Khảo sát hệ giá trị mà người kể chuyện tiềm ẩn sử dụng để phán đoán các biến cố lịch sử (lập trường đại tự sự quốc gia, tư tưởng triết học nhị nguyên âm - dương, hay chủ nghĩa nhân bản hiện sinh).
  • Hình thức thể loại hạt nhân (Genre Paradigm): Phân tích sự tái sinh của các thể loại tự sự cổ xưa trong tiểu thuyết hiện đại, xác định ranh giới giữa lớp lời lặp lại (iterative) và lớp lời hành ngôn (performative).

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Luận án định vị trên nền tảng bản thể luận và nhận thức luận của Chủ nghĩa kiến tạo xã hội (Social Constructivism) kết hợp với Ký hiệu học văn hóa (Cultural Semiotics) của Trường phái Tartu–Moscow (Yury Lotman). Nghiên cứu từ bỏ quan điểm thực chứng ngây thơ để tiếp cận văn bản như một cấu trúc biểu nghĩa đa tầng.

                      SƠ ĐỒ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐA PHƯƠNG THỨC

Thiết kế nghiên cứu đa tầng (Multi-level Design) được phân định theo 3 cấp độ:

  • Cấp độ vĩ mô (Macro-level): Khảo sát hệ hình tư duy lý luận văn học tại Việt Nam từ trước 1986 đến giai đoạn Đổi mới và Hội nhập quốc tế.
  • Cấp độ trung mô (Meso-level): Định vị phong cách và thi pháp thể loại của 3 đại diện tiêu biểu: Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Mộng Giác.
  • Cấp độ vi mô (Micro-level): Giải mã chi tiết văn bản học từng tác phẩm thông qua cấu trúc ngữ nghĩa, lời văn nghệ thuật, điểm nhìn và mặt nạ tu từ.

Quy trình nghiên cứu rigorous

Quy trình khảo sát được thực hiện qua các bước tam giác hóa dữ liệu (data triangulation) và phương pháp luận chặt chẽ:

  1. Thu thập và phân loại dữ liệu: Lập danh mục toàn bộ tác phẩm tiểu thuyết lịch sử tiêu biểu sau 1986, trích xuất hệ thống sự kiện, nhân vật và motif nghệ thuật.
  2. Thiết lập tiêu chí phân loại: Ứng dụng mô hình thể loại diễn ngôn của V. I. Tyupa và N. Tamarchenko để chia tách 3 mô hình tự sự: Tiểu thuyết – Truyền thuyết, Tiểu thuyết – Dụ ngôn, và Tiểu thuyết – Tiểu sử.
  3. Phân tích đối chiếu văn bản (Textual Analysis): Đo lường sự tương quan giữa dung lượng không gian lịch sử công cộng (triều chính, chiến trận) và không gian sinh hoạt thế sự - đời tư.
  4. Kiểm tra tính nhất quán (Internal Validity): Đảm bảo sự liên kết chặt chẽ giữa khái niệm công cụ, phương pháp luận tân tự sự học và kết quả phân tích văn bản cụ thể.

Data và phân tích

Dữ liệu khảo sát bao gồm 6 tiểu thuyết kinh điển với tổng quy mô 11 tập sách, đại diện cho hơn 40 năm vận động của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại:

                            BẢNG THỐNG KÊ DỮ LIỆU KHẢO SÁT CHÍNH

Quy trình thao tác hóa dữ liệu sử dụng phương pháp phân tích diễn ngôn chuyên sâu, bóc tách các lớp cấu trúc:

  • Lớp cốt truyện sự kiện (fabula): Theo dõi tiến trình lịch sử triều đại.
  • Lớp cấu trúc trần thuật (sujet): Khám phá cách thức người kể chuyện tái sắp xếp trật tự thời gian và điểm nhìn.
  • Lớp ý đồ ngữ nghĩa (performative intention): Làm sáng tỏ thông điệp triết học mà tác giả cài cắm sau bức màn sự kiện.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

Luận án mang lại 4 phát hiện khoa học mang tính đột phá về cấu trúc thể loại và chiến lược biên sử trong văn xuôi Việt Nam đương đại:

                  SƠ ĐỒ 3 MÔ HÌNH DIỄN NGÔN BIÊN SỬ TIÊU BIỂU
  1. Giải mã mô hình Tiểu thuyết – Truyền thuyết của Hoàng Quốc Hải: Khẳng định công thức "7 phần thực, 3 phần hư" của tác giả không thuần túy là sự phục dựng lịch sử cơ học mà là một chiến lược diễn ngôn tái thiết lập trật tự giá trị cộng đồng. Tác phẩm vận hành theo logic thể loại truyền thuyết, nơi các nhân vật lịch sử (Lý Công Uẩn, Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt) được xây dựng thành các vai - chức năng mang sứ mệnh bảo tồn nguyên khí quốc gia, củng cố ý thức hệ dân tộc trước các biến động thời đại.
  2. Khám phá mô hình Tiểu thuyết – Dụ ngôn của Nguyễn Xuân Khánh: Chỉ ra rằng bộ ba tác phẩm Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng ngànĐội gạo lên chùa sử dụng lịch sử như một tấm gương dụ ngôn về sự va chạm tư tưởng hệ. Thay vì phân định đúng sai theo lối chính sử, tác phẩm đặt các học thuyết (Nho giáo duy lý, Phật giáo từ bi, Đạo Mẫu bản địa, Kitô giáo phương Tây) trong thế tương tác, chuyển hóa Âm – Dương, định vị bản lĩnh sinh tồn của văn hóa Việt Nam.
  3. Định vị mô hình Tiểu thuyết – Tiểu sử của Nguyễn Mộng Giác: Chứng minh Sông Côn mùa lũ đã thực hiện một cuộc cách mạng về điểm nhìn trần thuật khi đặt lịch sử phong trào Tây Sơn song hành với số phận đời tư của những con người bình thường (Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ, Quang Trung dưới cái nhìn của gia đình, bè bạn). Lịch sử không còn là một dòng chảy định mệnh tất yếu mà là những khoảnh khắc lựa chọn đầy bi kịch của các chủ thể tự xác quyết.
  4. Hóa giải triệt để mâu thuẫn "Sử thực – Hư cấu": Khẳng định hư cấu nghệ thuật không đối lập với tính chân thật lịch sử, mà là phương thức tổ chức diễn ngôn nhằm tạo nghĩa. Luận án trích dẫn sâu sắc tư tưởng của Karl Popper trong Sự nghèo nàn của thuyết sử luận để cảnh báo bẫy ngụy biện thực chứng: "Và nếu thấy rằng quan điểm của mình là phong phú và có nhiều thực kiện có thể được sắp xếp theo thứ tự và diễn giải dưới ánh sáng quan điểm của mình, chúng ta sẽ nhầm lẫn quan điểm với một sự chứng thực."

Implications đa chiều

  • Về mặt lý thuyết: Luận án cung cấp một hệ thống công cụ phân tích tự sự học hoàn chỉnh cho giới nghiên cứu văn học Việt Nam, chứng minh khả năng ứng dụng hiệu quả của lý thuyết thể loại diễn ngôn Nga trong việc giải mã các hiện tượng văn xuôi phức hợp.
  • Về mặt phương pháp luận: Mở ra hướng tiếp cận liên ngành giữa văn học, sử học, ký hiệu học và xã hội học văn hóa, giúp phân tích tác phẩm vượt khỏi lối mòn bình giảng nội dung và xã hội học dung tục.
  • Về mặt thực tiễn sáng tác và phê bình: Cung cấp cho các nhà văn đương đại những mô hình cấu trúc tự sự đa dạng để tiếp cận đề tài lịch sử; đồng thời trang bị cho giới phê bình hệ tiêu chí khách quan để thẩm định tác phẩm nghệ thuật mà không quy chụp định kiến tư tưởng hệ.

Limitations và Future Research

Luận án thẳng thắn nhận diện một số giới hạn nghiên cứu xuất phát từ phạm vi đối tượng và khuôn khổ học thuật:

  • Giới hạn phạm vi tư liệu: Luận án tập trung sâu vào 3 tác giả nam tiêu biểu thuộc thế hệ chứng kiến những biến động lớn của thế kỷ XX, chưa mở rộng khảo sát các cây bút nữ đương đại viết về lịch sử (như Võ Thị Hảo với Giàn thiêu, Trần Thùy Mai với Từ Dụ thái hậu, Công chúa Đồng Xuân), nơi diễn ngôn giới và quyền lực nữ tính có thể tạo nên những cấu trúc tự sự khác biệt.
  • Tập trung vào đối tượng tham chiếu: Công trình ưu tiên giải mã bình diện cái tham chiếu (hệ chủ đề, điểm nhìn định giá, hình thức thể loại), chưa đi sâu khai thác trọn vẹn các yếu tố thuộc thẩm quyền người phát (mặt nạ tu từ, giọng điệu) và người nhận (chiến lược định vị độc giả).
                        ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU TƯƠNG LAI

Tác động và ảnh hưởng

Luận án của tác giả Lê Thị Gấm tạo ra những tác động học thuật và văn hóa sâu rộng:

  • Tác động học thuật (Academic Impact): Xác lập một cột mốc phương pháp luận mới trong nghiên cứu lý luận văn học tại Việt Nam. Công trình mở ra tiềm năng trích dẫn cao cho các nghiên cứu tiếp theo về tự sự học, thi pháp thể loại và văn xuôi Đổi mới.
  • Tác động giáo dục và đào tạo: Cung cấp tài liệu tham khảo chuẩn mực cho các chương trình đào tạo sau đại học chuyên ngành Lý luận văn học, Văn học Việt Nam và Văn hóa học tại các trường đại học khối khoa học xã hội và nhân văn trên toàn quốc.
  • Tác động văn hóa – xã hội: Đóng góp tiếng nói học thuật thẩm quyền nhằm định hướng dư luận xã hội, giúp công chúng tiếp nhận cởi mở hơn với các tác phẩm nghệ thuật hư cấu lịch sử, thúc đẩy quá trình dân chủ hóa đời sống học thuật và sáng tạo văn nghệ.

Đối tượng hưởng lợi

                           SƠ ĐỒ ĐỐI TƯỢNG HƯỞNG LỢI

Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì và đã mở rộng lý thuyết nào?

Đóng góp độc đáo nhất của luận án là việc vận dụng sáng tạo Lý thuyết mô hình thể loại diễn ngôn thuộc trường phái Tân tự sự học ứng dụng Nga (tiêu biểu là V. I. Tyupa và N. Tamarchenko) vào việc giải mã văn bản tiểu thuyết lịch sử Việt Nam. Luận án đã mở rộng lý thuyết này bằng cách tích hợp mô hình 4 loại hình nội dung lịch sử của Gennady Pospelov với lý thuyết Ký ức thể loại của Mikhail Bakhtin. Công trình chứng minh rằng các thể nguồn cổ xưa (truyền thuyết, dụ ngôn, tiểu sử) không biến mất mà tái sinh thành các chiến lược diễn ngôn cốt lõi, điều phối toàn bộ bức tranh thế giới và điểm nhìn giá trị của tiểu thuyết hiện đại.

2. Sự cách tân về phương pháp luận của luận án thể hiện như thế nào khi so sánh với các nghiên cứu trước đó?

So với các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam vốn chủ yếu dựa vào phản ánh luận Marxist cơ học (Nguyễn Văn Dân, 2012) hoặc tự sự học cấu trúc bề mặt (Nguyễn Văn Hùng, 2014), luận án của Lê Thị Gấm tạo ra bước đột phá về phương pháp luận:

  • Không đối chiếu cơ học sự kiện tác phẩm với chính sử để thẩm định tính chân thực.
  • Không dừng lại ở các mẹo thuật trần thuật (ngôi kể, điểm nhìn) thuần túy hình thức.
  • Triển khai phương pháp phân tích diễn ngôn tam thể (chủ thể phát ngôn – đối tượng tham chiếu – người tiếp nhận), đi sâu vào cấu trúc tạo nghĩa chiều sâu và giải mã thế giới quan của tác giả tiềm ẩn.

3. Phát hiện bất ngờ nhất từ dữ liệu nghiên cứu văn bản của luận án là gì?

Phát hiện bất ngờ nhất là việc tái định giá vị thế nghệ thuật của tiểu thuyết Hoàng Quốc Hải. Trong khi nhiều nhà phê bình (tiêu biểu như Nguyễn Thị Bình, 2010) đánh giá thấp tính cách tân của Hoàng Quốc Hải và xếp tác phẩm của ông vào loại "tiểu thuyết hóa lịch sử" mang tính giáo huấn minh họa, luận án chứng minh rằng cách viết của Hoàng Quốc Hải là một chiến lược diễn ngôn có chủ đích. Bằng việc vận hành theo mô hình Tiểu thuyết – Truyền thuyết, tác giả đã chủ động chọn điểm nhìn lập trường quốc gia ưu thắng và cấu trúc nhân vật theo hệ thống "vai - chức năng" nhằm đáp ứng nhu cầu củng cố ký ức lịch sử cộng đồng trong thời kỳ hội nhập.

4. Luận án có cung cấp quy trình phân tích văn bản có khả năng tái lập (replication protocol) không?

Có. Luận án thiết lập một quy trình phân tích văn bản 3 bước mang tính chuẩn mực cao và có thể áp dụng cho mọi tác phẩm tự sự lịch sử:

  1. Bước 1: Xác định Hệ chủ đề (Thematic Framing): Phân tích bức tranh thế giới để trả lời câu hỏi: Bản chất lịch sử được tác phẩm quan niệm là gì? (Hành trình quốc gia, va chạm tư tưởng, hay bi kịch hiện sinh).
  2. Bước 2: Giải mã Điểm nhìn định giá (Axiological Analysis): Xác định điểm tựa tư tưởng mà người trần thuật sử dụng để phóng chiếu giá trị: Lịch sử được kiến tạo và phán xét từ lập trường nào? (Lập trường cộng đồng, quy luật âm dương, hay ý thức cá nhân).
  3. Bước 3: Xác lập Mô hình thể loại (Genre Matrix): Khám phá mã thể nguồn hạt nhân điều phối cấu trúc tự sự: Tác phẩm tái sinh ký ức thể loại nào để tạo nghĩa? (Truyền thuyết, dụ ngôn, hay tiểu sử).

5. Chương trình nghiên cứu 10 năm tiếp theo được gợi mở từ luận án bao gồm những gì?

Chương trình nghiên cứu dài hạn được mở ra gồm 3 trọng tâm:

  • Mở rộng phân tích diễn ngôn biên sử sang các loại hình văn học cận đại và văn học mạng đương đại.
  • Xây dựng hệ thống lý thuyết về Diễn ngôn lịch sử hậu thực dânGiải trung tâm hóa trong văn học các quốc gia Đông Nam Á.
  • Phát triển khung thẩm định tác phẩm tự sự lịch sử phục vụ công tác giám định, xuất bản và giảng dạy văn học trong bối cảnh chuyển đổi số.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Thị Gấm khẳng định 5 đóng góp học thuật cốt lõi:

  1. Xác lập hệ hình tiếp cận mới: Chuyển dịch thành công nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ phản ánh luận đơn trị sang lý thuyết diễn ngôn và tân tự sự học ứng dụng Nga.
  2. Hệ thống hóa 3 mô hình diễn ngôn biên sử kinh điển: Nhận diện và giải mã trọn vẹn mô hình Tiểu thuyết – Truyền thuyết (Hoàng Quốc Hải), Tiểu thuyết – Dụ ngôn (Nguyễn Xuân Khánh), và Tiểu thuyết – Tiểu sử (Nguyễn Mộng Giác).
  3. Hóa giải triệt để nan đề "Sử thực – Hư cấu": Chứng minh tính chân thật nghệ thuật nằm ở cơ chế tạo nghĩa và chiến lược diễn ngôn, giải phóng quyền năng sáng tạo của nhà văn khỏi sự trói buộc của chủ nghĩa thực chứng.
  4. Làm sáng tỏ quy luật vận động thể loại: Chứng minh sự phát triển của văn xuôi lịch sử sau 1986 là quá trình phức hợp hóa thể loại, đi từ mô hình cộng đồng (truyền thuyết) qua mô hình triết luận (dụ ngôn) đến mô hình tự xác quyết cá nhân (tiểu sử).
  5. Mở ra những hướng nghiên cứu học thuật liên ngành: Kết nối hiệu quả giữa nghiên cứu văn bản học, ký hiệu học văn hóa và xã hội học tiếp nhận.

Công trình của Lê Thị Gấm không chỉ là một đóng góp mẫu mực cho chuyên ngành Lý luận văn học mà còn là cột mốc khoa học quan trọng, góp phần thúc đẩy tiến trình hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của nền học thuật nhân văn Việt Nam.