Chương 1 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CUU 1. Những nghiên cứu tiểu thuyết lich sử đưới ánh sáng lý thuyết phan ánh 1. Giới thuyết chung về lý thuyết phan ánh Trong phạm vi luận án, chúng tôi không đặt ra nhiệm vụ trình bày hệ thống, phân tích sâu các vấn dé của thuyết phản ánh. Tuy nhiên, dé thấu tỏ những vấn đề tồn tại trong các nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử ở Việt Nam hiện nay, đồng thời định rõ hướng phát triển của luận án, chúng tôi khái quát một số điểm quan trọng của phản ánh luận Marxist — lý thuyết ở vị trí trung tâm của bức tranh lý luận — phê bình văn học từ nửa sau thế kỷ XX đến nay.
Lý thuyết phản ánh Marxist ra đời dựa trên nền tảng triết học duy vật biện chứng. do Karl Marx đề xướng vào thế kỷ XIX. Có thể khái quát triết học K. Marx ở một số điểm cơ bản.
Thứ nhất, mọi vật trong vũ trụ đều mang hai thuộc tính: vật chất và phản ánh. Thuộc tính vật chất cho phép vật tồn tại khách quan, không lệ thuộc vào ý muốn của con người, trong khi đó thuộc tính phản ánh của vật lại cho phép con người nhận thức được đặc trưng tồn tại của chúng. Thứ hai, tồn tại người có hai phạm trù: ý thức và vật chất, trong đó vật chất giữ vai trò quyết định ý thức. Thứ ba, cấu trúc xã hội gồm hai phần: hạ tầng kinh tế và thượng tầng ý thức.
Thượng tầng ý thức bao gồm các lĩnh vực tư tưởng hệ như triết học, văn hoá, nghệ thuật, chính trị, tôn giáo.tồn tại phụ thuộc vào hạ tầng kinh tế (tổ chức, quan hệ sản xuất). Trên nền tảng triết học duy vật của K. Marx, mĩ học phản ánh luận coi văn học là hình thái ý thức, phản ánh hiện thực xã hội. Mĩ học phản ánh luận phát triển theo nhiều hướng.
Có sự khác nhau giữa lý thuyết phản ánh Marxist ở phương Tây và ở Liên Xô. Các nhà khoa học phương Tây như Gyorgy Lukács phát triển theo hướng hàn lâm, nghiên cứu các vấn đề bản thể luận văn hoá — xã hội, nghệ thuật, chú ý tính lịch sử và mối quan hệ chứng giữa các đối tượng. Đầu thế ky XX, Vladimir Ilyich Lenin bé sung, phát triển triết học K. Marx theo hướng ứng dụng thực tiễn, gắn liền đấu tranh giai cấp.
Theo đó, văn học với tư cách là hình thái ý thức xã hội trở thành một bộ phận trong đấu tranh giai cấp. 10 Lý thuyết phản ánh Marxist (truyền thống Xô Viết) nhập vào Việt Nam vào những thập niên đầu thế kỷ XX, trở thành dòng lý luận chủ lưu trong suốt nhiều thập kỷ sau đó. Thuyết phản ánh Marxist coi văn học là một hình thái ý thức xã hội thẩm mĩ với đặc trưng cố hữu là phản ánh hiện thực. Mọi vấn đề của văn học đều được quy về ba phương diện: bản thé luận, nhận thức luận và giá trị luận.
Dé trả lời vấn dé bản thé luận (tồn tại luận) văn học, nhà nghiên cứu đi tìm bức tranh thế giới là những hình ảnh cụ thể - cảm tính được mô tả trong tác phẩm. Để trả lời vấn đề nhận thức luận văn học, nhà nghiên cứu “phiên dịch” những hình ảnh cụ thé - cảm tính sang các tang ý nghĩa trừu tượng. Vì văn học là hình thái ý thức xã hội nên giá trị nhận thức của nó bao giờ cũng là giá trị tư tưởng hệ. Nội hàm tư tưởng hệ thu hẹp trong văn nghệ chỉ còn là ý nghĩa thế giới quan, lập trường giai cấp, tính đảng.
Các nhà lý luận theo thuyết phản ánh quan niệm ngôn ngữ như công cụ, vỏ của tư duy, đồng nhất ngôn ngữ với sự vật (tính cập vật). Đối với văn học, ngôn ngữ là chất liệu, công cụ để nhà văn sáng tạo. Phản ánh luận trao cho văn học sức mạnh to lớn: phản ánh hiện thực đời sống bừa bộn, phức tạp trong những hình tượng nghệ thuật điên hình. Hiện thực trong quan niệm của lý thuyết gia Marxist là thực tại đời sống, là bức tranh thế giới phân lập, đối kháng giữa hai đối cực thống trị và bị trị, sai lầm và đúng đắn.
Hiện thực là giá trị cốt lõi của tác phâm văn học, ngang hàng giá trị nhân đạo và cao hơn giá trị nghệ thuật. Vì vậy, khám phá giá trị hiện thực của tác phẩm chính là khám phá thế giới quan, lập trường giai cấp của nhà văn. Sau năm 1986, bức tranh lý luận văn học ở Việt Nam da dạng hon với sự góp mặt của các lý thuyết phương Tây hiện đại. Tuy vậy, thuyết phản ánh Marxist vẫn giữ vị trí trung tâm của bức tranh lý luận, được vận dụng phổ biến nhưng dần linh hoạt và mềm mại hơn.
Những nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử Việt Nam thời đổi mới Trong thời kì đổi mới, tiểu thuyết lịch sử là hiện tượng đặc biệt, góp phan mang lại sự sôi nôi cho đời sống văn học. Tiểu thuyết lịch sử là đối tượng khảo sát của nhiều bài nghiên cứu, luận văn, luận án, chuyên luận và giáo trình. Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy nhiều ý kiến tranh luận cũng như những công trình nghiên cứu quy mô tiếp cận, đánh giá thể loại này dưới ánh sáng phản ánh luận Marxist (chủ yếu theo truyền thống Xô Viết). Tiếp cận tác phẩm dưới ánh sáng lý thuyết phản ánh tat yếu đặt ra vấn 11 đề hiện thực, tức là đi vào giải quyết mối quan hệ giữa sử thực và hư cấu, phạm vi và quyền hạn sáng tạo của nhà văn.
Đứng trước truyền thống mĩ học đề cao giá trị hiện thực, đồng nhất hiện thực với cái nguyên thủy, các tác phẩm tự sự lịch sử ở Việt Nam không tránh khỏi cái nhìn đối chiếu văn - sử từ phía người đọc. Một số tác phẩm hư cấu lịch sử thổi bùng lên những cuộc tranh luận gay gắt. Đáng chú ý nhất là cuộc tranh luận cuối thập niên 80 về ba truyện lịch sử: Kiếm sắc, Vang lửa, Phẩm tiết của Nguyễn Huy Thiệp. Nội dung cuộc tranh luận chia thành hai luồng ý kiến.
Một số phản bác gay gắt sáng tạo của nhà văn, xem day là những truyện “chứa không ít sai lầm, lệch lạc” khi xây dựng những chỉ tiết hư cấu về anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ, hoán đổi vai trò lịch sử của Nguyễn Du, Nguyễn Ánh. Những người này cho rằng cách viết của Nguyễn Huy Thiệp “bôi nhọ” thần tượng, “bắn súng lục vào quá khứ”, xúc phạm tỉnh thần dân tộc. Theo hướng này là các bài viết: “Về mối quan hệ giữa sử và văn” của Tạ Ngọc Liễn, “Có một cách đọc “Vàng lửa” của Đỗ Văn Khang, “Viết như thế cũng là một cách bắn súng lục vào lịch sử” của Nguyễn Thúy Ái, các ý kiến bình luận của Vũ Phan Nguyên, Mai Ngữ, Bùi Hiển, Hồ Phuong, Ngọc Oanh,. Một số khác ếp cận truyện lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp trên những phương diện khác trực tiếp hoặc gián tiếp tranh luận, bảo vệ, ca ngợi những sáng tạo độc đáo của nhà văn góp phần nâng tư duy nghệ thuật và tư duy lịch sử của Việt Nam lên tầm cao mới: thoát khỏi tư duy sử thi, chuyển sang tư duy thế sự, chú ý đến đời sống và ý thức con người cá nhân.
Theo quan điểm này là các bài viết: “Đọc văn phải khác với đọc sử” của Lại Nguyên Ân, “Một cách hiểu truyện ngắn “Vàng lửa” của Thùy Sương, “Bàn về truyện ngắn “Vàng lửa” của Nguyễn Huy Thiệp” của Ngô Văn Giá, “Vang lửa” của Nguyễn Huy Thiệp “triết học lịch sử” hay là “văn xuôi nghệ thuật”? của Trương Hồng Quang - Nguyễn Xuân Mai, “Về một lối cảm thụ và phê bình “bắt vít”? của Nguyễn Hữu Sơn và Trịnh Bá Dinh, và các ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu khác như Hoàng Ngọc Hiến, Vương Anh Tuấn, Nguyễn Dang Mạnh, Dang Anh Dao,. Những bài viết tranh luận trong giai đoạn này được Pham Xuân Nguyên tổng hợp trong cuốn Di tim Nguyễn Huy Thiệp, do Nhà xuất bản Van hoá Thông tin ấn hành, năm 2001. Sau “cơn bão” tranh luận, truyện lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp được đón nhận, truyền cảm hứng sáng tạo cho nhiều nhà văn. Tuy nhiên, các vấn đề về mức độ, phạm vi hư cấu, quyền hạn của nhà văn khi việt về đề tài 12 lịch sử vẫn chưa có được quan điểm thống.
Người đọc cũng chưa hoàn toàn cởi mở trong tiếp nhận thể loại này. Năm 2010, tiểu thuyết Hội thé của nhà văn Nguyễn Quang Thân đạt giải của Hội Nhà văn Việt Nam. Vấn đề hư cấu lịch sử và quyền hạn tác giả trong sáng tạo nghệ thuật một lần nữa trở thành tiêu điểm tranh luận. Hội thé lấy bối cảnh là giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống quân Minh của nghĩa quân Lam Sơn: đại quân của Lê Lợi đóng ở trại Bồ Đề, chuẩn bị tấn công thành Đông Quan, cứ điểm cuối cùng của quân viễn chỉnh do Tổng binh Vương Thông cầm đầu.
Cuốn tiểu thuyết dựng lên hai cuộc chiến: một giữa nghĩa quân với quân viễn chỉnh và một ngay trong lòng tướng sĩ Lam Sơn giữa bên chủ hòa (Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Pham Văn Xảo,.) và bên chủ chiến (Phạm Vấn, Lê Sát,. Nguyễn Trai — nhân vat trung tâm — được khắc họa trong hình tượng quân sư mưu lược, đóng góp công đầu cho thắng lợi của nghĩa quân Lê Lợi nhưng lại luôn bị các tướng sĩ xúc xiểm, cô lập. Đối lập với tỉnh thần cao thượng, không vụ lợi của phe chủ hòa là lòng hiếu chiến, đố ky, hiềm khích của võ tướng Lam Sơn. Còn Lê Lợi, ông hiện diện trong vai một thủ lĩnh nhiều toan tính cá nhân, lợi dụng người trí thức và dũng sĩ.
Ủng hộ, ca ngợi tài năng sáng tạo của tác giả, nhà phê bình Lê Thành Nghị, trong bài “Hội thê lịch sử và tiểu thuyết", cho rằng nhà văn có quyền sáng tạo tác phẩm nghệ thuật để lấp đầy “những trang trắng của lịch sử”. Nguyễn Quang Thân đã dùng tiểu thuyết của mình lấp đầy những trang trắng lịch sử về quá trình xây dựng ý tưởng dụ hàng tướng nhà Minh và cái giá phải trả để đi đến kết thúc chiến tranh êm đềm chưa từng có trong lịch sử chống quân xâm lược, duy trì nền hòa bình kéo dài ba trăm năm mươi năm sau đó cho Đại Việt. Ông cũng nhân mạnh đến tư duy tiểu thuyết hiện đại của #ội thé: nhìn lịch sử như những khả năng, mượn quá khứ nói hiện tại (bi kịch của người trí thức thời bình).